Lưu ý:  Ai đã từng nghiên cứu cội nguồn Việt Nam hay lịch sử Bách Việt, tìm hiểu ASEAN ngày nay, đã biết nước Sở thuộc Việt tộc (trong Bách Việt). Tàu là Tần (China) thống nhất 6 nước trong đó có các bộ tộc Việt. Còn 1 tộc Việt chưa bị đồng hóa, nói tiếng Tàu hay thành người Tàu, sát nhập Tàu, chính là tộc Lạc Việt (Việt Nam sau này).

Sau khi Lạc Việt (Vua Hùng) bị nước Âu Việt [Thục Phán (An Dương Vương) thôn tính]. Nước Âu Việt từ đông bắc Việt Nam, phía tây tỉnh Quảng Đông và phía bắc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. 

2 nước sát nhập lại gọi là Âu Lạc = Âu Việt + Lạc Việt (sự tích Con Rồng Cháu Tiên nói lên 2 tộc Việt hợp với nhau).

Chiến tranh thống nhất Trung Hoa của Tần là một chuỗi những chiến dịch quân sự vào cuối thế kỷ thứ 3 Trước Công Nguyên thực hiện bởi nước Tần nhắm thôn tính 6 nước chư hầu hùng mạnh còn sót lại trong thời kỳ Chiến Quốc là Hàn, Triệu, Nguỵ, Yên, Sở và Tề.

 

 

Thời đại Chiến Quốc kéo dài từ khoảng thế kỷ 5 TCN tới khi Trung Quốc thống nhất dưới thời Tần năm 221 TCN. 6 nước Hàn, Triệu, Nguỵ, Yên, Sở và Tề cùng với Tần được gọi chung là Chiến Quốc Thất Hùng. Kết quả của cuộc chiến là việc 6 nước chư hầu lần lượt bị Tần (Tần Thuỷ Hoàng) thâu tóm.

Truyện Hán Sở tranh hùng nói về Nhân và Nghĩa, đạo lý của Á Đông. Bên Tây phương, gọi Nhân là Bác Ái, còn Nghĩa nói về Công chính, Chính trực, Công lý, Công Bằng (xem Công lý, Công Bằng cho bản mình hay cho người khác cũng như nhau).

Hùng và anh hùng khác nhau

Chữ hùng nói lên gan dạ, dũng cảm (có rất ít người dám làm trong ngàn người, vạn người hay triệu người). Chữ anh là sáng suốt. Anh hùng nghĩa là dũng cảm làm việc sáng suốt, có trí tuệ, có chính nghĩa, san bằng các bất công (bất công tới bản thân mình hay cho người xung quanh cũng xem như nhau), làm điều thiện  (điển hình: diệt ác trừ gian, trừ bạo an dân hay giúp đỡ những người khốn khó đem đến sự bình yên và hạnh phúc).

Lời nói đầu
Ðạo Trời vô cùng. Lòng người bất trắc. Chỉ có Nhân và Nghĩa là thứ bảo vật bất biến vĩnh hằng.
Nhân Nghĩa là bảo vật vì từ nghìn xưa cho tới nghìn sau, luôn luôn được ưa chuộng. Trái lại hung bạo bị căm thù.
Ðược ưa thì thắng, bị ghét thì thua, cuộc đấu tranh trường diễn của lịch sử, lời tiên nho Tăng Củng nói không sai : "Cương cường tất tử nhân nghĩa vương" (
Hung cường thì chết, nhân nghĩa thì dựng được nghiệp vương).
Truyện Hán Sở tranh hùng là một minh họa có sức thuyết phục cho chân lý ấy.


Tần Thủy Hoàng dùng sức mạnh tóm thâu lục quốc. Nhưng vì chỉ biết lấy bạo lực, không biết lấy nhân nghĩa thu phục lòng người mà lòng người rời bõ, rốt cuộc bị Hạng Vũ tiêu diệt.

Chân lý: Được lòng dân, được thiên hạ, bằng nhân nghĩa mới lâu bền.

Thắng Tần rồi Hạng Vũ lại lầm đường đi vào vết xe đổ nên đã bị Lưu bang trừ khữ .

Lưu Bang tức Hán Cao Tổ đã thấy sức mạnh và độ bền của Nhân , Nghĩa , biết dùng Nhân Nghĩa làm keo sơn gắn bó lòng người nên đã củng cố Hán tộc được khá lâu dài.

Ðọc Hán Sở Tranh Hùng là để soi tấm gương không mòn còn mãi : Tấm Gương Nhân nghĩa .
Lời Nhà Xuất Bản Ðại Nam

Hồi 1

Thâu sáu nước, Thủy Hoàng dựng nhà Tần
Oán trăm họ, dân gian hờn bạo chúa

Từ nhà Châu suy yếu, các chư hầu nổi dậy thôn tính lẫn nhau, tạo trong thiên hạ một thời hỗn loạn.
Thời ấy gọi là thời Chiến Quốc kéo dài 873 năm.
Bấy giờ thiên hạ gồm vào bảy nước : Tần, Sở, Triệu, Tề, Hàn, Ngụy, Yên.
Trong bảy nước ấy, nước Tần mạnh nhất. Trong có Thừa tướng Lã Bất Vi chuyên quyền , ngoài có tướng giỏi như Vương Tiễn chinh phạt diệt nhà Châu, kiêm tính sáu nước, đem thiên hạ về một mối.
Tần Thủy Hoàng Vua Tần là Thủy Hoàng con Dị Nhân (Chiêu Tương Dương ) và Dương Hoa Chánh Hậu vốn là kẻ bạo ngược.
Sau khi thống nhất được sơn hà, cho mình là đấng anh hùng cái thế, cổ kim không ai sánh kịp, tự suy tôn hiệu Thủy Hoàng đế, đời thứ hai gọi là nhị thế, đời thứ ba gọi là tam thế, cho đến vạn thế, v.v.. .
Rồi chia thiên hạ ra làm 36 quận, vẽ một bức địa đồ thống nhất, bắt tất cả những mưu sĩ đem về an trí nơi Hàm Dương (Kinh đô nước Tần) đúc mười hai pho tượng để khoa trương nước nhà giàu mạnh, lập cung A Phòng ở vườn Thượng Lâm, tập họp tất cả những gái đẹp bốn phương về đó ước hơn nghìn người, ngày đêm tửu sắc vô độ .
Lã Bất Vi vì tư thông với Dương Hoa Thái Hậu, nên bị Tần Thủy Hoàng trừ đi lập Lý Tư lên thay thế.
Năm thứ 27, Thủy Hoàng hội quan thần, phán :
– Các vua thời xưa thường tuần du đây đó để quan sát dân tình. Nay trẫm muốn làm cái việc đó, các quan nghĩ sao ?

Chú thích
Sử chép rằng : Tần Thủy Hoàng tên Chính , là con riêng của Dương Hoa Chánh Hậu chứ không phải con của Dị Nhân.
Nguyên lúc Dị Nhân, hoàng tôn nước Tần, sang Triệu làm con tin , gặp Lã Bất Vi là một con buôn vàng ngọc, Lã Bất Vi
thấy tướng mạo Dị Nhân đoán biết về ,sau ắt nối nghiệp nước Tần, liền đem người tiểu thiếp mình là Dương Hoa, đã có mang với mình hai tháng gả cho Dị Nhân . Dương Hoa sau này sinh ra Tần Thủy Hoàng. Vì vậy Tần Thủy Hoàng là con Lã Bất Vi chứ không phải con của Dị Nhân dòng dõi nước Tần.
Quần thần đều tâu :
– Nơi cửu trùng thăm thẳm, nếu không ngự giá tuần du làm sao rõ đặng lòng dân. Xưa nay những bậc anh quân đều lấy dân làm gốc, bệ hạ muốn như vậy thực hợp với cổ ý. .
Thủy Hoàng hớn hở, truyền lệnh sửa sang xa giá, bắt đầu du hành từ phía Bắc đất Lũng Tây. .
Trời không nắng lắm, xa xa cây cỏ một màu xanh, nhấp nhô bên các sườn núi miệt Kê Ðầu, trông khá đẹp mắt. Long xa sau trước, các quan cận thần và quân lính hầu hạ chật ních.
Bỗng trên đỉnh núi Kê Ðầu có một đám mây mờ, hiện ra năm vầng hào quang sáng chói.
Thủy Hoàng lấy làm lạ, đòi cận thần Tống Vô Kỵ đến hỏi.
Vô Kỵ tâu :
– Tâu Bệ hạ, hạ thần đã trông nhiều thứ mây như : tường vân, phù vân, thụy vân, tể vân, khánh vân, nhưng không có thứ mây nào giống thứ ám khí này. Ðây là một điềm ứng phi thường thật khó biết đặng.
Thủy Hoàng ngơ ngác hỏi :
– Thế thì phải làm sao để trừ được điềm lạ ấy ?
Vô Kỵ tâu :
– Xin Bệ hạ quay thánh giá sang phía Ðông Nam, lấy bảo vật mà yếm thì mới có thế trừ đặng hung khí.
Thủy Hoàng theo lời, thuyền xa giá đi về hướng Châu Dịch, bày lễ tế phong ở núi Ðông Nhạc và Thái Sơn, rồi lấy thanh bảo kiếm của mình thường đeo, yếm dưới chân núi .
Ðoạn qua sông Giang , sông Hoài, đến Nam quận, hồi giá về Hàm Dương. Quần thần ra khỏi Kinh đô ba mươi dặm đón rước.
Từ đấy lúc nào Thủy Hoàng cũng nghĩ đến vừng vận khí ở phương Ðông Nam lòng không vui .
Một hôm có viên cận thần đến tâu :
– Mấy hôm nay khí trời mát mẻ, nơi Ngự lâm viên trăm hoa đua nở , xin Bệ hạ mệnh giá qua chơi để giải trí .
Ðang lúc lòng buồn bực , Thủy Hoàng nhận lời, dẫn một bọn cung phi và mấy viên cận thần đến vườn Ngự lâm ngoạn cảnh.
Tiếng gió rì rào thổi phất phơ những cành hoa vừa hé nhụy, trong quang cảnh tưng bừng của bình minh .
Thủy Hoàng dạo gót khắp nơi . Mãi cho tới lúc ánh nắng bắt đầu gay gắt , Thủy Hoàng thấy mình rồng mõi mệt , liền lên Hiễn Thánh điện để nghĩ .
Giấc điệp mơ màng , Thủy Hoàng chợt nghe bên tai một tiếng nỗ long trời lở đất .
Rồi một vầng thái dương đỏ ửng từ trên trời rơi xuống .
Bỗng thấy một đứa bé áo xanh , mặt đen chạy đến ôm vầng thái dương toan chạy . Liền lúc đó , lại có một đứa bé khác, mặc áo đỏ , đôi mắt sáng quắc từ phương Nam chạy đến hét lớn :
– Tên áo xanh kia ! Hãy để vầng thái dương đấy . Ta vâng lệnh Ngọc hoàng đến lấy vàng thái dương đây .
Ðứa bé áo xanh không chịu , cả hai ôm nhau vật lộn . Ðứa bé áo xanh vật ngã đứa bé áo đỏ bảy mươi hai lần . Nhưng bất thình lình đứa bé áo đỏ đá một đá thật mạnh , đứa bé áo xanh ngã lăn xuống đất chết tươi .
Thủy Hoàng thấy vậy kêu lên :
– Hỡi hài đồng kia ! Ðừng vội đoạt vầng thái dương , hãy bảo cho ta biết chúng bay là ai ?
Ðứa bé đáp :
– Ta là dòng dõi Thuấn Nghiêu , quê ở Phong Bài vì dân dấy nghĩa . Thượng đế đã cho ta hưỡng lịch bốn trăm năm .
Nói xong , đứa bé áo đỏ ôm vầng thái dương chạy biến về phương Nam . Thủy Hoàng đưa mắt nhìn theo bóng đứa bé mờ dần rồi khuất sau vầng hào quang giống như vầng vân khí nơi núi Kê Ðầu .
Thủy Hoàng bừng mắt tĩnh dậy , mới biết đó là chiêm bao , lòng bâng khuâng tự nghĩ :
– Giấc mộng này lành ít dữ nhiều . Nhà Tần ta có lẽ vận mạng đã hết , thiên hạ ắt về tay kẽ khác ….
Liền truyền xa giá trở về cung . Từ đó lòng buồn bã lo âu , không lúc nào vui .
Một hôm Thủy Hoàng cùng quần thần bàn tính , muốn tìm thuốc trường sanh bất tử để sống làm vua mãi , hưỡng cảnh lạc thú hồng trần .
Cận thần Tống Vô Kỵ tâu :
– Ở miền Ðông Hải có ba đỉnh núi thần , phong cảnh tốt tươi , cỏ hoa muôn vẽ , khí hậu ấm áp , hạ thần chắc đó là nơi bồng lai , có thể tìm thuốc trường sinh được .
Thủy Hoàng mừng rỡ , phán :
– Khanh đã bao giờ đến đó chưa ?
Vô Kỵ tâu :
– Hạ thần chưa đến , nhưng có một người bạn tên Từ Phúc, lúc trước từng qua chơi nơi Ðông Hải, gặp các tiên cỡi loan hạc, phong độ thoát phàm. Từ Phúc hiện nay còn ghé chơi nơi nhà hạ thần, nếu Bệ hạ tin dùng , hạ thần sẽ đưa vào yết kiến.
Thủy Hoàng liền sai Vô Kỵ cấp tốc đi triệu Từ Phúc.
Từ Phúc theo Vô Ky vào bệ kiến.
Thủy Hoàng phán hỏi cách tìm thuốc trường sinh, Từ Phúc tâu :
– Thuốc trường sinh là một món thuốc quý, từ xưa nay khó có ai tìm được. Nay Bệ hạ muốn có thuốc ấy tất phải chịu tổn phí, đóng thuyền và cấp hành trang cho hạ thần vượt bể thì mới tìm được.
Thủy Hoàng hỏi :

– Nhà ngươi cứ hết lòng giúp trẫm, nếu được, hai ta cùng uống và cùng sống mãi hưởng cảnh vàng son ; Còn gì hạnh phúc bằng . Chẳng hay nhà ngươi muốn đóng bao nhiêu thuyền, và hành trang như thế nào ?
Từ Phúc tâu :
– Vượt bể Ðông chẳng phải chuyện dễ. Cần có mười chiếc thuyền lớn, trong thuyền phải đủ hạng thợ, và phải kén lấy năm trăm đồng nam, năm trăm đồng nữ, phòng khi dùng đến.
Thủy Hoàng liền hạ lệnh sắm đủ mọi thứ cho Từ Phúc ra đi.
Tháng ngày trôi qua như ngựa qua cửa sổ, chẳng mấy chốc đã hơn năm tháng trời, Thủy Hoàng ôm lòng chờ đợi mãi mà chẳng thấy Từ Phúc trở về.
Quá nóng lòng, Thủy Hoàng liền sai một người nho sĩ là Lư Sinh đi tìm Từ Phúc.
Ôi ! Bốn phưong mù mịt, Từ Phúc ra đi như bóng nhạn lưng trời, biết đâu mà tìm. Tuy nhiên, lệnh vua đã phán, ai dám trái lời, Lư Sinh đành vâng chỉ, một mình cất bước ra đi.
Ði mãi, đến bờ bể, vời trông chỉ thấy sóng gào gió thét trong khoảng nước xanh trời thẳm, bát ngát muôn trùng, chẳng biết đâu là bồng lai, đâu là tiên giới.
Lư Sinh ngước mặt lên trời thờ dài, nghĩ thầm :
– Thủy Hoàng là một bạo chúa, tham sống mà coi rẻ mạng người. Nếu ta không tìm được Từ Phúc trở về, tánh mạng ắt chẳng còn. Thôi thì cứ nhắm mắt đưa chân, rủi có chết thì cũng như Từ Phúc, một đi không về thế là xong.
Lư Sinh lần theo hướng Nam, đi vào miền núi Thái Nhạc, rồi đến núi Thái Hoa.
Suốt mấy tháng trường trong gian khổ, bỗng một hôm Lư Sinh gặp một người hình dung cổ quái, đầu bù tóc rối, mắt tròn như lục lạc, đang ngồi tựa một phiến đá, nhìn về hướng trời xa.
Lư Sinh nghĩ thầm :
– Nơi đây sơn lâm cùng cốc, người thường đâu dễ mấy ai mò đến, chắc là một dị nhân .
Liền bước đến vái chào. Dị nhân quay lại thấy Lư Sinh, liền hỏi :
– Người là ai . Có việc gì lại đến đây ?
Lư Sinh đáp :
– Thưa tiên sinh, tôi vâng ìệnh Thủy Hoàng đi tìm thuốc trường sinh bất tử.
Dị nhân cười lớn nói :
– Con người sống chết đã do mệnh trời định sẳn, sao lại có ý ngông cuồng như vậy . Làm gì có thuốc trường sinh bất tử .
Lư Sinh nhìn tướng mạo dị nhân một lúc , biết không phải người phàm nên cố năn nỉ :
-Tôi là người phàm mắt thịt , trí não u ám , xinn tiên sinh thương tình cứu tôi thoát nạn .
Dị nhân thấy Lư Sinh khẩn khoản ngồi im ra vẽ suy nghĩ. Một lúc dị nhân đứng dậy đưa tay đẩy tấm vách đá , bên trong lộ ra một cửa hang rất lớn .
Lư Sinh thất kinh lòng chưa hết ngạc nhiên thì dị nhân đã bước vào trong , cầm một quyển sách đem ra đưa cho Lư Sinh, và nói :
– Hãy đem sách này về cho vua Tần xem , trong đó có nói rõ về " sinh tử tồn vong ".
Lư Sinh tiếp lấy thấy trên bìa sách có đề bốn chữ "Thiên Lục Bí Quyết " toan hỏi lại nhưng Dị nhân đã bước lên ngồi bên phiến đá mắt nhắm nghiền như ngũ say.
Lư Sinh không dám hỏi nữa , cầm sách trở về dâng cho Thủy Hoàng thuật lại mọi việc.
Thủy Hoàng mở sách ra xem , bên trong chép theo lối cổ tự , chữ ngoằn ngoèo rất khó đọc ,liền sai Lý Tư dịch ra .
Lý Tư đọc cho Thủy Hoàng nghe . Ðó là sách nói về việc thuyên chuyển của lịch đại . Lại có câu rằng "Vong Tần giả Hồ "
Thủy Hoàng thất kinh nói :
– Cứ như trong sách thì rợ Hồ sẽ làm mất nhà Tần .
Liền sai Mông Ðiềm đem tám mươi vạn dân phu ra ngoài biên ải đắp trường thành để phòng rợ Hồ .
Ngoài ra con bắt thêm dân chúng khắp nơi, bất luận già trẻ đều phục dịch cho công tác ấy .
Dân chúng khổ cực trăm bề , quanh năm suốt tháng , áo chỉ còn bâu , người chỉ còn bộ xương , đói khát, con xa mẹ , vợ xa chồng, mồ hôi lộn nước mắt, thây vùi khắp chân trường thành , oán hận ngút trời .
Thủy Hoàng lại sợ đời sau chê cười, và có kẽ rõ được hành động mình nên truyền đốt sách chôn sống học trò ước hơn 460 người .
Lại ra nghiêm lệnh hễ ba người tụ họp nói chuyện xầm xì thì phạm vào tội chết chém .
Một lời phán gớm ghê của bạo chúa làm chấn động cả nhân gian .
Người con trưởng Thủy Hoàng là Phù Tô thấy cha tàn ác quá. vội can :
– Sách vở là văn học của một nước, học trò là tiêu biểu cho thế hệ đời sau . Phụ vương hủy hoại đi e thiên hạ oán vọng , ngôi nhà Tần khó giử được .
Thủy Hoàng nổi giận, hét :
– Nghịch tử dám dùng lời vô lễ với trẫm sao ?
Tức thì ra lệnh đày Phù Tô ra Bắc biên làm chức Giám Quân cùng với Mông Ðiềm coi việc đắp trường thành . Cấm không được về Kinh đô nữa .
Tuy nhiên Thủy Hoàng vẫn còn lo sợ vần vân khí ở miền Ðông Nam , e có kẽ ngầm mưu loạn , nên truyền xa giá tuần du về miền ấy để trấn áp sanh linh .
Thuở đó, nơi phía Nam, cách nước Hàn lối ba mươi dặm , có một quán rượu, thường ngày các bô lão trong vùng đến đó bắt chén giải buồn.
Một hôm có bốn cụ già ngồi khề khà nhìn mây, nhìn nước trao đổi tâm tình.
Trong số bốn cụ già ấy có một người tên Triệu Tam Công, nhân lúc cao hứng, nói :
– Các ngài ơi ! Trăm năm về trước, thiên hạ thái bình, con người sống trong cảnh đáng sống, không một chút gì bận tâm nhọc trí cả. Ðời sống như thể chẳng khác gì chốn tiên bồng.
Một cụ già đặt chén xuống bàn, vuốt râu nhìn Triệu Tam Công hỏi :
– Thế thì ngài cho cõi đời này là trần tục sao ?
Triệu Tam Công lắc đầu đáp :
– Không phải là trần tục mà chính là địa ngục trần gian.
Ba cụ già già đồng vỗ tay cười lớn. Một cụ hỏi :
– Theo ngài thì những cực hình ghê gớm nhứt của chốn địa ngục dương trần này là gì ?
Triệu Tam Công lè lưỡi, đáp :
– Chịu thôi . Bây giờ phép nước nghiêm lắm, tôi không dám bàn đến chuyện đó.
Một cụ đưa mắt nhìn xung quanh, rồi nói :
– Nơi đây hẻo lánh, chỉ có ta với ta, hà tất phải ngại !
Bỗng từ bên trong hàng rượu có một thiếu niên bước ra, vừa cười vừa nói :
– Thưa các cụ, nếu có kẻ nào sợ pháp luật không dám nói, tôi xin thay kẻ ấy nói giúp vậy.
Mọi người quay nhìn thiếu niên. Người ấy mặt tròn, mắt sáng, áo vải, giày vai, trông ra vẻ một thiếu niên anh tuấn .
Triệu Tam Công nói :
– Nếu tiểu tử đủ can đảm, xin thay ta, nói cho các vị bô lão này nghe thử.
Thiếu niên ung dung nói :
– Thưa các cụ, các cụ còn lạ gì chánh sách của bạo chúa Tần Thủy Hoàng ! Con trai không được yên phận cày cấy, con gái không được yên phận canh cửi, cha xa con, vợ lìa chồng, gia đình tan tác. Nào đắp trường thành, nào dựng A Phòng, đốt sách vở, chôn sống học trò, nghe lời đứa dua nịnh lập ra phép dữ, oán khí ngất trời. Nghĩ làm thân trong chế độ này chẳng khác nào một tội nhân sống trong hỏa ngục ! Nhục nhã thay !
Người thiếu niên còn muốn nói nữa, nhưng Triệu Tam Công đã bỏ đứng dậy toan chạy.
Ba vị bô ìão nói :
– Nơi đây xa cách kinh kỳ, việc gì ngài lại sợ hãi đến thế ?
Triệu Tam Công thở dài, nói :
– Dầu trong hang cùng ngõ hẻm cũng có mặt kẻ do thám của triều đình. Tai vách mạch rừng, các ngài chớ khinh khi mà rơi đầu vô ích.
Người thiếu niên thấy vậy, than thầm :

– Ôi ! Nhân tâm như thế thì nỗi niềm riêng cũa ta biết tõ cùng ai !

Hồi 2
Hài Công trọng nghĩa đâm bạo chúa
Triệu Cao cải mệnh , mưu thay vua

Người thiếu niên này vốn dòng nho sĩ, quê ở nước Hàn, họ Trương tên Lương, tự là Tử Phòng.
Tổ tiên Trương Lương năm đời làm danh sĩ nước Hàn. Từ khi Tần Thủy Hoàng diệt nước Hàn, Trương Lương đêm ngày ôm hờn vong quốc quyết chí báo thù bỏ ra nghìn nén vàng , đi khắp thiên hạ , liên kết với các dũng sĩ để bàn việc thích khách bạo chúa .
Trong lúc Trương lương đang ngẩn người , buồn thế sự thì đàng sau có một tráng sĩ chạy đến chào Trương Lương , và nói :
– Vừa rồi nghe ngài kể tội ác của Thủy Hoàng, lòng tôi bỗng dưng hậm hực. Nếu ngài muốn làm việc nghĩa cử, trừ hôn quân dâm bạo, tôi xin nguyện đem thân giúp sức.
Trương Lương thấy người ấy mình cao một trượng , tướng mạo đoan trang, biết là bậc phi thường, liền cầm tay, nói :
– Chỗ này không phải nơi thố lộ tâm tình, xin tráng sĩ về nhà tôi đàm đạo.
Tráng sĩ theo Trương Lương về nhà.
Trà nước xong, Trương Lương hỏi :
– Xin tráng sĩ cho biết quý danh ?
Tráng sĩ đáp :
– Tôi họ Lê, quê ở Hải Biên nên người ta thường gọi là Thượng Hải Công. Vốn có sức mạnh, có thể cầm nổi cây chùy nặng trăm cân, tôi thường đi đây đó, vì lòng nhân trừ kẻ hống hách, bạo ngược. Nhân thấy ngài là kẻ khẳng khái đem lòng mến, chẳng hay quý hiệu là chi ? Và có điều gì cần sai bảo tôi chăng ?
Trương Lương nói :
– Tôi người nước Hàn, họ Trương tên Lương, năm đời nhà tôi làm khanh tướng, không may vừa rồi Thủy Hoàng diệt mất nước. Thù vong quốc chẳng lúc nào nguôi.
Nay Thủy Hoàng bạo ngược, trăm họ lầm than, tôi muốn trừ đi trước cứu thiên hạ, sau rửa quốc thù. Nếu tráng sĩ chịu giúp tôi làm việc đó, sẽ lưu tiếng lại thiên thu.
Hải Công hớn hở xua tay nói :
– Tôi nguyện tuân theo lời ngài.
Trương Lương mừng rỡ, lưu tráng sĩ Hải Công lại nhà mình rồi thám thính xem Thủy Hoàng chuyến này tuần du về lối nào.
Cách mấy hôm sau, Trương Lương được tin Thủy Hoàng qua huyện Vũ Dương, liền sai Thượng Hải Công nấp nơi một gò cao, đợi xe giá Thủy Hoàng đến, thích khách.
Tiếng trống rập rềnh từ xa vẳng đến, rồi long xa ló dạng.
Hải Công tay cầm chặt thanh chùy đứng chờ.
Tiếng bánh xe nghiến trên đường đất, qua cụm gò cao.
Nhanh như chớp, Hải Công nhảy ra, cầm chùy đánh vào long xa bể nát.
Nhưng xe nát mà Thủy Hoàng không chết !
Vì Thủy Hoàng tự biết mình có những hành động tàn bạo, sợ thiên hạ ám hại, nên đã đề phòng trước, sắm hai chiếc long xa, một chiếc để ngự lúc du hành, còn một chiếc để không, sai quân sĩ đẩy đi trước.
Thế là Trương Lương đã thất bại !
Ngự lâm quân áp lại, bắt Thượng Hải Công dẫn đến nạp cho Tần Thủy Hoàng.
Thủy Hoàng nghiến răng hét :
– Ai xui nhà ngươi làm cái việc phản nghịch đó ?
Thượng Hải Công trừng mắt đáp :
– Mày là một vị hôn quân vô đạo, khắp thiên hạ đều oán hận muốn giết mày. Ta muốn vì dân trừ hại , sao mày hỏi ngu thế ?
Thủy Hoàng nổi giận, truyền quân đem Hải Công ra tra tấn, quyết hỏi cho được kẻ chủ mưu.
Hải Công cười lớn, rồi đập đầu xuống đá tự vận .
Trương Lương lòng đau như cắt, dậm đất , kêu trời than :
– Trời ơi ! Cái thù của nước Hàn ta biết bao giờ mới trả được . Hận quốc dân biết thuở nào nguôi. Trời nỡ dung tha một kẻ hôn quân, bạo chúa để cho muôn dân sống mãi trong lầm than sao ?
Trương Lương bùi ngùi bỏ trốn sang Hạ Bì, đến trú nơi nhà Hạng Bá .
Hạng Bá là cháu Hạng Yên , trươc kia từng làm tướng nước Sở , với Trương Lương là bạn thân, nên giấu Trương Lương trong nhà không để lộ tông tích .
Khối buồn đọng mãi không tan, thỉnh thoảng Trương Lương ra ngoài dạo cảnh .
Một hôm, bóng chiều vừa xế , khóm trúc bên cầu xào xạc trước ngọn gió lê thê, Trương Lương lểnh mểnh quanh chân suối , lòng ngổn ngang trăm mối u buồn, bỗng thấy một ông già đi ngang qua cầu, làm rơi chiếc giày xuống nước rồi kêu Trương Lương nói :
– Này tiểu tử, hăy lại đây lượm chiếc giày cho ta .
Trương Lương thấy ông lão có dáng tiên phong đạo cốt , biết không phải người thường liền bước đến, cúi lượm chiếc giày trao cho ông lão rất kính cẩn .
Ông lão xỏ chân vào giày rồi lại đánh rơi xuống nước . Trương Lương nhặt , cứ thế đến ba lần .
Trương Lương vẫn với cử chỉ kính cẩn không hề tỏ ý bất mãn .
Ông lão mĩm cười nhìn Trương Lương nói :
– Thằng bé này có thể dạy được đây !
Liền chỉ vào gốc cổ thụ gần đó nói :
– Năm ngày nữa, ngươi đến gốc cây này, ta sẽ cho một vật quý ! Chớ sai hẹn !
Trương Lương cúi đầu vâng mệnh.
Năm hôm sau, Trương Lương dậy sớm , y ước đến chổ gốc cây thấy ông già đã ngồi chờ sẵn nơi đó.
Ông già nhìn Trương Lương mắng :
– Ðã hẹn với kẻ trượng phu cớ sao lại đến trễ ? Thôi, ta hẹn cho năm ngày nữa, hôm đó phải đến cho sớm .
Năm hôm sau, đầu trống canh năm , Trương Lương thức dậy ra gốc cây, dè đâu ông lão lại cũng đã ngồi ở đó rồi.
Ông lão mắng :
– Sao ngươi biếng nhác như thế . Hôm nào cũng để ta phải chờ đợi ? Thôi , ta hẹn cho năm ngày nữa.
Lần này, Trương Lương không ngủ, suốt đêm ra gốc cây ngồi chờ.
Trống canh năm vừa điểm, ông lão ìểnh mểnh đến .
Trương Lương sụp lạy , nói :
– Kính thưa tiên sinh có gì chỉ dạy, xin thương tình sai bảo .
Ông lão nói :
– Ta xem tiểu tử cốt cách thanh kỳ, nếu biết dùng tuổi xanh lo việc học tâp, sau này có thể đồ vương định bá được. Nay ta cho ngươi ba quyển bí thư, trong có đủ kỳ mưu , thần toán . Dù Tôn , Ngô phục sinh chưa chắc bì kịp . Ngươi khá nhận lấy học tập, trước vì nước Hàn báo thù , sau vì thiên hạ giúp chân chúa đem lại thái bình, để khỏi phụ tình tri ngộ .
Trương Lương tiếp nhận ba quyển sách, quỳ mọp xuống đất tạ ơn, và hỏi :
– Tiểu tử muốn biết đại danh của tiên sinh, xin tiên sinh cho phép.
Ông lão nói :
– Ba năm nữa, nơi phía Ðông thành Ðại Cốc có một cái lăng của một vị đế vương, trong đó có một hòn đá vàng hoàng thạch tức là ta đó.
Trương Lưong nghe nói ngạc nhiên, ngẩng mặt lên thì ông lão đã đi đâu mất.
Trương Lương trở về nhà Hạng Bá, mở sách ra xem thấy đó là bộ "Thái Công binh pháp " ngày đêm cố gắng học tập để đợi thời cơ.
Giữa lúc đó, Thủy Hoàng đi Ðông du, qua địa phận Từ Châu. Nơi đây hoa màu tươi tốt, cây cối khác thường.
Nhân dân trong hạt đem đến dâng cho Thủy Hoàng một cây lúa trổ ba bông.
Thủy Hoàng đắc ý, khen thưởng mọi người rồi truyền xa giá sang phía Ðông Nam, đi về huyện Bái.
Vừa đến nơi, Thủy Hoàng chợt thấy trên đỉnh núi cao , xuất hiện một vầng hào quang sáng chói.
Thủy Hoàng cau mày, gọi Lý Tư nói :
– Hào quang xuất hiện, nơi đây ắt có nhân tài. Cần phải tìm giết đi để khỏi di hại về sau.
Lý Tư tâu :
– Vân khí xuất hiện là chuyện thường, nay bệ hạ tuần du mà sai người dò thám, bắt bớ e lòng dân náo động chăng ?
Thủy Hoàng nghe lời ấy, thôi không sai người dò thám bắt bớ nữa.
Một hôm, Thủy Hoàng ngự giá đến Cối Kê, dân chúng hai bên đường đều phục lạy tiếp đón.
Trong đám dân chúng ấy, bỗng có một chàng trai toan đứng dậy nhảy xổ đến đâm Thủy Hoàng.
Tuy nhiên, hành động chưa phát lộ, thì có một ông lão biết ý cản lại, kề tai nói nhỏ :
– Không nên ! Ðại trượng phu phải lập nghiệp lớn, để tiếng thiên thu, lẽ nào bắt chước những tay thích khách tầm thường !
Chàng trai cho là phải, không hành động nữa .
Chàng trai ấy là Hạng Tịch, tên chữ là Vũ, quê ở Hạ Tượng, còn ông lão kia là Hạng Lương, chú của Hạng Vũ đó.
Từ thuở bé, Hạng Vũ theo nghiệp văn, nhưng văn dốt, Hạng Vũ sang nghề võ, nhưng kiếm thuật lại không lành.
Người chú là Hạng Lương thường mắng :
– Mày học hành chẳng ra sao, lớn lên chỉ là một tên côn đồ dốt nát.
Hạng Vũ nói :
– Thưa chú học chữ chẳng qua để biên chép mòn ngày, còn học kiếm chẳng qua cũng chỉ địch nổi một vài người mà thôi. Hai môn ấy không ích nên cháu không gắng.
Hạng Lương giận hỏi :
– Thế thì mày muốn học thứ gì để gọi là ích lợi ?
Hạng Vũ thưa :
– Cháu muốn học nghề gì mà nhất địch vạn nhân, như thế ngày sau mới có thể đem thân ra tranh đấu với thiên hạ được.
Hạng Lương thấy cháu có y lạ liền lấy các sách binh pháp ra dạy. Môn này dạng Vũ thích học , song cũng chỉ học những cái đạicương mà thôi.
Hai chú cháu đang ôm mộng lập nghiệp thì hôm ấy Thuy Hoàng tuần du đến .
Hạng Vũ vốn ghét Thủy Hoàng dâm bạo muốn giết đi, nhưng Hạng Lương kịp cản lại.
Từ đấy hai chú cháu chu du khắp thiên hạ, chiêu tập nhân tài để mưu đồ đại sự.
Lý Tư thấy Thủy Hoàng đi đến đâu cũng gặp chuyện chẳng lành , dân chúng khiếp sợ lẩn tránh liền tâu Bệ ha . Bệ hạ tuần du đã lâu , trong thiên hạ đều biết rõ uy vũ . Xin Bệ hạ khá hồi loan sửa sang chính trị , giữ gìn biên cương để an dưỡng mình rồng, bớt điều khổ nhọc .
Thủy Hoàng suy nghĩ một lúc rồi truyền xa giá hồi loan .
Ði đến địa phận Duyên Châu trời tối, Thủy Hoàng nằm ngủ, bỗng mơ càng giấc điệp trông thấy một vị Long thần hiện đến cùng với Thủy Hoàng giao chiến, Thủy Hoàng cầm cự hồi lâu , nhắm sức không cự nổi, bõ chạy .
Chạy đến một bờ biển. nước xanh cuồn cuộn , sóng gió hải hùng . Ðang cơn nguy cấp bỗng có một con Xích long từ trên trời sa xuống , hả mồm ngoạm lấy Thủy Hoàng nuốt đi . Thủy Hoàng thất kinh, giật mình thức dậy, mồ hôi ướt cả long bào , tay chân rũ rượi .
Biết điềm mộng chẳng lành Thủy Hoàng lo lắng sinh bệnh .
Ði đến đất Sa Khâu , bệnh thế càng nặng, Thủy Hoàng liền gọi Lý Tư đến nói :
– Trẫm biết không còn sống để thụ hưởng cảnh vinh hoa nữa. Nếu vạn nhất Trẫm cố băng hà , khanh nên đến Thượng Quận đón Thái tử Phù Tô về kế vị. Như vậy thiên hạ mới mong lạc nghiệp được .
Nói xong, lại viết tờ di chúc và giao ngọc tỷ cho Lý Tư .
Lý Tư sụp lạy nhận mệnh. Thủy Hoàng nói :
– Ngươi phò Trẫm đã lâu , các việc lớn nhỏ Trẫm đều phó thác cả. Vậy phải hết lòng vì nước chớ trái lời di chúc này. Thái tử Phù Tô là người nhân ái có thể dùng đức cải oán thiên hạ được . Ta tiếc rằng đời ta đã dùng bạo lực, phương thức không hay đối với chánh sách trị nước.
Nói đến đấy, Thủy Hoàng thở hơi cuối cùng.
Lý Tư liền tẫm liệm, rồi đưa thi thể về Hàm Dương, sai người đi triệu Phù Tô về phát tang.
Triệu Cao cản lại nói :
– Không nên ! Thái tử Phù Tô lâu nay không tín nhiệm bọn ta. Nếu Thừa Tướng lập Phù Tô lên ngôi chẳng những chúng ta mất chức, mà còn nguy hiểm đến tính mệnh nữa.
Lý Tư nói :
– Nhưng mệnh vua, làm trái sao đành.
Triệu Cao cười nhạt, nói :
– Ðành vậy. Nhưng giữ lời di chúc mà thân phải lụy , thà phụ lời di chúc mà giữ được địa vị còn hơn. Thừa Tướng đối với Thái tử đâu bằng Mông Ðiềm.
Lý Tư thở dài hỏi :
– Theo ý ngài nên làm thế nào ?
Triệu Cao nói :
– Hãy đổi tờ di chúc, lập Công tử Hồ Hợi lên nối ngôi.
Lý Tư trầm ngâm một lúc, quyền lợi bản thân thắng đạo đức, ngẩng nhìn Triệu Cao nói :
– Vâng, tôi xin theo lời ngài.
Triệu Cao mừng rỡ, đến tìm Công tử Hồ Hợi nói :
– Nghiệp đế vương ngày nay mất còn chỉ có Công tử , Thừa Tướng và tôi định đoạt. Tiên vương di chiếu lập Thái tử Phù Tô, chúng tôi xét thấy quyền hành công tử sau này sẽ mất hết. Chúng tôi xin vì công tử, lập công tử lên kế vị.
Hồ Hợi cau mày nói :
– Ôi chao ! Sao các ngài có ý nghĩ như thế ? Bỏ anh lập em là trái nghĩa, bỏ lời di chúc của Tiên vương là bất trung, con không theo lời cha là bất hiếu. Kẻ đã bất trung, bất hiếu, bất nghĩa thì ai còn phục. Tôi không thể nghe theo lời các ngài được !
Triệu Cao nói :
– Ðấng trượng phu không nên câu nệ những tiểu tiết mà bỏ đại sự. Cơ hội ngàn năm một thuở. Phú quý về tay mà không tiếp nhận, dẫu sau hối hận cũng chẳng ích gì .
Hồ Hợi nghe Triệu Cao nói bùi tai, gật đầu đáp :
– Ừ ! thế thì các ngài hành động cách nào tùy ý.
Triệu Cao lập tức trở về thuật lại với Lý Tư rồi đổi tờ di chúc, sai Diêm Nhạc đem chiếu giả đến Thượng Quận, bắt Phù Tô phải tự tử . Ðoạn lập Hồ Hợi lên ngôi.
Diêm Nhạc đến Thượng Quận truyền lệnh cho Phù Tô ra tiếp chiếu.
Phù Tô vội vàng ra sụp lạy .
Diêm Nhạc mở chiếu đọc rằng :

"Nhà Ðại Tần ngày. . . tháng. . . năm thứ 37.
Thủy Hoàng đế hạ chiếu :
Ðời Tam Ðại lấy hiếu trị thiên hạ, gây mối cương thường. Con không nghe cha là bất hiếu, tôi không nghe vua là bất trung. Kẻ bất trung, bất hiếu không dáng làm chủ thiên hạ.
Nay trưởng tử Phù Tô cải mệnh cha, không trọn đạo làm con. Cứ lấy tình cha con thôi có thể dung thứ được , song theo phép tổ tiên không thể khoản miễn .
Vậy chiếu lập Hồ Hợi làm Thái Tử , truất Phù Tô xuống thứ dân , trao cho một chén độc dược và một thanh gươm để tự xử lấy thân .
Còn như tướng Mông Ðiềm cầm quân cõi ngoại , không ích lợi gì cho nước , chỉ làm hao tốn muôn dân , lẽ ra phải theo pháp gia hình , nhưng vì trường thành chưa xong , tạm để cho Mông Ðiềm ở đó đôn đốc công việc .
Chiếu chỉ đến nơi , phải lập tức tuân theo . Khâm Thử ."

Phù Tô nghe xong khóc lớn, nói :
– Ôi ! Vua bảo chết. Tôi không thể không tuân , cha bảo chết con không thể cải mệnh . Nay Phù Tô này xin lãnh thanh gươm và độc dược cho trọn niềm trung hiếu .
Mông Ðiềm cản lại nói :
– Xin Ðiện hạ xét lại đã . Bệ hạ sai hạ thần đem ba mươi vạn quân đóng nơi biên cương , lại sai Ðiện hạ đến làm Giám Ðốc . Ðã giao trọng trách như thế lẽ nào còn bắt chết ! Tôi e trong triều có điều gì gian trá xin Ðiên hạ về triều thĩnh tội để rõ ngay gian .
Phù Tô lắc đầu , nói :
– Bình nhật phụ vương tôi ghét bỏ tôi , nay bắt chết là do thánh ý , tôi không muốn cải lời .
Nói xong , sai quân đem thuốc độc đến , uống một hơi cạn chén .
Phù Tô chết, Mông Ðiềm thương tiếc vô cùng, ôm thây khóc mãi. Ba quân ngậm ngùi rơi lệ.
Diêm Nhạc thấy Phù Tô đã chết, trở về báo với Hồ Hợi .
Hồ Hợi liền làm lễ tức vị xưng hiệu là Nhị Thế hoàng đế .
Từ đó, quyền hành trong nước về tay Lý Tư và Triệu Cao chuyên chế.
Hai người lập ra hình pháp rất nghiêm khắc, cốt trấn áp lòng dân, mưu lợi riêng, không kể đến cái hại vong quốc sau này.
Các quan đại thần trông thấy đều chán ngán, không muốn tham dự việc nước.
Vua Nhị Thế thấy Mông Ðiềm thống lãnh hơn ba vạn quân ngoài biên ải, còn thân thuộc đều ở nơi kinh thành, sợ sinh biến liền truyền chỉ đem chém hết.
Quan Ðại thần Tử Anh can :
– Tâu bệ hạ, họ Mông vốn dòng dõi đại thần, nay bệ hạ mới trị nước mà trừ bỏ đại thần e lòng dân ly tán. Xin bệ hạ dùng đức khoan hồng thay cho uy vũ để trị dân.
Nhị Thế không nghe, truyền đem tộc thuộc Mông Ðiềm giết hết.
Mông Ðiềm hay tin ấy, ngước mặt lên trời than :
– Nhà ta ba đời có công lớn với nước Tần, nay vua Tần tin dùng kẻ gian nịnh hủy hại tôi hiền. Ta cầm trong tay ba chục vạn quân, đủ sức phản lại. Nhưng thà chịu chết chứ không để làm mất tiếng trung liệt của tổ tiên.
Ðêm ấy , Mông Ðiềm uống thuốc độc tự vận.
Vua Nhị Thế nghe tin Mông Ðiềm chết, lập tức truyền chỉ ra Thượng quận bắt anh em con cháu Mông Ðiềm đày qua Thục quận.
Bình nhật, Triệu Cao và Lý Tư chỉ sợ có Phù Tô và Mông Ðiềm , nay hai người ấy đều chết cả, nên không còn kiêng nễ ai nữa

Share this: