Dân tộc Mãn là một dân tộc có lịch sử lâu đời, tổ̉ tiên của họ có thể̉ tìm về hơn 2000 năm trước. Họ luôn sống ở vùng trung và hạ du sông Hắc Long Giang phía bắc núi Trường Bạch Sơn và vùng rộng lớn lưu vực sông Wu-su-ly Trung Quồc .

Thế kỷ 12, dân tộc Mãn lúc đó gọi là “Nữ Chân” đã thành lập ra nhà Kim. Năm 1583, Nu-er-ha-chi đã thống nhất các bộ tộc Nữ Chân, sáng lập ra chế độ bát kỳ, sáng lập chữ Mãn, đồng thời năm 1635 đặt tên dân tộc mình là dân tộc Mãn. Năm 1636, Nu-er-ha-chi xưng đế, đổi tên nước là Thanh. Năm 1644, quân Thanh nhập quan, đời nhà Thanh trở thành triều đình phong kiến cuối cùng tập quyền trung ương thống nhất Trung Quốc.

Dòng họ Ái Tân Giác La đã cai trị Trung Quốc cho đến khi Cách mạng Tân Hợi thành công vào năm 1911 và thành lập một chính quyền cộng hòa thay thế cho triều đình nhà Thanh. Từ Ái Tân (aisin) có nghĩa là vàng trong tiếng Mãn, và từ Giác La (gioro) là tên của một địa danh mà nay là Y Lan thuộc Hắc Long Giang.

Xem bản độ vị trí Hắc Long Giang (Mãn Châu, tộc Ái Tân Giác La, lập ra nhà Thanh). Dân tộc Mãn là một dân tộc có lịch sử lâu đời, tổ̉ tiên của họ có thể̉ tìm về hơn 2 nghìn năm trước. Họ luôn sống ở vùng trung và hạ du sông Hắc Long Giang phía bắc núi Trường Bạch Sơn.

 

Theo phong tục Mãn Châu, các dòng họ được nhận biết đầu tiên là bởi Hala (哈拉, cáp lạp), tức là tên họ tộc hay bộ tộc của họ, và sau đó là Mukūn (穆昆, mục côn), một sự phân loại mang đặc trưng của các gia đình, dòng tộc. Trong trường hợp của Ái Tân Giác La, Ái Tân là Mukūn, và Gioro là Hala. Các dòng họ khác của bộ tộc Giác La bao gồm Y Nhĩ Căn Giác La ( Irgen Gioro), Thư Thư Giác La (Susu Gioro) và Tây Lâm Giác La (Sirin Gioro) và một số dòng họ khác.

Vào thời nhà Kim (1115–1234), người Nữ Chân, tổ tiên của người Mãn đã được gọi là aisin gurun. Trong những năm đầu dưới triều nhà Thanh, dòng họ này được gọi là amaga aisin gurun,. Từ khi nhà Thanh sụp đổ, một số thành viên của dòng họ đã chuyển họ của mình sang Kim (tiếng Trung: 金). Đáng chú ý, em trai của hoàng đế Phổ Nghi đã chuyển họ tên của mình từ Ái Tân Giác La Phổ Nhậm (愛新覺羅溥任, phiên âm Mãn: Aisin-Gioro Puren) thành Kim Hữu Chi (金友之) và các con của ông cũng mang họ Kim.

Bộ tộc Ái Tân Giác La có nguồn gốc từ Mãn Châu, và tự coi mình là hậu duệ của tộc Nữ Chân, tộc người cai trị nhà Kim (1115–1234) gần 5 thế kỷ. Dưới sự lãnh đạo của Nỗ Nhĩ Cáp Xích và con trai là Hoàng Thái Cực, bộ tộc Ái Tân Giác La đã giành được quyền lãnh đạo các bộ tộc Nữ Chân ở vùng đông, và sau đó thông qua chiến tranh hay liên minh đã mở rộng phạm vi lãnh đạo đến tận khu vực Nội Mông ngày nay. Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã thành lập các đội quân lớn và thường trực được gọi là "kỳ" để thay thế các nhóm lính nhỏ mà vốn trước đó chỉ là các thợ săn. Một kỳ bao gồm các nhóm nhỏ hơn; và có khoảng 7.500 chiến binh cùng gia đình của họ, gồm cả lao nô, và nằm dưới quyền chỉ huy của thủ lĩnh. Mỗi kỳ được nhận biết bởi một lá cờ với các màu sắc khác nhau như vàng, trắng, lam hay đỏ; chỉ có màu trơn hoặc thể hiện ranh giới. Ban đầu chỉ có bốn kỳ, về sau con số này tăng lên tám và được gọi là bát kỳ; các kỳ mới được thành lập khi người Mãn chiếm được một vùng đất mới, và cuối cùng có tổng cộng 24 kỳ chia đều cho 3 tộc là Mãn, Mông và Hán. Năm 1648, chỉ có dưới một phần sáu binh lính các kỳ thật sự có nguồn gốc Mãn. Các cuộc chinh phục của người Mãn được thực hiện với một đội quân đa sắc tộc do các quý tộc Mãn và tướng người Hán lãnh đạo

Thế kỷ 12, dân tộc Mãn lúc đó gọi là “Nữ Chân” đã thành lập ra nhà Kim. Năm 1583, Nu-er-ha-chi đã thống nhất các bộ tộc Nữ Chân, sáng lập ra chế độ bát kỳ, sáng lập chữ Mãn, đồng thời năm 1635 đặt tên dân tộc mình là dân tộc Mãn. Năm 1636, Nu-er-ha-chi xưng đế, đổi tên nước là Thanh. Năm 1644, quân Thanh nhập quan, đời nhà Thanh trở thành triều đình phong kiến cuối cùng tập quyền trung ương thống nhất Trung Quốc.

Dân Mãn từng là nô lệ và bị áp bức dưới sự thống trị của người Khiết Đan, nhưng lại nổi lên được tiêu diệt người Khiết Đan và lại trở thành những kẻ thống trị tàn ác từ Mông Cổ cho đến Khai Phong với triều Đại Kim.

Thế rồi, cơn ác mộng Thành Cát Tư Hãn đã xóa xổ triều đại huy hoàng đó, nhưng trong cơn cuồng sát của đế chế Mông Cổ, người Nữ Chân vẫn không bị tuyệt diệt. Ngược lại họ lại trở lại với sức mạnh lớn hơn và hình thành nên triều đại Phong Kiến cuối cùng của Trung Quốc, thống trị đế chế rộng lớn và hùng mạnh nhất Á Châu.

1 dân tộc nhỏ bé đã làm nên những điều thần kỳ, bắt tất cả người Hán của nước Trung Quốc rộng lớn phải theo phong tục của mình, làm "nô tài" cho mình. Vậy mà cuối cùng lại trở lại bị đồng hóa và tuyệt diệt. Giờ ai là người Mãn, ai nói tiếng Mãn, đất nước, dân tộc Mãn ở đâu (xét về điểm này họ thảm hơn nhiều so với người Mông Cổ, những chư hầu đáng thương trước kia của họ).

Vậy tại sao dân tộc Mãn huy hoàng lại đến nông nỗi này? Và điều gì đã khiến họ từ 1 dân tộc thiểu số nhỏ bé, không thực sự hùng mạnh (bằng người Hung Nô, Khiết Đan hay Mông Cổ) mà lại làm nên được 2 đế chế huy hoàng trên đất Trung Quốc?

Người Mãn hay Người Mãn Châu (tiếng Mãn: Manju; tiếng Mông Cổ: Манж, tiếng Nga: Маньчжуры; tiếng Trung giản thể: 满族; tiếng Trung phồn thể: 滿族; bính âm: Mǎnzú) là một dân tộc thuộc nhóm người Tungus có nguồn gốc từ vùng Mãn Châu (nay là đông nam Nga và đông bắc Trung Quốc). Trong cuộc nổi dậy vào thế kỷ 17, với sự giúp đỡ của những người phản loạn nhà Minh (như tướng Ngô Tam Quế), người Mãn thu phục nhà Minh và lập ra nhà Thanh, triều đại đã biến Trung Quốc thành một thuộc địa và còn thống trị cả Đài Loan, Mông Cổ, Tây Tạng và Tân Cương cho tới cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911, cuộc cách mạng dẫn đến việc thành lập chính phủ Trung Hoa Dân Quốc cũng như tất cả các thuộc địa khác cũng tuyên bố độc lập.


Dân tộc Mãn ngày nay phần lớn đã bị đồng hóa với vài chủng tộc khác (đặc biệt là người Hán). Tiếng Mãn cũng gần như cũng không còn nữa, ngày nay chỉ có những người già sống ở các vùng nông thôn hẻo lánh ở bắc Trung Quốc hoặc những học giả là còn nói được ngôn ngữ này; hiện có khoảng mười nghìn người nói tiếng Tích Bá, một phương ngữ được nói ở vùng Y Lê tại Tân Cương.

Tổng hợp Tài liệu

Share this: