Lập mệnh chính là sáng tạo ra vận mệnh, không để bị vận mệnh trói buộc. Lập mệnh chính là tìm hiểu tính cách, tâm lý, con người chính mình, với suy nghĩ tích cực và hành động để đạt tới giấc mơ, mục tiêu. Theo Cốc Thiền Sư: Một người bình thường không sao tránh khỏi tâm ý thức vọng tuởng xáo trộn. Đã có tâm vọng tuởng không dừng, thì phải bị âm dương khí số trói buộc. Đã bị âm dương khí số trói buộc, sao có thể bảo là không có số mệnh được? Tuy nói rằng có số, song chỉ người bình thường mới bị số mệnh trói buộc.

Nếu là một người cực thiện, thì số mệnh không sao ảnh huởng được đến.

Con người ai cũng muốn sống hạnh phúc, trường thọ và đời sống tốt đẹp. Muốn đạt được điều đó, con người nên có quan niệm đứng đắn về cuộc sống và tìm hiểu bản chất của chính mình để phát triển khả năng trong con người mình (ví dụ khả năng vẽ – đam mê vẽ, khả năng hát- đam mê hát, khả năng liên kết ngoại giao về chính trị, về kinh doanh, khả năng chữa bịnh.v.v..)

Sau đây là nghiên cứu của Tây (Mỹ) và Á Đông về thiện -ác, tính chất của con người .

Tử vi chính là môn tìm hiểu tính chất con người liên quan tới xã hội, bạn bè, công việc, bịnh tật, hoành cảnh.v.v. . Tử vi là một môn khoa học phương đông, hoàn toàn không phải là bói toán vì được xây dựng trên học thuyết và kiến thức sách vở, tử vi cho biết vận mệnh con người được xây dựng trên cơ sở triết lý Kinh Dịch với các thuyết âm dương, ngũ hành, Can Chi… bằng cách lập lá số tử vi với Thiên bàn, địa bàn và các cung sao; căn cứ vào giờ, ngày, tháng, năm sinh theo âm lịch và giới tính để lý giải những diễn biến xảy ra trong đời người.

Thế giới có hơn 7.5 tỷ người có tất cả 518 400 Tính Chất trong tử vi (60 can chi, 12 tháng, 30 ngày, 12 giờ, và 2 giới tính) lá số khác nhau trong Tử Vi. Tính trung bình có 14 467 cùng 1 lá số (cùng 1 tính chất) nhưng vì sống hoàn cảnh khác nhau, giáo dục khác nhau, môi trường gia đình nên số phận không giống nhau.

Tại Mỹ người ta đã tiến hành một nghiên cứu mang tên: “Quan hệ xã hội ảnh hưởng tới tỷ lệ người chết như thế nào?”. Họ phát hiện rằng một người vui vẻ nhiệt tình giúp đỡ người khác, luôn sống hòa ái sẽ có cuộc sống trường thọ, hạnh phúc hơn, đặc biệt đối với nam giới điều này càng thể hiện rõ rệt. Ngược lại, một người tâm luôn chứa những điều xấu, gây tổn hại người khác để chiếm lợi ích về mình, sống không thể dung hòa với mọi người thì tỉ lệ tử vong sẽ cao hơn từ 1,5 – 2 lần.Nghiên cứu của Đại Học Yale và Đại Học California liên tục trong 9 năm cũng như kết quả điều tra 2700 người của Đại học Michigan trong vòng 14 năm, đều cho thấy quan niệm của con người đối với thiện – ác khác nhau sẽ cho kết quả sức khỏe khác nhau.

Nhân viên nghiên cứu phát hiện rằng một người thiện lương sống thọ hơn. Bởi từ góc độ tâm lý mà nhìn, khi một người ôm giữ vui vẻ, hay giúp đỡ người khác sẽ nhận được nhiều cảm tình, có được sự ôn hòa trong tâm, giải hóa được những áp lực thường ngày. Hơn nữa khi thường xuyên làm việc thiện, cơ thể sẽ sản sinh ra hệ thống miễn dịch tốt.Ngược lại một người có tâm tật đố, hay làm điều xấu, chiếm lợi ích của người khác thì thọ mệnh sẽ ngắn.

Lập mệnh chính là sáng tạo ra vận mệnh, không để bị vận mệnh trói buộc. Chương Lập Mệnh này, chính là bàn đến cái học lập mệnh, giải giải đạo lý an thân. Viên Liễu Phàm tiên sinh đã đem kinh nghiệm bản thân, cùng nhiều nghiệm chứng trong việc cải đổi vận mệnh để dạy cho con trai. Ông muốn con trai mình là Viên Thiên Khải không nên bó tay trước vận mệnh, mà phải gắng hết sức cải đổi vận mệnh, bằng cách hành thiện, đoạn ác, như người xưa nói: Đừng chê điều thiện nhỏ mà không làm, đừng khinh điều ác nhỏ mà làm. Nếu làm được như vậy, nhất định sẽ cải đổi vận mệnh, như người xưa từng nói: Đoạn ác tu thiện, dứt trừ tai ương, phước thọ miên trường. Đây chính là nguyên lý cải đổi vận mệnh.

Ngàn người ngàn số mệnh, mỗi mệnh mỗi khác nhau. Viên Liễu Phàm đời Minh, vận mệnh vốn bình thường, gặp được Khổng tiên sinh, đoán số đều trúng cả. Chết yểu lại tuyệt hậu, công danh chẳng có đâu, do đời trước nghiệp sâu. Suốt hai mươi năm dài, sống theo dòng nghiệp xoáy, đúng số mệnh chẳng sai. Gặp thiền sư Vân Cốc, khai thị cho pháp lành, Viên Liễu Phàm cư sĩ, mới chuyển đổi mệnh mình, mới chuyển đổi mệnh mình.

Cha thuở nhỏ mất cha sớm. Bà nội bảo cha bỏ học, không nên đi thi đeo đuổi công danh, mà đổi học ngành y làm thầy trị bệnh. Bà nội bảo: “Học nghề thuốc vừa có thể kiếm tiền nuôi thân, vừa có thể cứu giúp người khác. Nếu y thuật đến mức cao minh, cũng có thể trở thành y sư danh tiếng. Đây chính là tâm nguyện của cha con khi còn sinh tiền”.

Về sau cha ở chùa Từ Vân tình cờ gặp được một ông lão tướng mạo phi phàm, râu dài phất phới, có vẻ tiên phong đạo cốt. Cha do đó cung kính vái chào. Ông lão bảo: “Ngươi là người trong chốn quan trường năm sau có thể đi thi, bước vào hàng trí thức cao, thế tại sao không chịu đi học?”

Cha trả lời vì ý của bà nội muốn cha bỏ học để đeo đuổi ngành y. Kế đó cha lại hỏi tính danh, nơi cư trú của cụ, cụ đáp: “Ta họ Khổng, người Vân Nam, được chân truyền của Triệu Khương Tiết tiên sinh, người tinh thông về dịch số Hoàng Cực. Tính theo số định, ta phải tuyền môn dịch số này cho ngươi”.

Do đó, cha đưa vị tiên sinh này về nhà, thưa lại mọi việc với bà nội. Bà nội bảo cha phải tiếp đãi cụ chu đáo. Lại còn dạy rằng: “Vi tiên sinh này tinh thông dịch số vận mệnh. Vậy con thử nhờ cụ tính cho một quẻ xem sao. Thử coi có linh nghiệm hay không”.

Kết quả thật không ngờ, Khổng tiên sinh tính số mệnh cha, dù là việc nhỏ cũng vô cùng chính xác. Cha nghe theo lời cụ, có ý định đi học lại, nên bàn với người anh họ tên là Thẩm Xưng. Anh họ bảo: “Tôi có một người bạn thân tên là Úc Hải Cốc mở lớp dạy học ở nhà Úc Hữu Phu. Tôi đưa cậu đến đó ở trọ theo học, rất tiện”.

Từ đó cha bắt đầu theo tiên sinh Úc Hải Cốc học tập. Một lần Khổng tiên sinh tính số cho cha bảo: “Lúc ngươi chưa có công danh, còn là học sinh, thi Huyện đứng hạng mười bốn, thi Phủ đứng hạng bảy mươi mốt, thi Đề Học đứng hạng chín”.

Đến năm sau, cha đi thi ba nơi, thứ hạng quả nhiên đúng như lời Không tiên sinh nói. Khổng tiên sinh lại tính cho cha một quẻ kiết hung họa phúc suốt đời. Cụ bảo: “Ngươi vào năm nào đó sẽ thi đậu hạng mấy, vào năm nào đó sẽ bổ chức Lẫm sinh, vào năm nào đó lên chức Cống sinh, và năm nào đó được chọn làm Huyện truởng một huyện thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Làm chức Huyện truởng được ba năm rưỡi, bèn từ quan về quê. Vào giờ sửu ngày mười bốn tháng năm năm mươi ba tuổi, ngươi sẽ từ trần tại nhà. Tiếc rằng số của ngươi không có con trai”.

Những lời này cha đều ghi lại, và nhớ kỹ trong lòng. Từ đó về sau mỗi khi thi cử, thứ hạng đều đúng như lời Khổng tiên sinh đã đoán. Chỉ có điều cụ đoán số thóc mà cha lãnh khi làm chức Lẫm sinh là chín mươi mốt thạch năm đấu, sau đó mới thăng chức. Không ngờ khi mới nhận được bảy mươi mốt thạch thóc, quan Học Đài là Đồ tông sư phê chuẩn cha được bổ chức Cống sinh. Cha nghĩ thầm trong bụng: Khổng tiên sinh đoán số cũng có chỗ không linh nghiệm.

Không ngờ sau đó giấy phê chuẩn thăng chức của cha bị quan Học Đài thay thế là Dương tông sư bác bỏ, không cho làm chức Cống sinh. Mãi đến năm Đinh Mão, Ân Thu Minh tông sư xem thấy bài dự thi tuyển của cha, thấy không được chấm đậu, nên lấy làm tiếc, than rằng: “Năm bài văn sách làm trong quyển thì nàykhác nào tấu điệp dâng lên cho vua. Người có học thức như thế này lẽ nào lại để cho mai một đến già?”

Do đó ông dặn quan huyện đưa hồ sơ của cha lên chỗ ông, phê chuẩn cha bổ chức

Cống sinh. Trải qua sự trắc trở này, cha huởng thêm một số thóc của chức Lẫm sinh, cộng với bảy mươi mốt thạch thóc đã ăn khi trước, vừa đúng chín mươi mốt thạch năm đấu. Sau khi xảy ra sự việc này, cha càng tin tuởng: Công danh tiến thoái thăng trầm của một đời người đều do số mạng định sẵn. Sự thành đạt đến sớm hay muộn, đều có thời gian nhất định. Do đó cha xem mọi thứ bình thường, không còn có lòng tranh cầu gì nữa.

Khi được tuyển làm chức Cống sinh, theo quy định phải đến trường Quốc Tử Giám ở Bắc Kinh để học. Cho nên cha ở kinh thành một năm, suốt ngày ngồi yên, không nói chuyện, cũng không khởi tư tuởng. Tất cả sách vở đều không xem đến. Đến năm Kỷ Tỵ, cha trở về học ở trường Quốc Tử Giám tại Nam Kinh, tranh thủ thời gian trước khi nhập học, đến núi Thê Hà bái kiến thiền sư Vân Cốc. Ngài là một vị cao tăng đắc đạo.

Cha ngồi đối diện với thiền sư trong một gian thiền phòng suốt ba ngày ba đêm, không hề chợp mắt. Vân Cốc thiền sư hỏi: “Người ta sở dĩ không thể trở nên thánh nhân chỉ vì vọng niệm trong tâm khởi lên không ngừng. Ngươi tịnh tọa ba ngày, ta chưa từng thấy ngươi khởi lên một niệm vọng tuởng, đó là vì sao?”

Cha đáp: “Số mệnh của tôi đã được Khổng tiên sinh xem rõ rồi. Lúc nào sinh, lúc nào chết, lúc nào đắc ý, lúc nào thất ý đều có số định sẵn, không cách gì thay đổi được. Vậy cho dù có nghĩ tuởng mong ước cái gì đi nữa cũng vô ích. Cho nên tôi chẳng thèm nghĩ tuởng, do đó trong tâm cũng không có vọng niệm.”

Vân Cốc thiền sư cười bảo: “Ta vốn cho rằng ông là bậc trượng phu xuất chúng, nào ngờ chỉ là kẻ phàm tu tục tử tầm thường!”

Cha nghe xong không hiểu, bèn thỉnh giáo tại sao lại như thế. Vân Cốc thiền sử bảo: “Một người bình thường không sao tránh khỏi tâm ý thức vọng tuởng xáo trộn. Đã có tâm vọng tuởng không dừng, thì phải bị âm dương khí số trói buộc. Đã bị âm dương khí số trói buộc, sao có thể bảo là không có số mệnh được? Tuy nói rằng có số, song chỉ người bình thường mới bị số mệnh trói buộc. nếu là một người cực thiện, thì số mệnh không sao ảnh huởng được đến anh ta.

Bởi vì người cực thiện, cho dù số mệnh vốn có chú định phải chịu khổ sở, nhưng nhờ làm được điều thiện cực lớn, sức mạnh của việc thiện lớn này, có thể chuyển khổ thành vui, nghèo hèn đoản mệnh thành phú quý trường thọ.

Còn người cực ác, số cũng không ảnh huởng được họ. Vì cho dù số mệnh họ chú định được huởng phước, song vì họ gây tạo việc ác lớn, chính sức mạnh của việc ác này khiến phước trở thành họa, giàu sang trường thọ trở nên nghèo hèn chết yểu.

Số mệnh của ông trong hai mươi năm được Khổng tiên sinh đoán trước, không từng biết cải đổi một chút, trái lại còn bị số mệnh buộc chặt. Một người bị số mệnh buộc chặt chính là phàm phu tục tử. Vậy ông không phải là kẻ phàm phu tục tử hay sao?”

Cha hỏi Vân Cốc thiền sừ rằng: “Theo như thiền sư nói, thì số mệnh có thể cải đổi được chăng?”

Thiền sư trả lời: “Mệnh do tự mình tạo, phước do chính mình tìm. Ta làm ác tự nhiên bị tổn phước; Ta tu thiện tự nhiên được phước báo. Sách vở mà cổ nhân để lại xưa nay, đã chứng minh tính chính xác của đạo lý này. Trong kinh Phật nói: Muốn cầu phú quý được phú quý, muốn cầu con trai con gái được con trai con gái, muốn cầu trường thọ được trường thọ. Chỉ cần tu tạo việc lành, thì số mệnh không sao trói buộc được chúng ta.

Luận về lập mệnh biết tính chất con người . Thất sát .

Thất Sát thủ mệnh (Vương Đình Chi)

 Tại Đẩu số, Thất Sát thuộc về sao cương mãnh thẳng tắp một mạch, vì thế phối hợp “Sát Phá Tham” đặc biệt có nhiều thâm ý. Khả năng biến đổi cục diện của Tham Lang khá tròn trĩnh, có thể từ chuyện mà chuyển hóa một cách vô thanh vô sắc (không hình không tiếng), lực biến đổi cục diện của Phá Quân dứt khoát nhất thiết không để sót lại gì, nhưng Thất Sát biến đổi thường thường thuộc trường hợp lập mưu mà dẫn đến động. Nên “Sát Phá Tham” hội hợp, hết sức đầy đủ sắc thái “cương nhu tương tế” (kết hợp cứng rắn với mềm dẻo).

Cử một thí dụ, Phá Quân giống như xây một cái nhà mới, không quan tâm điều gì cứ đem nhà cũ dời đến nơi đất bằng phẳng, sau đó bắt đầu xây dựng từ đầu, có thể ví như làm việc nghĩa, việc quan trọng không cho phép chùn bước; Tham Lang không như vậy, nó không nhất định phải xây một cái nhà mới hoàn toàn, khả năng chỉ là trang hoàng, che đậy cái khuyết điểm của mình, không theo đường lối sách vở, rồi căn nhà tự nhiên rực rỡ hẳn lên như mới; còn Thất Sát thấy nứt thì đập bỏ, thấy khuyết điểm thì trang hoàng che đậy lại, không biến đổi một cách vô nghĩa cũng không tốn công hành sự vô ích, hời hợt bề ngoài.

Cho nên người có Thất Sát thủ mệnh, có đặc điểm là thực tế, bám sát thực tiễn, không siểm nịnh cũng không rụt rè cẩu thả; song chính yếu vẫn phải phối hợp cả kết cấu tinh hệ lại mà định, ví như Thất Sát hội hợp các tinh diệu quá mãnh liệt như kiến Hỏa Tinh Linh Tinh, người có loại mệnh tạo này dễ dàng chiêu oán; nếu hội hợp Địa Không Địa Kiếp, tắc tâm linh dễ giác ngộ hư không, hơn nữa việc xã giao trong cuộc sống cũng lẻ loi lập dị, ít hợp với ai.

Ở thời xưa, mỗi người vốn có một nghề đặc thù, mới có cảnh ngộ ở ẩn hay bôn ba vào đời, nếu không ắt là cao nhân ẩn sĩ, cho nên cổ quyết nói: “Thiên Hình hãm địa, xảo nghệ mưu sinh” lại nói: “Kỳ tính nhược thanh lương chi trạng, kỳ sổ tắc nghi vu tăng đạo” (Số tốt thì như Trạng Nguyên, số xấu thì đi theo đường tu hành) hay như: “Thất Sát cư hãm địa, trầm ngâm phúc bất sanh”.

Thật ra người có Thất Sát thủ mệnh, cũng không phú quý “cả đời tước lộc vinh xương” theo như lời cổ thư, cũng không thê lương như lời câu phú ghi bên trên. Vương Đình Chi đặc biệt thích thú tính cách Thất Sát, hiểu được xã hội hiện đại, khắc họa được một ít người “làm ra làm chơi ra chơi”. Cổ thư nói: “Thất Sát nhập mệnh thân cung kiến cát, diệc tất lịch thụ gian tân” (Sát thủ mệnh thân dù gặp được cát tinh cũng trải qua gian khổ), câu phú này đánh giá quá phù hợp và đúng đắn, không giống Tham Lang dễ rơi vào thủ xảo, lại không giống Phá Quân là biến đổi hết thảy, hành động không chút chần chừ, hoặc sống hoặc chết. Vì vậy mới cho là Thất Sát “lịch thụ gian tân” rồi sau đó thành tựu là thế.

====
Bàn thêm về sao Thất Sát
(Theo khochu)

Thất Sát được coi là hung sát tinh. Bất luận số đẹp hay xấu, hễ đã có Thất Sát vào mệnh/thân thế tất phải trải qua những chuyện hung hiểm hoặc có một thời gian bị lắm chướng ngại. Sách viết “Nhị cung phùng chi địch lịch giai tân”.

Một khi có Thất Sát thủ mệnh, phải xem kỹ những vận hạn, nếu vận tốt đến càng sớm để thành công sớm thì hậu vận lại càng tối tăm với thất bại. Thiếu niên đắc chí ắt lúc bị thất ý ảnh hưởng đến hết đời. Nếu tuổi trẻ bôn ba chìm nôi đến trung niên mới phát đạt, thì nhờ kinh lịch đã thâu lượm như thanh gương tôi luyện kỹ rồi, sự phát đạt ấy mới hay.

Thất Sát thủ mệnh, cuộc đời nhiều hối tiếc, đặc biệt là những mối quan hệ thân thuộc có rất nhiều khuyết điểm. Nhưng về phương diện sự nghiệp thì thường lại có thể thành tựu. Nguyên nhân không có gì lạ, vì cuộc sống cô độc, sự nghiệp trở thành nơi duy nhất để gửi gắm tinh thần, cho nên đặc biệt rất nỗ lực, thời gian bỏ ra cũng hơn người bình thường.

Thất Sát là sao phấn đấu vươn tới, cuộc đời cát cũng vậy, hung cũng vậy, đều bước tới. Cho nên thấy hay không thấy cát tinh đều chẳng có vấn đề, họ cũng không khác biệt gì. Nếu như các cát tinh mà xuất hiện ở cung Phúc thì tinh thần họ khá yên ổn, đối với mệnh tạo lại có lợi. Nếu không ở cung Phúc thì cũng nên phân bố đều ở các cung độ khác, như vậy cuộc đời sẽ khá quân bình, tâm tư cũng an lành. Nhưng đương nhiên, nếu Thất Sát ở mệnh gặp cát tinh, cát hóa thì sự nghiệp tất nhiên có biểu hiện nổi bật.

Thất Sát cung mệnh thích hợp ngành công thương nghiệp, hoặc quân nhân cảnh sát (đặc biệt có Kình Dương).

Thất Sát cung mệnh là mệnh số đã định cuộc đời tất có một phen bị phá tán nặng nề. Vì vậy rất ưa Lộc Tồn đồng độ, hoặc gặp Hóa Lộc, được thế thì sau khi phá tán thất bại, vẫn có thể thu dọn tàn cụ, tái tạo cơ đồ.

Thất Sát không thấy Xương Khúc cũng chủ về “giàu mưu kế, giỏi vạch sách lược”, trên thực tế, Thất Sát không thích gặp Xương Khúc, bởi vì Thất Sát là võ tướng, sống trong rừng thương mưa đạn, ánh đao bóng kiếm, không thể lo nghĩ nhiều, không thể do dự không quyết đoán. Văn Xương Văn Khúc chủ về thanh nhã, suy nghĩ tìm tòi. Thất Sát mà gặp Xương Khúc thường thường sẽ đả kích năng lực quyết đoán của nó, biến thành do dự không quyết đoán, tiến lui không chỗ dựa, dũng khí không đủ.

Thất Sát gặp cát tinh, cát hóa có thể phân biệt chi tiết hơn. Thất Sát thấy Hóa Lộc, Lộc Tồn thì lợi về kinh doanh thương mại, làm ăn buôn bán, nhất là công nghiệp sản xuất. Thấy Phụ Bật thì chủ có nhiều thủ hạ, cục diện sự nghiệp lớ, nếu thêm Hóa Quyền thì càng lợi về việc quản lý nhân sự, thống lĩnh thiên binh vạn mã. Có Hóa Khoa, Xương Khúc tương hội thì chỉ lợi về các công việc chuyên nghiệp như công nghiệp kĩ thuật. Thấy Khôi Việt thì chủ về sự nghiệp gặp được cơ hội.

Ở trong đám cát diệu, Thất Sát rất ưa Lộc Tồn và Hóa Lộc, có mấy chỗ tốt. Thứ nhất, Thất Sát cương cường, được sao lộc thì tính cách nhu hòa hơn, hoặc ngoài cương trong nhu. Thứ hai, Thất Sát khi phát triển sự nghiệp mà được sao lộc thì phát triển thuậ lợi, nguồ tiền tài cung túc. Thứ ba, mệnh tạo Thất Sát tọa mệnh thì trong mệnh đã định một đời phải trải qua một lần phá tán thất bại lớn, nếu được đủ sao lộc thì sau khi phá tán thất bại, nguồn tiền tài có thể sẽ đến lại, không có sao lộc thì việc tái dựng lại cơ nghiệp càng cực kì khó khăn.

Thất Sát gặp các sao Hình Kị Không Kiếp chủ về tính chất bất lợi. Đại khái mà nói, tính cách thì cố chấp, làm việc thủ đoạn kịch liệt, kết quả là quan hệ giao tế xấu, gây nhiều ác nghiệp, dẫn đến quả báo, tai họa xuống đầu.

Thất Sát thủ mệnh ở cung độ miếu vượng Dần Thân Ngọ Mùi là rất tốt. Bốn cung này dù thấy sát tinh mà không thấy cát diệu thì sự nghiệp cũng có biểu hiện, có điều, như Lục Bân Triệu nói, nếu chỉ có sát tinh mà không có cát diệu thì sẽ “phá tán thất bại, tai họa, nan tai bệnh tật”, sau khi thất bại lớn, không đủ sức gây dựng lại. (Lưu ý trường hợp có sao lộc trên).
Thất Sát ở cung mệnh thấy Không Kiếp Hao, tất nhiên theo nghề công nghiệp sản xuất là tốt, hoặc ít nhất có một nghề sở trường. Nếu làm công việc đầu tư, thương nghiệp, không nói đến đầu cơ, cũng chủ về khuynh gia, phá tán thất bại. Có thêm sát diệu Hóa Kị thì phá tán thất bại càng nặng?

Thất Sát đi với Hỏa Linh Kình Đà Không Kiếp thì cuộc đời gặp trắc trở càng lớn, hoặc thân mang trọng bệnh, hoặc bị thương tật, cuộc đời cũng cô độc. Vì vậy thông thường nảy sinh tâm lí thiên mạnh về tín ngưỡng tôn giáo, để cầu mong cho cuộc đời có chỗ tựa.

Share this: