Trần Khát Chân (1370 – 1399) là một tướng lĩnh Đại Việt cuối thời Trần. Ông nổi bật với việc chỉ huy quân đội Việt chống lại các đợt tấn công của Chiêm Thành, đánh bại vua Chiêm là Chế Bồng Nga trong trận Hải Triều năm 1390. Năm 1399, ông liên kết với một số tôn thất, tướng lĩnh mưu sát Bình chương Hồ Quý Ly, người nắm đại quyền trong triều đình vua Trần Thuận Tông. Âm mưu thất bại, Trần Khát Chân bị xử tử cùng gần 400 người khác.

Trần Khát Chân sinh ngày Tân Sửu, tháng Chạp, năm Thiệu Khánh thứ nhất (1370), người làng Hà Lãng, phủ Vĩnh Ninh, nay là xã Hà Lương, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Cha ông là Trần Vi Nhân làm nghề thầy thuốc, mẹ ông là Đặng Thị Thục. Năm 1388, Trần Khát Chân đỗ Thái học sinh. Ông thuộc dòng dõi Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, một danh tướng trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông ở thế kỷ13. 

Tháng 11 năm Kỷ Tỵ (1389), quân Chiêm Thành đánh chiếm Thanh Hóa, đánh vào hương Cổ Vô, vua Trần Thuận Tông sai Hồ Quý Ly đem quân chống giữ. Theo chính sử:

“Giặc [tức Chiêm Thành] đắp ngăn dòng sông ở thượng lưu, quan quân [tức quân nhà Trần] đóng nhiều cọc để đối địch. Ngày 20 giặc mai phục quân và voi, giả bỏ trại mà về.


Quý Ly chọn những quân tinh khỏe gọi là quân cảm tử, đuổi theo để đánh. Quân thủy nhổ cọc ra đánh. Giặc bèn phá đập chắn nước, cho voi xông ra. Tướng coi quân Hữu Thánh dực là Nguyễn Chí bị giặc bắt; còn các quân tướng khác 70 người đều chết. Quý Ly để tỳ tướng là Phạm Khả Vĩnh ở lại cầm cự với giặc, còn mình thì trốn về. Nguyễn Đa Phương tạm coi quân Thánh dực.”
 

Hồ Quý Ly chạy trốn về đến kinh đô, xin thêm thuyền ra tiếp ứng, nhưng Thượng hoàng Trần Nghệ Tông không đồng ý. Quý Ly vì thế xin từ chức cầm quân và không đi đánh nữa. Còn Nguyễn Đa Phương và Phạm Khả Vĩnh, thấy thế giặc mạnh, lại không có lực lượng hỗ trợ cũng bèn trốn đi. 

Quân Chiêm thừa thắng tiến ra Bắc, đóng quân trên sông Hoàng Giang (thuộc Hà Nam ngày nay). Kinh thành Thăng Long rơi vào tình trạng hỗn loạn, mọi người lo sợ bỏ đi lánh nạn. Vì tình thế bí bách,  Thượng hoàng liền sai Trần Khát Chân, một đô tướng trẻ tuổi, một võ quan cấp thấp đem quân Long Tiệp đi đánh giặc.

Quân Trần xuất phát từ sông Lô, đến Hoàng Giang (Ninh Bình) gặp quân Chiêm Thành. Quan sát thấy địa hình khó tổ chức đánh trả, Trần Khát Chân bèn lui về giữ sông Hải Triều (Thái Bình).

Chế Bồng Nga cùng hàng tướng Trần Nguyên Diệu dẫn hơn trăm chiến thuyền đến dò xét cách bài binh bố trận của quân Trần.

Khi chiến thuyền Chiêm Thành chưa kịp ổn định hàng ngũ, tên thuộc hạ Ba Lậu Kê bị Chế Bồng Nga trách phạt, sợ bị giết, đã chạy sang trại quân Trần. Hắn chỉ vào chiến thuyền sơn màu xanh, nói với Trần Khát Chân đó là nơi Chế Bồng Nga ở.

Biết tin, Trần Khát Chân liền hạ lệnh cho quân sĩ nhả đạn thẳng vào thuyền vua Chiêm. Chế Bồng Nga trúng đạn chết ngay tại trận, quân địch tan vỡ. Trần Khát Chân sai giám quân Lê Khắc Khiêm về Thăng Long báo tin thắng trận.

Theo một số tài liệu lịch sử, lúc đó canh ba, thượng hoàng đang ngủ say, giật mình tỉnh giấc, ngỡ là quân giặc đã đánh vào tận ngự doanh. Đến khi nghe tin báo thắng trận nói rằng đã lấy được thủ cấp của Bồng Nga thì mừng rỡ, liền cho triệu các quần thần đến xem. Các quan mặc triều phục hô "vạn tuế”. Lúc đó Thượng hoàng vui mừng nói: “Ta với Bồng Nga cầm cự với nhau đã lâu ngày nay mới được thấy mặt, khác gì Hán Cao Tổ thấy đầu Hạng Vũ. Thiên hạ yên rồi”.

Để thưởng công cho Trần Khát Chân, vua Thuận Tông phong cho ông làm Long Tiệp bổng thần nội vệ Thượng tướng quân, gia phong tước Vũ tiết quan nội hầu và được cấp hai tổng Đông Thành và Nguyễn Xá làm thái ấp; sau lại ban thêm xã Kẻ Mơ (nay là Hoàng Mai) cho ông và người em là Trần Nguyên Hạng.

Mưu sát Hồ Quý Ly

Năm 1394 Thượng hoàng Nghệ Tông mất. Năm 1398, Hồ Quý Ly bắt vua Thuận Tông nhường ngôi cho con trai là Thái tử An mới có 3 tuổi, rồi sau đó sai người giết chết Thuận Tông (1399). Kể từ năm 1397, Hồ Quý Ly bắt đầu cho xây dựng kinh đô mới ở Thanh Hóa (ngày nay vẫn còn thường gọi là thành Tây Đô hoặc thành nhà Hồ). Thành có 4 cửa mở ra bốn hướng, và cửa Nam là chính môn. Cửa này có con đường lát đá dẫn thẳng tới ngọn núi Đốn Sơn (tức núi Đún, ở xã Cao Mật, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Con đường này dài tới ba nghìn thước và theo như nhân dân địa phương kể thì do Trần Khát Chân đắp nên.

Những việc làm độc ác của Hồ Quý Ly đã làm cho một số quan lại trung thành với họ Trần càng thêm bất mãn. Họ cấu kết với nhau tìm cách mưu sát Hồ Quý Ly. Trong số đó có Trần Khát Chân và Trần Nguyên Hãng. 

Mùa hạ năm 1399, Hồ Quý Ly tổ chức hội thề trên đỉnh núi Đốn Sơn. Quý Ly ngồi trên lầu nhà Khát Chân để xem. Phạm Thu Tổ và thích khách Phạm Ngưu Tất cầm gươm định tiến lên lầu, nhưng không rõ thế nào mà Khát Chân lại trừng mắt ra hiệu ngăn lại, rồi thôi. Quý Ly chột dạ đứng dậy đi xuống lầu có vệ sĩ hộ vệ. 

Ngưu Tất liền vứt gươm xuống đất nói: “Cả lũ chết thôi”. Việc đó bị lộ, bọn tôn thất (Trần Nguyên) Hãng, Trụ quốc (Trần) Nhật Đôn, Tướng quân Trần Khát Chân, Phạm Khả Vĩnh, Hành khiển Hà Đức Lân, Lương Nguyên Bưu, Phạm Ông Thiện, Phạm Ngưu Tất và các thân đảng cộng hơn 370 người đều bị giết cả; tịch thu gia sản, con gái bắt làm tì, con trai từ một tuổi trở lên hoặc chôn sống, hoặc dìm nước. Lùng bắt dư đảng đến mấy năm không thôi.

Về cái chết của Trần Khát Chân, Đại Việt Sử ký Toàn thư chép:

“Người đời truyền rằng Khát Chân khi sắp bị chém, lên núi Đốn Sơn gào thét ba tiếng. Chết qua ba ngày sắc mặt vẫn như sống, ruồi nhặng không dám bậu vào. Sau đó gặp đại hạn đảo vũ thì ứng ngay”. 

Sử thần Ngô Sĩ Liên nhận xét: "Quý Ly đến đây gây nhiều tội ác. Trần (Nguyên) Hãng giao hoan với văn võ bá quan từ trước rồi, nếu biết thừa cơ quyết đoán, vạch tội Ly, hiệp với Khả Vĩnh mà giết thì danh chính ngôn thuận, mà làm được việc. Đáng tiếc chỉ vì do dự mà đến nỗi phải bại vong".

Tại nơi ông bị hành hình, sau có đền thờ ở làng Phương Nhai và ở sườn núi Đốn Sơn. Ba tổng Cao Mật, Bỉnh Bút, Nam Cai có tới 29 làng cúng tế. ở Thăng Long, dân vùng Kẻ Mơ cũng lập đền thờ, tạc tượng đá, dựng bia ghi nhớ công đức của ông.

Nhà Hồ (Hồ triều 1400-1407) là triều đại quân chủ trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi Hồ Quý Ly lên ngôi năm 1400 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Trần và chấm dứt khi Hồ Hán Thương bị quân Minh bắt vào năm 1407 – tổng cộng là 7 năm. Quốc hiệu Đại Việt đã đổi thành Đại Ngu năm 1400.

(Theo Lịch sử)

Share this: