Ai Cập, tên chính thức ngày nay là Cộng hòa Ả Rập Ai Cập, là một quốc gia thuộc Bắc Phi, Trung Đông và Tây Nam Á, nổi tiếng với dòng sông Nile, những kim tự tháp hùng vĩ cùng bí ẩn về nền văn minh cổ đại thu hút khách du lịch và giới khoa học.

Nền văn minh Ai Cập cổ đại hay còn được biết tới là nền văn minh sông Nile được xem là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Địa lý chính là một trong những điều kiện thuận lợi góp phần hình thành nên nền văn minh sớm nhất thế giới.

Sông Nile dài hơn 6 ngàn km, có 7 nhánh đổ ra Địa Trung Hải, là một trong những con sông dài nhất thế giới. Hạ lưu sông có hình dáng tam giác, dài 700 km với hai bên lưu vực sông có đất đai phì nhiêu, màu mỡ nhờ lượng phù sa lớn bồi đắp, thuận tiện cho các loại cây trồng phát triển. Nơi đây cũng sở hữu quần thể động vật đa dạng. Nhờ đó, cư dân sống ở hai bờ sông Nile không chỉ an cư lạc nghiệp mà còn phát triển thông thương. Thiên nhiên đã ưu ái ban cho nơi này điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển nền văn minh sớm nhất thế giới.

Sông Nile, Ai Cập ngày nay trở thành một trong những điểm du lịch hút khách 

Theo Wikipedia, năm 3150 TCN (trình tự thời gian của bảng niên đại Ai Cập), nền văn minh Ai Cập được thống nhất dưới thời pharaoh Narmer, thường được gọi là Menes. Đây cũng là vị vua đầu tiên của đế chế Ai Cập cổ.

Trải qua nhiều đời pharaon với những biến động lịch sử, nền văn minh Ai Cập cổ đã tạo ra được vô số thành tựu, từ tín ngưỡng – tôn giáo, văn hóa cho đến xây dựng, tiêu biểu là kim tự tháp – một trong 7 kỳ quan thế giới cổ còn sót lại tới ngày nay.

1. Kiến trúc

Không thể không kể đến các công trình kiến trúc vĩ đại như Kim tự tháp, Tượng nhân sư khi nhắc tới nền văn minh Ai Cập cổ đại. Cho đến nay, những công trình này vẫn đứng sừng sững như tượng đài bất tử, khẳng định sự tồn tại của một nền văn minh thịnh vượng cổ xưa. Những bí ẩn xoay quanh chúng vẫn là đề tài thu hút các nhà khảo cổ, và là điểm đến lý tưởng với những người yêu thích du lịch khám phá.

Theo các học giả, đặc trưng của kiến trúc Ai Cập cổ đại là sự khan hiếm gỗ. Nguyên vật liệu chính mà người Ai Cập cổ dùng để xây dựng là gạch và đá. Quan niệm, tín ngưỡng mà người Ai Cập cổ đại gửi gắm trong những công trình xây dựng này đến nay vẫn khiến các nhà khoa học phải đau đầu.


Kim tự tháp – một trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại còn sót lại tới tận ngày nay (Ảnh: Internet)

Kim tự tháp, hay chính là mộ của các Pharaoh và hoàng hậu bắt đầu được xây dựng từ thời vua đầu tiên của vương triều III, là các công trình có hình chóp được làm bằng đá. Tính đến năm 2008, có tất cả 138 kim tự tháp được khám phá ở Ai Cập (theo Wikipedia). Bên trong mỗi kim tự tháp đều ẩn chứa nhiều bí ẩn vừa khiến con người tò mò, lại vừa khiến họ sợ hãi.

Nhiều hình vẽ khắc họa được tìm thấy bên trong các kim tự tháp cũng cho ta thấy nghệ thuật phong phú của nền văn minh cổ xưa nhất trong lịch sử loài người, với đề tài phong phú: cảnh sinh hoạt ngày thường; thế giới khi con người đi vào cõi vĩnh hằng.

2. Chữ viết

Năm 1894, một nhóm khảo cổ học đã tìm thấy những ký hiệu tượng hình được khắc trên các bức tranh trong các di tích tìm thấy khi tiến hành khai quật "thành phố diều hâu" Nekhen, một trong những đền thờ cổ nhất ở Ai Cập.


Ký tự cổ Ai Cập được khắc trên đá (Ảnh: Wikipedia)

Theo các nhà khoa học, chữ viết Ai Cập cổ ra đời từ khi xã hội hình thành giai cấp. Chữ tượng hình là cơ bản và thông dụng nhất tại nền văn minh này, còn đối với các khái niệm phức tạp hơn, người Ai Cập cổ dùng phương pháp mượn ý. Tuy nhiên, chữ tượng hình và mượn ý vẫn chưa đủ để giao tiếp, vậy nên họ tạo ra những hình vẽ biểu hiện âm tiết, rồi từ đó trở thành chữ cái và được sử dụng suốt hơn 3000 năm. Trong nền Ai Cập cổ đại có khoảng 1000 chữ tượng hình, trong đó có 24 chữ cái.

Loại chữ cổ này được khắc trên đá, gỗ, đồ gốm, viết trên vải gai, da và giấy papyrus – loại giấp thông dụng nhất của người Ai Cập cổ. Mực được làm từ quả bồ hóng và bút được chế tác từ thân cây sậy.

Vào cuối thế kỷ 20, các nhà khoa học đã truy ra mẫu tự Phoenix được biến tấu từ văn tự Ai Cập cổ. Các dân tộc Do Thái, Ả Rập, Hy Lạp và La tinh đã dựa theo mẫu tự này để tạo nên chữ viết của riêng mình. Có thể nói, ngôn ngữ của chúng ta dùng ngày nay đều thừa hưởng di sản từ chữ viết Ai Cập cổ.

3. Thiên văn học

Theo nhiều nhà khoa học, 12 cung hoàng đạo mà chúng ta biết đến ngày nay đã được người Ai Cập cổ đại khám phá từ hàng ngàn năm trước. Ở thời kỳ đó, thiên văn học phát triển nhiều hơn chúng ta tưởng. Họ không chỉ biết tới các chòm sao, mà còn phát minh ra công cụ đo lường thời gian từ việc xác định bóng mặt trời. Tuy nhiên, dụng cụ này chỉ xem được khi có ánh mặt trời. Về sau, họ đã phát minh ra đồng hồ nước có thể tính giờ cả ngày lẫn đêm. Ở nền văn minh cổ ấy, người Ai Cập cũng đưa ra cách tính 1 năm bằng 365 ngày, ứng với 12 tháng, mỗi tháng chỉ có 30 ngày nhờ vào quy luật dâng nước của sông Nile.


Người Ai Cập cổ đại đã khám phá ra sự tồn tại của 12 chòm sao, chính là 12 cung hoàng đạo trong chiêm tinh ngày nay

Một trong những câu hỏi lớn thách thức khoa học là liệu có phải người Ai Cập cổ đã trông thấy hoặc tiếp xúc với người ngoài hành tinh hay không; bởi trong một số bức tranh tường được khám phá trong lăng mộ của các Pharaoh, họ đã khắc những hình ảnh khó hiểu, trông giống người ngoài hành tinh. Nhiều giả thiết cho rằng những bức tranh ấy mô tả cuộc sống ở nơi ngoài Trái Đất. Tuy nhiên, có ý kiến phản bác lại giả thiết đó, họ cho rằng nếu nghĩ như vậy là đã xúc phạm tới các di sản của người Ai cập cổ đại.

 

4. Thuật ướp xác

Thuật ướp xác của người Ai cập cổ đại ra đời từ năm 2700 TCN và kéo dài tới tận thế kỷ thứ 5. Đây được xem là một trong những tục lệ mai táng phức tạp nhất trong lịch sử nhân loại. Người Ai Cập cổ tin vào sự vĩnh hằng, và ướp xác là một trong những cách để người đã khuất có thể tiến vào thế giới bên kia, nơi Chúa trờ che chở họ.

Nhờ y học phát triển mà họ đã tìm tòi ra được phương pháp ướp xác có thể nói là hoàn hảo nhất. Nguyên tắc của việc ướp xác là dựa trên việc làm mất nước của cơ thể, lấy đi các bộ phận dễ bị phân hủy như nội tạng và bộ não. Sau đó, thi thể được bảo quản trong natron khô (một loại muối nhằm làm khô thi hài) khoảng 70 ngày. Bước cuối là nhồi hương thảo vào phần rỗng của nội tạng, xoa dầu thơm và quấn vải một cách cẩn thận lên thi thể. Xác ướp được chôn cất cùng với những món đồ mà người Ai Cập tin rằng người đã khuất sẽ sử dụng khi sang thế giới khác.


Ướp xác, một phong tục mai táng phức tạp của người Ai Cập cổ (Ảnh: Wikipedia)

Bộ phận duy nhất không bị lấy ra khỏi cơ thể người chết là trái tim; vì người Ai Cập cổ cho rằng trái tim là hiện thân của trí tuệ, người chết sẽ cần nó khi sang thế giới bên kia.


 

5. Tín ngưỡng

Ngay từ thủa sơ khai, người Ai Cập cổ đại đã tin vào các vị thần và thế giới bên kia. Họ xây các đền thờ chịu sự quản lý của các vị tư tế đại diện cho vua, nơi những vị thần trú ngụ để bảo vệ và che chở cho họ. Thông thường, lãnh địa của các vị thần được xây dựng cách biệt với thế giới bên ngoài và chỉ có quan chức của ngôi đền mới được phép ra vào thường xuyên. Chỉ đến các ngày lễ thì tượng thần mới được đem ra thờ phụng công khai cho người dân tới thờ. Ngoài ra, mọi người có thể thờ riêng các bức tượng thần trong nhà họ và đeo bùa để chống lại các thế lực xấu.

 

Mèo là con vật linh thiêng trong nền văn minh cổ xưa này. Người Ai Cập cổ đại rất yêu động vật, nhưng đặc biệt thờ phụng mèo, ướp xác chúng sau khi chúng qua đời và thờ mèo như một vị thần. Hầu hết các gia đình thời Ai Cập cổ đều nuôi mèo và tin rằng mèo mang lại may mắn cho họ.

 

Trong tín ngưỡng của nền văn minh cổ này, đôi mắt của loài mèo là ánh sáng soi lối cho họ trong đêm tối. Nếu xảy ra hỏa hoạn trong nhà, mèo sẽ được ưu tiên cứu trước. Và với những ai vô tình hay cố ý làm chết mèo, người đó sẽ phải đối mặt với hình phạt đáng sợ của đám đông: bị ném xuống một hố đầy rắn độc. Người Ai Cập cổ ướp xác mèo sau khi chúng qua đời .

 


và thờ chúng như một vị thần. (Ảnh: Internet)

Với những gia đình không có điều kiện ướp xác mèo, họ sẽ để tang mèo bằng cách cạo lông mày của mình. Năm 1888, người ta đã phát hiện hàng chục ngàn xác ướp mèo trong một ngôi mộ lớn. Khám phá này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với lĩnh vực khảo cổ.

Lịch sử Ai Cập

Lịch sử Ai Cập  là lịch sử của một lãnh thổ thống nhất lâu đời nhất trên thế giới. Vùng Thung lũng sông Nin tạo một khối địa lý thiên nhiên và kinh tế, bao bọc bởi sa mạc hai bên đông tây, phía bắc giáp biển, và phía nam là các hố nước sông Nin. Vấn đề quản lý nguồn nước sông Nin đưa đến thành lập chính quyền khu vực này từ khoảng năm 5000 TCN.

Vì địa thế của Ai Cập gây khó khăn cho những nước khác đến chiếm đóng, xứ này giữ độc lập tự chủ trong nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, từ khi con người tổ chức được những đoàn quân lớn vượt sa mạc, và những hạm đội lớn băng qua biển, thì Ai Cập liên tiếp bị nhiều đế quốc vào đô hộ, đưa đến sự mất đi chữ viết, ngôn ngữ và bản sắc dân tộc.


Trong quá trình 7000 năm lịch sử, Ai Cập đã có những thời huy hoàng của người bản xứ cai trị trước năm 1000 TCN.

Nhưng Ai Cập cũng bị người nước ngoài vào đô hộ hơn 2400 năm. Được biết đến thời xa xưa nhất là "người phương Đông" vào khoảng 3300 TCN. Kế đến là Triều đại người Hyksos vào khoảng năm 1700 – 1580 TCN. Khoảng 600 năm sau có người Libya phía tây sang lập một Triều đại. Năm 730 TCN Ai Cập rơi vào sự lệ thuộc người Nubia phía nam.

Năm 672 TCN Ai Cập bị một thế lực từ phương xa là đế quốc Assyria ở Syria sang chiếm một thời gian ngắn. Giai đoạn 525 – 332 TCN Ai Cập là tỉnh của đế quốc Ba Tư, với một khoảng 61 năm độc lập 404 – 343 TCN. Ai Cập tiếp tục bị các đế quốc từ xa là Macedonia và La Mã đến cai trị trước khi bị đế quốc Ả Rập láng giềng sang chiếm.

Từ cuối thế kỷ 9 trở đi, Ai Cập lại có được những chính quyền tự chủ, đóng đô trên đất Ai Cập, mặc dù những vị vua là người Thổ Nhĩ Kỳ (nhà Tulunid và nhà Mamluk giai đoạn đầu), người Nubia ở Sudan (một vị vua nhà Ikhshidid), người Ả Rập (nhà Fatima), người Kurd (nhà Ayyub) và người Circassian (nhà Mamluk giai đoạn sau).

Năm 1517, Ai Cập bị trở thành tỉnh của Đế quốc Ottoman người Thổ Nhĩ Kỳ, rồi trở thành nước của nhà Muhammad Ali người Albania (1805 – 1953). Ai Cập cũng chịu ảnh hưởng của Đế quốc Pháp và Đế quốc Anh.

Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser (1954 – 1970) có thể đúng phần nào khi ông cho rằng ông là người Ai Cập chính gốc đầu tiên giữ chức lãnh đạo Ai Cập tự trị từ khi pharaon Nectanebo II bị quân Ba Tư lật đổ năm 343 TCN.

Ít có lịch sử nước nào sánh được với lịch sử Ai Cập về mức độ được quan tâm. Một người, dù thuộc chủng tộc nào, văn hóa nào cũng không khỏi bị lôi cuốn bởi những kim tự tháp bên trong có bảo vật, mê hồn trận và những hàng chữ tượng hình, tuy đã được giải mã, nhưng vẫn còn đượm nhiều huyền bí. Ai Cập thời cổ còn được biết như Đất nước của các pharaon.

Ai Cập cũng là cái nôi của một nền văn minh rất cổ xưa, thầy của nền văn minh Hy Lạp, căn bản của văn minh các cường quốc Âu Mỹ ngày nay. Dưới thời nhà Ptolemaios (323 – 30 TCN), viện văn hóa Museion của Alexandria và thư viện Alexandria cũng là tụ điểm tinh hoa của nền văn minh Hy Lạp.

Đối với hơn 3 tỷ tín đồ của hai tôn giáo lớn nhất thế giới ngày nay là Kitô giáo và Hồi giáo, Ai Cập là đất của kinh điển, nơi các thánh Abraham, Jacob, Joseph và Moses đã từng trải qua một quãng đời, và được ban nhiều điều mầu nhiệm ghi trong Kinh Thánh và Kinh Koran.

Sự thất truyền trên nhiều phương diện của văn minh cổ Ai Cập gợi cho người ta lòng hiếu kỳ háo hức muốn tìm lại một dĩ vãng huy hoàng của một thời đã mất, của một dân tộc cổ coi như không còn nữa.

Sau khi bị người Ả Rập vào chiếm và truyền bá đạo Hồi, Ai Cập dần dần trở thành một nước nói tiếng Ả Rập, với quốc giáo là đạo Hồi. Nhưng Ai Cập không giữ một vai trò thứ yếu đối với Hồi giáo hay chủng tộc Ả Rập. Viện đại học Al-Azhar ở thủ đô Cairo được ví như là tòa thánh Vatican của thế giới Hồi giáo. Cơ quan điều hành và gìn giữ ngôn ngữ Ả Rập cho 19 quốc gia nói tiếng Ả Rập nằm ở Ai Cập. Đây là những điểm khiến tín đồ Hồi giáo hay người nói tiếng Ả Rập cũng muốn biết thêm về lịch sử Ai Cập.

Ai Cập giữ một vai trò hàng đầu trong các cuộc Thập Tự Chinh giành thánh địa Jerusalem giữa các nước Kitô giáo ở châu Âu và các nước Hồi giáo ở Trung Đông. Ai Cập là đất dựng nghiệp của người anh hùng Saladin Khôn Ngoan nhân đạo và mã thượng, người đã giành lại được Jerusalem cho khối Hồi giáo, và quan trọng hơn, đã mở cổng cho con đường hoà bình giữa Âu Châu và Trung Đông.

Ai Cập cũng là tiền đồn bảo vệ châu Âu, châu Phi và bán đảo Ả Rập khỏi những cuộc tàn sát và tàn phá của đế quốc Mông Cổ. Khi quân Mông Cổ tiến công năm 1260, vài thế lực Kitô giáo đã ngưng Thập Tự Chinh để hợp tác với quân Hồi giáo của Ai Cập, đưa đến chiến thắng Ain Jalut, chiến thắng đầu tiên mà Âu Châu và Trung Đông biết được đối với quân Mông Cổ từ 40 năm. Sự vững mạnh của nhà Mamluk ở Ai Cập cũng khiến cho nhiều đợt tấn công của Mông Cổ trong vài mươi năm kế tiếp bị chận đứng.

Lịch sử Ai Cập cũng liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của nhiều danh nhân như Alexandros Đại Đế, Julius Caesar hay Napoléon Bonaparte. Cuộc đời của nhiều danh nhân Ai Cập như Thutmosis III, Ramesses II hay Cleopatra cũng đã được tiểu thuyết hóa hoặc quay thành phim để giới thiệu đến đại chúng khắp nơi.

Những giai đoạn lớn
Thời kỳ cổ đại (khoảng 3100 TCN – 525 TCN)
Với những trang sử bắt đầu từ khoảng năm 5000 TCN (hoặc 3000 TCN nếu không tính các nước và các vua trước thời pharaon Menes) và kết thúc năm 332 TCN hoặc 30 TCN, thời Ai Cập cổ đại vẫn dài hơn tất cả các thời đại khác của lịch sử Ai Cập cộng lại, và có nhiều Vương triều hơn tất cả các thời đại khác.

Đây cũng là thời đại duy nhất mà người Ai Cập nguyên thủy cai trị được toàn lãnh thổ Ai Cập.

Thời kỳ thuộc Ba Tư (525 TCN – 404 TCN) (343 TCN – 332 TCN)
Năm 525 TCN, Ai Cập trở thành một vùng lãnh thổ thuộc đế quốc Ba Tư cổ đại. Các Shahanshah Ba Tư (tức Vua của các vua) trị vì trong thời này cũng dùng hiệu pharaon tại Ai Cập. Người Ai Cập khôi phục được độc lập trong 61 năm (404 TCN – 343 TCN), trước khi bị Ba Tư đô hộ lần thứ hai (343 TCN – 332 TCN).

Thời kỳ thuộc Hy Lạp (332 TCN – 30 TCN)
Với cuộc chinh phục của Alexandros Đại Đế vua xứ Macedonia, và sự kế nghiệp của nhà Ptolemaios do một cận tướng của Đại Đế là Ptolemaios I Soter lập ra, Ai Cập trở thành một thành viên của đại gia đình các quốc gia nói tiếng Hy Lạp. Thủ đô Alexandria của Ai Cập cũng trở thành trung tâm lớn nhất và rực rỡ nhất của văn minh Hy Lạp. Các vua tộc Hy Lạp thời này cũng dùng hiệu Pharaon đối với người Ai Cập.

Thời kỳ thuộc La Mã (30 TCN – 642)
Ai Cập trở thành tỉnh của La Mã năm 30 TCN và người Ai Cập không được coi là công dân La Mã trong hơn hai thế kỷ. Đây là thời kỳ mà dân tộc cổ Ai Cập mất đi bản sắc, và là thời kỳ tôn giáo cổ Ai Cập biến mất, nhường chỗ cho Kitô giáo thành tôn giáo chính.

Cuối thời kỳ thuộc La Mã, có một thời gian ngắn Ai Cập bị lệ thuộc Ba Tư lần thứ ba (621 – 629).

Thời kỳ thuộc Ả Rập (642 – 935)
Trong cuộc chiến tranh giữa quốc gia Hồi giáo của người Ả Rập và đế quốc Đông La Mã, đất Ai Cập đổi sang quyền kiểm soát của người Ả Rập. Thời này cư dân Ai Cập phần lớn bị đồng hóa thành người Ả Rập. Kitô giáo dần dần trở thành tôn giáo thứ hai, sau đạo Hồi tôn giáo của giới cai trị.

Với thời gian, quốc gia Hồi giáo biến chất thành đế quốc Ả Rập, và khi đế quốc Ả Rập suy yếu thì Ai Cập lại có những Triều đại địa phương cai trị.

Nhà Tulunid (868 – 905)
Triều đại địa phương đầu tiên là nhà Tulunid của những tổng đốc người Thổ Nhĩ Kỳ. Triều đại này đã đạt được những nền móng kinh tế và quân sự vững chắc cho một nước Ai Cập tự chủ.

Nhà Ikhshidid (935 – 969)
Sau nhà Tulunid, Ai Cập lại trực thuộc đế quốc Ả Rập thêm 30 năm (905 – 935). Khi đế quốc này suy yếu lần nữa thì Ai Cập thực thụ bước sang thời kỳ tự chủ với nhà Ikhshidid.

Nhà Fatima (969 – 1171)
Nhà Fatima đã bắt đầu tại Tunisia từ năm 910, nhưng khi họ chiếm được Ai Cập năm 969 thì họ lập tức cho xây thành phố Cairo ở Ai Cập và dời đô về đấy. Do đó, đối với Ai Cập thì nhà Fatima bắt đầu vào năm 969.

Nhà Ayyub (1171 – 1250)
Nhà Ayyubid khởi nghiệp tại Ai Cập, nhưng dựa trên lực lượng đến từ Syria. Có nhiều lúc họ cai trị từ Syria.

Nhà Mamluk (1250 – 1517)
Nhà Mamluk là một Triều đại của những người nô lệ trở thành tướng và nối nhau lên ngôi sultan trị nước. Đây là một hiện tượng đặc biệt có lẽ chỉ có trong lịch sử Ai Cập và lịch sử Ấn Độ.

Nhà Mamluk nhiều khi được coi là hai Triều đại: nhà Bahri (1250 – 1390) với các lãnh tụ người Thổ Nhĩ Kỳ và nhà Burji (1390 – 1517) người Circassian.

Thời kỳ thuộc Thổ Nhĩ Kỳ (1517 – 1805)
Năm 1517, Ai Cập bị sáp nhập vào đế quốc Ottoman. Các nô tướng Mamluk và con cháu nhà Burji vẫn được người Ottoman trọng dụng trong chính quyền.

Vào cuối giai đoạn này, Ai Cập bị quân Pháp của Napoléon Bonaparte vào chiếm 3 năm (1798 – 1801).

Nhà Muhammad Ali (1805 – 1953)
Năm 1805, sultan nhà Ottoman phong cho tướng Muhammad Ali làm tổng đốc Ai Cập. Từ đó, Ai Cập trở thành một giang sơn tự trị của nhà Muhammad Ali. Ngoài mặt, Ai Cập vẫn là tỉnh hay nước chư hầu của đế quốc Ottoman cho đến năm 1914.

Ai Cập cũng bị đế quốc Anh chiếm đóng từ năm 1882, và lập cuộc Bảo Hộ trong khoảng (1914 – 1922). Người Anh chỉ hoàn toàn rút khỏi Ai Cập năm 1956, sau khi nhà Muhammad Ali đã bị truất phế.

Mặc dù không lúc nào có được trọn chủ quyền cai trị Ai Cập trên cả danh nghĩa lẫn thực tế, nhà Muhammad Ali đã có công lớn canh tân đất nước, khiến Ai Cập trở thành một nước hiện đại bậc nhất thế giới bên ngoài châu Âu và Bắc Mỹ.

Song song với cuộc canh tân, khoa khảo cổ học Ai Cập, chủ yếu do người Âu đẩy mạnh, cũng đạt được nhiều thành quả vang dội, đáng kể nhất là chữ viết cổ Ai Cập được giải mã và đọc được trở lại.

Các Thủ tướng Ai Cập thời nhà Muhammad Ali (1878 – 1953):

Nubar Pasha: 1878 – 1879 (Đảng Độc lập)
Isma'il Pasha: 1879
Muhammad Tawfiq Pasha: 1879
Muhammad Sharif Pasha: 1879
Muhammad Tawfiq Pasha: 1879
Riyad Pasha: 1879 – 1881
Muhammad Sharif Pasha: 1881 – 1882
Mahmoud Sami el-Baroudi: 1882
Isma'il Raghib Pasha: 1882
Ahmed Arabi: 1882, thủ lĩnh quân khởi nghĩa
Muhammad Sharif Pasha: 1882 – 1884
Nubar Pasha: 1884 – 1888
Riyad Pasha: 1888 – 1891
Mustafa Pasha Fahmi: 1891 – 1893
Hussein Fahri Pasha: 1893
Riyad Pasha: 1893 – 1894
Nubar Pasha: 1894 – 1895
Mustafa Pasha Fahmi: 1895 – 1908
Boutros Ghali: 1908 – 1910
Muhammad Said Pasha: 1910 – 1914
Hussein Rushdi Pasha: 1914 – 1919
Muhammad Said Pasha: 1919
Youssef Wahba Pasha: 1919 – 1920
Muhammad Tawfiq Nasim Pasha: 1920 – 1921
Adli Yakan Pasha: 1921 – 1922 (Đảng Tự do Hiến pháp)
Abdel Khaliq Sarwat Pasha: 1922 – 1923 (Đảng Tự do Hiến pháp)
Muhammad Tawfiq Nasim Pasha: 1922 – 1923
Yahya Ibrahim Pasha: 1923 – 1924
Saad Zaghlul: 1924 (Đảng Wafd)
Ahmad Ziwar Pasha: 1924 – 1926 (Đảng Liên bang)
Adli Yakan Pasha: 1926 – 1927 (Đảng Tự do Hiến pháp)
Abdel Khaliq Sarwat Pasha: 1927 – 1928
Mustafa el-Nahhas Pasha: 1928 (Đảng Wafd)
Muhammad Mahmoud Pasha: 1928 – 1929 (Đảng Tự do Hiến pháp)
Adli Yakan Pasha: 1929 – 1930
Mustafa el-Nahhas Pasha: 1930 (Đảng Wafd)
Isma'il Sidqi Pasha: 1930 – 1933 (Đảng Nhân dân)
Abdel Fattah Yahya Pasha: 1933 – 1934 (Đảng Liên minh)
Muhammad Tawfiq Nasim Pasha: 1934 – 1936
Ali Pasha Mahir: 1936
Mustafa el-Nahhas: 1936 – 1937 (Đảng Wafd)
Muhammad Mahmoud Pasha: 1937 – 1939
Ali Pasha Mahir: 1939 – 1940 (Đảng Liên minh)
Hassan Sabry Pasha: 1940 (Đảng Độc lập)
Hussein Sirri Pasha: 1940 – 1942
Mustafa el-Nahhas: 1942 – 1944 (Đảng Wafd)
Ahmad Mahir Pasha: 1944 – 1945 (Đảng Saad)
Mahmoud an-Nukrashi Pasha: 1945 – 1946
Isma'il Sidqi Pasha: 1946 – 1947 (Đảng Nhân dân)
Mahmoud an-Nukrashi Pasha: 1947 – 1948 (Đảng Saad)
Ibrahim Abdel Hadi Pasha: 1948 – 1949
Hussein Sirri Pasha: 1949 – 1950 (Đảng Độc lập)
Mustafa el-Nahhas Pasha: 1950 – 1952
Ali Pasha Mahir: 1952 (Đảng Liên minh, 2 tháng)
Ahmad Najib al-Hilali Pasha: 1952 (Đảng Độc lập, 4 tháng)
Hussein Sirri Pasha: 1952 (20 ngày)
Ahmad Najib al-Hilali Pasha: 1952 (1 ngày)
Ali Pasha Mahir: 1952 (2 tháng)
Muhammad Naguib: 1952 – 1953
Các Toàn quyền Anh ở thời kỳ Ai Cập thuộc Anh (1883 – 1952):

William Hicks: 1883 – 1884
Henry Watts Russell de Coetlogon: 1884
Charles George Gordon: 1884 – 1885 (Chết trong trận Khartum với quân của Mahdi)
Muhammad Ahmed (Mahdi): 1885; thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Mahdi ở Ai Cập – Sudan
Abdullabi: 1885 – 1898
Herbert Kitchener: 1898 – 1899
Francis Reginald Wingate: 1899 – 1916
Oliver Lee Fitzmaurice Stack: 1917 – 1924
Wasey Sterry: 1924 – 1925
Geoffrey Francis Archer: 1925 – 1926
John Loader Maffey: 1926 – 1934
George Stewart Symes: 1934 – 1940
Hubert Jervoise Huddleston: 1940 – 1947
Robert George Howe: 1947 – 1952
Thời cận đại và hiện đại (1953 – nay)
Bài chi tiết: Ai Cập hiện đại
Ảnh hưởng phong trào dân chủ từ châu Âu, người Ai Cập lập các đảng phái chính trị, đưa đến một cuộc đảo chính do quân đội thực hiện năm 1952 và sự khai sinh nước Cộng hòa Ả Rập Ai Cập năm 1953.

Ai Cập giữ một vai trò quan trọng hàng đầu trong những cố gắng thống nhất các xứ nói tiếng Ả Rập, trong những tiến trình chiến tranh và hoà bình giữa khối Ả Rập và quốc gia Do Thái, và trong lãnh vực văn hóa đối với các nước bờ nam Địa Trung Hải.

Các Thủ tướng Ai Cập thời độc lập (1953 đến nay):

Muhammad Naguib: 1953 – 1954; đồng thời là Tổng thống Ai Cập
Gamal Abdel Nasser: 1954
Muhammad Naguib: 1954
Gamal Abdel Nasser: 1954 – 1962; đồng thời là Tổng thống Ai Cập từ 1958 – 1970
Ali Sabri: 1962 – 1965
Zakaria Mohieddin: 1965 – 1966 (Đảng Arab Liên minh xã hội chủ nghĩa)
Muhammad Sedki: 1966 – 1967
Gamal Abdel Nasser: 1967 – 1970, mất khi đang tại chức
Mahmoud Fawzi: 1970 – 1972 (Đảng Arab Liên minh xã hội chủ nghĩa)
Aziz Sedki: 1972 – 1973
Anwar Sadat: 1973 – 1974; đồng thời là Tổng thống Ai Cập từ 1970 – 1981
Abd El Aziz Muhammad Hegazi: 1974 – 1975
Mamdouh Salem: 1975 – 1978
Mustafa Khalil: 1978 – 1980 (Đảng Dân chủ Quốc gia)
Anwar Sadat: 1980 – 1981
Hosni Mubarak: 1981 – 1982,; đồng thời là Tổng thống Ai Cập từ 1981 – 2011
Ahmad Fuad Mohieddin: 1982 – 1984
Kamal Hassan Ali: 1984 – 1985
Ali Lutfi Mahmud: 1985 – 1986
Atef Sedki: 1986 – 1996
Kamal Ganzouri: 1996 – 1999
Atef Ebeid: 1999 – 2004
Ahmed Nazif: 2004 – 2011
Ahmed Shafik: 2011 (Đảng Độc lập, 2 tháng)
Essam Sharaf: 2011 (9 tháng)
Kamal Ganzouri: 2011 – 2012
Hesham Qandil: 2012 – 2013
Hazem Beblawi Al: 2013 – 2014
Ibrahim Mahlab: 2014 – nay.

(Theo Khám phá- Lịch sử- Wiki)

Share this: