Đất nước Singapore chính thức trở thành một nước cộng hòa độc lập vào ngày 9 tháng 8 năm 1965.  Singapore là một quốc đảo nhỏ nằm ở khu vực Đông Nam Á giữa Malaysia và Indonesia, được tạo thành từ hơn sáu mươi hòn đảo trong đó đảo Singapore là hòn đảo chính còn gọi là đảo Ujong đây cũng là hòn đảo lớn nhất và đông dân nhất.

Singapore vừa là đất nước cũng là thủ đô của chính nó với diện tích khoảng 710 km2 và dân số là 5, 612 triệu (số liệu năm 2017) với GDP đầu người 57,714.30 USD ‎(2017). Tuy kích thước không lớn nhưng Singapore được biết đến là một thành phố công nghệ cao, không ngừng phát triển và là một trong những trung tâm thương mại lớn của thế giới, sở hữu những tiện nghi đẳng cấp quốc tế và một tư duy đa văn hóa.

Singapore thời cổ đại

Năm 1320, Đế quốc Mông Cổ khiển một phái đoàn mậu dịch đến một địa điểm được gọi là Long Nha Môn, được cho là cảng Keppel hiện nay, tại phần nam bộ của đảo. Lữ khách người Hoa Uông Đại Uyên đến đảo vào khoảng năm 1330, mô tả một khu định cư nhỏ được gọi là Đạm Mã Tích (淡馬錫, từ Tamasik trong tiếng Mã Lai) có các dân cư người Mã Lai và người Hoa. Sử thi Java Nagarakretagama được viết vào năm 1365, cũng đề cập đến một khu định cư trên đảo được gọi là Temasek (phố biển). Những khai quật gần đây tại Fort Canning phát hiện được bằng chứng biểu thị rằng Singapore là một bến cảng quan trọng vào thế kỷ 14.

Trong thập niên 1390, hoàng tử Srivijaya Parameswara chạy sang Temasek sau khi bị Majapahit hạ bệ. Parameswara cai trị đảo trong vài năm, trước khi buộc phải sang Melaka và thành lập nên Vương quốc Malacca tại đó. Singapore trở thành một bến cảng mậu dịch quan trọng của Vương quốc Malacca, và sau đó là Vương quốc Johor. Năm 1613, người Bồ Đào Nha đốt phá khu định cư tại cửa sông Singapore và đảo chìm vào quên lãng.


Giai đoạn thành lập Singapore hiện đại (1819)


Năm 1818, Stamford Raffles được bổ nhiệm làm Phó Thống đốc của Thuộc địa Anh tại Bencoolen. Ông quả quyết rằng Anh Quốc nên thay thế Hà Lan trong vai trò là thế lực chi phối trong quần đảo, do tuyến dường mậu dịch giữa Trung Quốc và Ấn Độ thuộc Anh đi qua quần đảo. Người Hà Lan gây khó khăn cho hoạt động mậu dịch của Anh Quốc trong khu vực thông qua việc cấm người Anh hoạt động trong các bến cảng do Hà Lan kiểm soát hoặc đánh thuế cao. Stamford Raffles hy vọng thách thức người Hà Lan bằng việc thiết lập một bến cảng mới dọc theo eo biển Malacca, hành lang chính cho tàu thuyến trên tuyến mậu dịch Ấn Độ-Trung Quốc. Ông thuyết phục Toàn quyền Ấn Độ Francis Rawdon-Hastings và thượng cấp của mình tại Công ty Đông Ấn Anh để họ tài trợ cho một cuộc viễn chinh nhằm tìm kiếm một căn cứ mới của Anh trong khu vực.


Chân dung Stamford Raffles người đi đầu trong công cuộc thành lập đất nước Singapore hiện đại 1819
Stamford Raffles đến Singapore vào ngày 28 tháng 1 năm 1819 và nhanh chóng nhận ra đảo là một sự lựa chọn đương nhiên để thiết lập bến cảng mới. Đảo nằm đầu nam của bán đảo Mã Lai, gần eo biển Malacca, và sở hữu một cảng nước sâu tự nhiên, có các nguồn cung nước ngọt, và gỗ để tu bổ tàu. Stamford Raffles phát hiện một khu định cư nhỏ của người Mã Lai, với dân số vài trăm, tại cửa sông Singapore, thủ lĩnh là Temenggong Abdu’r Rahman. Trên danh nghĩa, đảo nằm dưới quyền cai trị của Quốc vương Johor, song quân chủ này nằm dưới sự khống chế của người Hà Lan và Bugis. Tuy nhiên, vương quốc bị suy yếu do phân tranh bè phái và Temenggong Abdu’r Rahman và các quan viên của mình trung thành với anh của Tengkoo Rahman là Tengku Hussein (hay Tengku Long)- người đang sống lưu vong tại Riau. Với trợ giúp của Temenggong, Stamford Raffles tìm cách bí mật đưa Hussein trở về Singapore. Stamford Raffles đề nghị công nhận Tengku Hussein là quốc vương hợp pháp của Johor và cung cấp cho người này một khoản báo đáp hàng năm; đổi lại, Hussein sẽ trao cho Anh Quốc quyền được thiết lập một trạm mậu dịch tại Singapore. Một hiệp ước chính thức được ký kết vào ngày 6 tháng 2 năm 1819 và Singapore hiện đại ra đời.


Singapore giai đoạn phát triển ban đầu (1819–1826)
Trong năm bắt đầu hoạt động, trao đổi mậu dịch thông qua Singapore trị giá 400.000$ (đô la Tây Ban Nha). Đến năm 1821, dân số đảo tăng lên khoảng 5.000, và khối lượng mậu dịch là 8 triệu $. Dân số đạt mốc 10.000 vào năm 1825, và khối lượng mậu dịch là 22 triệu $, Singapore vượt qua cảng Penang tồn tại từ lâu.

Ngày 7 tháng 6 năm 1823, John Crawfurd ký một hiệp ước thứ nhì với Quốc vương và Temenggong, theo đó mở rộng thuộc địa của Anh Quốc ra hầu hết đảo. Quốc vương và Temenggong giao lại hầu hết các quyền quản trị của họ đối với đảo, bao gồm cả thu thuế cảng để đổi lấy các khoản báo đáp hàng tháng trọn đời lần lượt là 1500$ và 800$. Hiệp định này đưa đảo nằm dưới hệ thống pháp luật Anh Quốc, với điều khoản là nó sẽ đưa vào chương mục các phong tục, truyền thống và tôn giáo Mã Lai. Stamford Raffles thay thế chức thống đốc của Farquhar bằng một quản trị viên có năng lực và tiết kiệm là John Crawfurd. Trong tháng 10 năm 1823, Stamford Raffles rời đi để về Anh Quốc và sau đó không bao giờ trở về Singapore. Năm 1824, Quốc vương Johor nhượng vĩnh viễn Singapore cho Công ty Đông Ấn Anh.


Giai đoạn hình thành các khu định cư eo biển tại Singapore (1826–1867)
 Hiệp định Anh-Hà Lan  năm 1824 củng cố vị thế của Singapore là một thuộc địa của Anh Quốc, chia cắt quần đảo Mã Lai giữa hai cường quốc thực dân mà theo đó khu vực phía bắc của eo biển Malacca, kể cả Singapore, nằm trong khu vực ảnh hưởng của Anh Quốc. Năm 1826, Singapore cùng với Penang và Malacca hợp thành Các khu định cư Eo biển, do Công ty Đông Ấn Anh quản lý. Năm 1830, Các khu định cư Eo biển trở thành một residency, hay phân khu, của khu quản hạt Bengal thuộc Ấn Độ thuộc Anh.

Trong những thập niên sau đó, Singapore phát triển thành một cảng quan trọng trong khu vực. Thành công này có nhiều nguyên nhân, bao gồm mở cửa thị trường tại Trung Quốc, sự xuất hiện của tàu hơi nước viễn dương, và sản xuất cao su và thiếc tại Malaya. Vị thế là một cảng tự do tạo lợi thế quyết định cho Singapore so với các đô thị cảng thuộc địa khác là Batavia (Jakarta) và Manila- những nơi áp thuế quan, và nó thu hút nhiều thương nhân người Hoa, Mã Lai, Ấn Độ, và Ả Rập hoạt động tại Đông Nam Á đến Singapore.


Đến năm 1827, người Hoa trở thành dân tộc lớn nhất tại Singapore. Họ bao gồm những người Peranakan là hậu duệ của những người Hoa định cư ban đầu, và những phu người Hoa kéo sang Singapore để thoát khỏi khó khăn kinh tế tại Hoa Nam. Số lượng người Hoa tăng lên nhờ những người chạy trốn tình trạng rối loạn bắt nguồn từ Chiến tranh Nha phiến thứ nhất (1839 – 1842) và Chiến tranh Nha phiến thứ hai (1856 – 1860). Nhiều người đến Singapore với thân phận lao công khế ước bần cùng hóa và họ chủ yếu là nam giới. Người Mã Lai là dân tộc lớn thứ hai cho đến thập niên 1860, họ làm việc trong các lĩnh vực ngư nghiệp, thủ công nghiệp, hoặc là những người làm công ăn lương trong khi tiếp tục sống chủ yếu trong những kampung (làng). Đến năm 1860, người Ấn Độ trở thành dân tộc lớn thứ hai. Nhóm người này gồm có các lao động không làng nghề, thương nhân, và những tù nhân bị đưa đến để thực hiện các dự án công trình công cộng như phát quang rừng rậm hay làm đường. Cũng có các binh sĩ Sepoy người Ấn Độ được Anh Quốc đưa đến đồn trú tại Singapore. Nhiều khu định cư eo biển tại Singapore được hình thành.


Giai đoạn Singapore là thuộc địa vương thất Các khu định cư Eo biển (1867–1942)
Singapore tiếp tục phát triển, những yếu kém trong việc quản lý Các khu định cư Eo biển trở nên trầm trọng và cộng đồng thương nhân của Singapore bắt đầu chống đối mãnh liệt sự cai trị của Ấn Độ thuộc Anh. Ngày 1 tháng 4 năm 1867, chính phủ Anh Quốc chấp thuận thiết lập Các khu định cư Eo biển với vị thế là một thuộc địa vương thất riêng biệt. Thuộc địa mới này nằm dưới quyền quản lý của một thống đốc, được giám sát từ Bộ Thuộc địa tại Luân Đôn. Một hội đồng hành pháp và một hội dồng lập pháp phụ giúp cho thống đốc.Mặc dù các thành viên trong hai hội đồng không do bầu cử, song theo thời gian càng có nhiều đại diện cho dân cư địa phương.


Chiến tranh thế giới thứ nhất không có ảnh hưởng nhiều đến Singapore: xung đột trong đại chiến này không lan đến Đông Nam Á. Sự kiện quân sự địa phương quan trọng nhất trong thế chiến là binh biến năm 1915 do các binh sĩ sepoy người Hồi giáo Ấn Độ đồn trú tại Singapore tiến hành.[20] Sau khi nghe được những tin đồn về việc có kế hoạch đưa họ đi chiến đấu với Đế quốc Ottoman, các binh sĩ nổi dậy, sát hại những sĩ quan của họ và một vài thường dân Anh Quốc trước khi bị quân đến từ Johor và Miến Điện trấn áp.

Sau chiến tranh, chính phủ Anh Quốc dành nguồn lực đáng kể để xây dựng một căn cứ hải quân tại Singapore, một sự ngăn chặn đối với tham vọng ngày càng tăng của Đế quốc Nhật Bản. Căn cứ hoàn thành vào năm 1939, có đủ thùng nhiên liệu để hỗ trợ cho toàn bộ hải quân Anh Quốc trong sáu tháng. Winston Churchill ca ngợi nó như “Gibraltar của phương Đông.” Tuy nhiên, căn cứ không có hạm đội. Hạm đội Tổ quốc của Anh Quốc đóng tại châu Âu và theo kế hoạch là sẽ nhanh chóng đi đến Singapore khi cần thiết. Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ vào năm 1939, Hạm đội hoàn toàn được sử dụng để bảo vệ Anh Quốc.


Singapore giai đoạn là thuộc địa của Nhật Bản (1942–1945)
Vào tháng 12 năm 1941, Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, khởi đầu một cách nghiêm túc Chiến tranh Thái Bình Dương. Singapore là một căn cứ lớn của Đồng Minh trong khu vực, là một mục tiêu quân sự hiển nhiên. Các chỉ huy quân sự của Anh Quốc tại Singapore cho rằng cuộc tấn công của Nhật Bản sẽ đến theo đường biển từ phía nam, do rừng rậm Malaya ở phía bắc sẽ đóng vai trò là một rào cản tự nhiên chống xâm nhập. Mặc dù người Anh Quốc phác thảo một kế hoạch nhằm đối phó với một cuộc tấn công vào bắc bộ Malaya, song việc chuẩn bị chưa hoàn tất. Quân đội Anh Quốc tự tin rằng “Pháo đài Singapore” sẽ kháng cự được bất kỳ cuộc tấn công nào của người Nhật và sự tự tin này được củng cố khi Lực lượng Z đến, đây là một đội các chiếm hạm của Anh Quốc được phái đi phòng thủ Singapore, gồm có HMS Prince of Wales, và HMS Repulse.


Sau khi Tướng Percival người Anh đầu hàng vào ngày 13/ 2/ 1942, quân đội Nhật Bản đã đổi tên thành phố Singapore là Shonan (Quang Nam) hay ánh sáng của phương Nam và coi đây là thủ đô phía nam của Đế Quốc Nhật. Các tù nhân người Âu, người Úc và 2,300 dân thường bị cầm tù tại Changi, nằm tại đầu phía đông của hòn đảo và trong các trại lính Selarang có trên 15,000 tù binh. 45,000 binh sĩ Ấn Độ và 600 lính Mã Lai phải tuyên thệ trung thành với Hoàng Đế Nhật. Những người từ chối hay bất hợp tác với người Nhật bị gửi đi làm lao dịch tại New Guinea, Sumatra hay Thái Lan và 20,000 binh lính Ấn Độ bị áp buộc tham gia vào đội quân quốc gia Ấn (the Indian National Army) để chiến đấu cho nền độc lập của nước Ấn khỏi tay người Anh. Vào thời gian này, người dân Singapore rất sửng sốt khi thấy những người cai trị cũ bị nhốt tù và rất nhiều người Trung Hoa bị trả thù vì đã tham gia vào các phong trào chống Nhật.

Tất cả người Hoa thuộc phái nam tuổi từ 18 tới 50 đều bị thanh lọc tại các trại tập trung. Những người bị bắt giữ gồm các giáo chức, nhà báo và cựu viên chức của chính quyền Anh. Số người bị ngược đãi, bị hành hạ gồm từ 5,000 tới 25,000 người, tuy nhiên một số người của lực lượng Dalforce và thuộc các đơn vị không chính quy đã trốn thoát được qua bán đảo Mã lai và họ thành lập đội quân Nhân Dân Mã Lai chống Nhật (the Malayan People’s Army).

Người Nhật còn kêu gọi các thương gia người Hoa tại Singapore gây quỹ 10 triệu đồng tiền Singapore để tỏ lòng cộng tác vào Khối Đại Đông Á (the Greater East Asia Co-Prosperity) bao gồm Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Hoa và vài nước Đông Nam Á Châu. Trên hòn đảo Singapore, các trường học Anh và Trung Hoa phải dạy tiếng Nhật còn các trường học Mã Lai được phép duy trì tiếng Mã vì đây là ngôn ngữ địa phương.

Sự áp chế và hành hạ lúc ban đầu của người Nhật Bản đối với dân chúng Singapore đã khiến cho người dân tại nơi này không hợp tác : phần lớn các gia đình không gửi con em tới trường Nhật khiến cho số học sinh đi học không quá 7,000 em mặc dù có các lớp học tiếng Nhật miễn phí và các phần thưởng, với mục đích dùng tiếng Nhật thay thế tiếng Hoa và tiếng Anh.

Các năm chiếm đóng của quân đội Nhật Bản cũng làm cho nền kinh tế Singapore kiệt quệ, thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác đều thiếu thốn, một số thương gia người Hoa đã làm ăn với các viên chức tham nhũng Nhật trên thị trường chợ đen. Nạn lạm phát gia tăng khi chính quyền quân sự Nhật in ra giấy bạc, khắp nơi đều có cảnh đầu cơ, hối lộ, lợi dụng, tham nhũng và vô kỷ luật.

Thực phẩm khan hiếm khiến cho các tù nhân bị giảm khẩu phần. Họ bị hành hạ, bị bắt xây dựng phi trường Changi và công trình này hoàn thành vào tháng 5/ 1945. Các thường dân Singapore cũng bị đưa đi làm đường xe lửa tại Miến Điện, Thái Lan. . ., nhiều người đã bỏ xác tại các công trường nước ngoài.

Ngày 15/ 8/ 1945, quân đội Nhật Bản đầu hàng. Tin tức này đã tới Singapore sau một tuần lễ và trước đó, quân đội Nhật Bản đã lặng lẽ tự rút lui vào trại tập trung ở Jurong. Ngày 05/ 9/ 1945, quân đội Liên Hiệp Anh từ các tầu chiến đổ bộ lên Singapore và được 5 cây số dân chúng đón mừng. Một tuần lễ sau, trước Tòa Thị Chính Singapore, bộ chỉ huy quân sự Nhật Bản đã ký bản văn đầu hàng trước vị chỉ huy tối cao các lực lượng Đồng Minh tại Đông Nam Á là Đô Đốc Lord Louis Mountbatten.


Singapore trong giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ 2 (1945–1955)
Sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh vào ngày 15 tháng 8 năm 1945, Singapore rơi vào một tình trạng vô tổ chức trong một thời gian ngắn; cướp bóc và giết người báo thù lan rộng. Các binh sĩ Anh Quốc dưới quyền lãnh đạo của Bá tước Louis Mountbatten trở lại Singapore để tiếp nhận đầu hàng chính thức của lực lượng Nhật Bản trong khu vực từ Tướng Itagaki Seishiro nhân danh Nguyên soái Hisaichi Terauchi vào ngày 12 tháng 9 năm 1945
. Một Chính phủ quân sự Anh Quốc được thành lập để quản lý Singapore, tồn tại cho đến tháng 3 năm 1946. Phần lớn cơ sở hạ tầng bị phá hủy trong chiến tranh, kể cả các hệ thống cung cấp điện và nước, dịch vụ điện thoại, cũng như các thiết bị cảng tại bến cảng Singapore. Xảy ra một tình trạng thiếu lương thực dẫn đến thiếu ăn, bệnh tật, tội phạm và bạo lực lan tràn. Giá lương thực ở mức cao, nạn thất nghiệp, và bất mãn của công nhân lên đến cực độ trong một loạt cuộc đình công vào năm 1947 gây đình trệ nghiêm trọng trong giao thông công cộng và các dịch vụ khác. Đến cuối năm 1947, kinh tế bắt đầu phục hồi, được thúc đẩy nhờ nhu cầu ngày càng tăng đối với thiếc và cao su trên khắp thế giới, song phải mất vài năm nữa thì kinh tế mới trở lại mức tiền chiến.

Vào tháng 11/ 1945, Bộ Thuộc Địa Anh đã thiết lập một hội đồng cố vấn (an advisory council) gồm người Singapore để làm việc bên cạnh Cơ Quan Hành Chánh Quân Sự Anh. Trong số 17 nhân viên của Hội Đồng kể trên, có Wu Tian Wang là một cựu lãnh tụ du kích chiến và Chủ Tịch của Ủy Ban Cộng Sản của Singapore vì đảng Cộng Sản vào thời gian này rất được lòng dân chúng địa phương do công cuộc kháng chiến. Vào tháng 1/ 1946, đội quân chống Nhật coi như bị giải tán sau khi lãnh tụ du kích là Chin Peng và các người khác được Lord Mountbatten gắn huy chương, nhưng thực ra đảng Cộng Sản Mã Lai vẫn còn cất giữ rất nhiều vũ khí.

Đảng Cộng Sản Mã Lai vào cuối năm 1945 có vào khoảng 70,000 người ủng hộ, đã dồn nỗ lực vào các tổ chức lao động, thường gây nên các cuộc náo loạn. Cuộc tổng đình công hai ngày vào tháng 1/ 1946 với 173,000 công nhân đã khiến cho việc vận chuyển trong thành phố bị ngưng trệ. Vì thế chính quyền quân sự Anh đã bắt giữ 27 đảng viên Cộng Sản cầm đầu, đưa đi đầy 10 người khác mà không xét xử.

Vào tháng 4/ 1946, Cơ Quan Hành Chánh Quân Sự Anh đã ấn định việc thành lập Liên Bang Mã Lai, trong khi đó Singapore là một thuộc địa hoàng gia biệt lập, có cơ quan hành chánh dân sự. Cả hai quốc gia này chia xẻ về tiền tệ, bưu điện và bưu tín, thuế vụ, hàng không dân sự, quản trị di dân và nền giáo dục cao cấp. Do chống lại việc tách Singapore khỏi Mã Lai mà một đảng chính trị địa phương tên là Liên Đoàn Dân Chủ Mã Lai MDU (the Malayan Democratic Union) được thành lập. Mặc dù phần lớn các người sáng lập không phải là Cộng Sản, nhưng liên đoàn này cũng có các người Cộng Sản như ông Wu Tian Wang. Đồng thời vào tháng 3/ 1946 cũng ra đời Tổ Chức Quốc Gia Mã Lai Đoàn Kết UMNO (the United Malays National Organization) được chính quyền Anh thừa nhận. Singapore vẫn là một thuộc địa hoàng gia ở bên ngoài. Đảng UMNO là đảng phái chính trị hoạt động nhạnh nhất tại Mã Lai vào thời kỳ này, đã chủ trương một liên bang gồm có các quốc gia Hồi giáo và chống lại các đạo luật cho phép nhiều sắc dân có các quyền lợi bình đẳng bởi vì điều này sẽ làm thiệt hại vị thế đặc biệt của người dân gốc Mã.

Vào tháng 8/ 1947 cũng xuất hiện đảng Cấp Tiến (the Progressive Party) gồm các doanh nhân và trí thức được giáo dục tại nước Anh, đảng này có tính ôn hòa. Họat động của các người Cộng Sản Mã Lai thường đưa tới các bạo động và khủng bố (violence and terrorism) nên đã khiến cho chính quyền địa phương ban ra các quy luật khẩn cấp (emergency regulations) hạn chế hội họp và đình công, bắt giữ các người khuấy động mà không xét xử. Đảng Cộng Sản Mã Lai vì thế bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và Liên Đoàn Dân Chủ Mã Lai MDU càng ngày càng trở nên cấp tiến, đã tẩy chay cuộc bầu cử đầu tiên của Singapore vào năm 1947.

Sau một số thành công về chính trị, các người Cộng Sản hoạt động tại Mã Lai nhận thấy rằng họ không thể giành được chính quyền bằng con đường hợp pháp nếu đi theo lịch trình chính trị của chính phủ thuộc địa Anh, vì vậy họ bắt đầu một phong trào đấu tranh võ trang. Chính quyền Anh bèn tuyên bố tình trạng khẩn trương và các người Cộng Sản bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Trên bán đảo Mã Lai đã xẩy ra cuộc chiến tranh du kích, kéo dài trong 12 năm nhưng tại Singapore đã không có trận chiến nào diễn ra và khuynh hướng thiên tả cũng bị suy tàn dần do các quy luật khẩn trương. Như thế tại Singapore, chỉ còn hai đảng phái là đảng Cấp Tiến và đảng Lao Động (the Singapore Labour Party) được thành lập năm 1948 để rồi 4 năm về sau cũng tan rã.

Các đảng phái có quyền lực vào thời kỳ này gồm các người đã được giáo dục tại nước Anh, thân với chính quyền Anh nên các đường lối chính trị có tính xa cách người địa phương, nhất là các người gốc Trung Hoa, trong khi người Hoa do thiếu cơ hội học lên cao nên đã qua học tại lục địa. Vì thế một nhà kỹ nghệ người Hoa giàu có là ông Tan Lark Sye đã đề nghị và bỏ tiền ra thành lập vào năm 1956 một đại học giáo dục Trung Hoa, đó là Đại Học Nanyang (Nam Dương).


Cộng đồng người Hoa tại Singapore mang quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc (viết chữ Tổ quốc vạn tuế 祖國萬歲) nhằm tán dương thắng lợi, cũng phản ánh vấn đề bản sắc Trung Hoa vào đương thời.
Tình hình chính trị tại Singapore cho tới lúc này vẫn còn xáo trộn với các cuộc đình công, với các tổ chức chính trị như Liên Đoàn Công Nhân Xí Nghiệp và Cửa Hàng (the Singapore Factory and Shop Workers ‘ Union), Liên Đoàn Công Nhân Xe Buýt (the Singapore Bus Workers ‘ Union) và Liên Đoàn các Giáo Chức (the Singapore Teachers ‘ Union). Kế đó, Mặt Trận Lao Động (the Labour Front) được thành lập vào tháng 7/ 1954 và vào tháng 11/ 1954 là đảng Nhân Dân Hành Động (the People ‘s Action Party).


Singapore giai đoạn tự trị (1955–1963)
Lãnh đạo của Mặt trận Lao động là David Marshall trở thành thủ tịch bộ trưởng đầu tiên của Singapore.
Ông điều khiển một chính phủ yếu, nhận được ít hợp tác từ chính phủ thuộc địa cũng như các chính đảng địa phương khác. Tình trạng bất ổn xã hội gia tăng, và trong tháng 5 năm 1955, bạo động xe buýt Phúc Lợi (Hock Lee) bùng phát, khiến bốn người bị sát hại và chính phủ của Marshall bị mất tín nhiệm nghiêm trọng. Năm 1956, bạo động trung học Hoa văn bùng phát trong các học sinh tại trường Trung học Hoa kiều và các trường học khác, tiếp tục làm gia tăng căng thẳng giữa chính phủ bản địa với các học sinh người Hoa và công đoàn viên-những người được cho là có cảm tình cộng sản.

Trong tháng 4 năm 1956, Marshall dẫn một phái đoàn đến Luân Đôn để đàm phàm về tự trị hoàn toàn, song đàm phán thất bại khi Anh Quốc không sẵn lòng trao quyền kiểm soát nội an của Singapore. Anh Quốc lo ngại về ảnh hưởng cộng sản và các cuộc đình công vốn đang phá hoại ổn định kinh tế của Singapore, và cảm thấy rằng chính phủ bản địa vô dụng trong việc xử lý các bạo động trước đó. Marshall từ chức sau khi đàm phán thất bại.

Tổng tuyển cử nghị hội lập pháp mới được tổ chức trong tháng 5 năm 1959. Đảng Hành động Nhân dân chiến thắng vang dội, giành được 43 trên 51 ghế. Họ đạt được kết quả này là nhờ tranh thủ cộng đồng người Hoa chiếm đa số, đặc biệt là những người trong công đoàn và các tổ chức học sinh cấp tiến. Lãnh đạo đảng là Lý Quang Diệu trở thành Thủ tướng đầu tiên của Singapore.

Lý Quang Diệu

 

Mặc dù thành công trong việc quản lý Singapore, các lãnh đạo của Đảng Hành động Nhân dân, kể cả Lý Quang Diệu và Ngô Khánh Thụy, cho rằng tương lai của Singapore gắn với Malaya. Họ cảm thấy rằng những mối quan hệ lịch sử và kinh tế giữa Singapore và Malaya là quá vững chắc để Singapore có thể là một quốc gia riêng biệt, và họ vận động mạnh mẽ nhằm sáp nhập. Trên phương diện khác, phe thân cộng khá lớn của Đảng Hành động Nhân dân thì phản đối dữ dội việc sáp nhập, lo sợ mất ảnh hưởng do đảng cầm quyền tại Malaya là Tổ chức Dân tộc Mã Lai

Thống nhất kiên quyết chống cộng và sẽ hỗ trợ cho phe phi cộng trong Đảng Hành động Nhân dân chống lại họ. Vấn đề lên đến đỉnh điểm trong năm 1961, khi bộ trưởng thân cộng của Đảng Hành động Nhân dân là Vương Vĩnh Nguyên ly khai khỏi đảng và đánh bại một ứng cử viên của Đảng Hành động Nhân dân trong cuộc bầu cử bổ sung sau đó, một động thái đe dọa khiến cho chính phủ Lý Quang Diệu sụp đổ.

Đối diện với viễn cảnh những người thân cộng tiếp quản quyền lực tại Singapore, Tổ chức dân tộc Mã Lai thống nhất thay đổi quan điểm của họ về hợp nhất. Vào ngày 27 tháng 5, Thủ tướng Malaya Tunku Abdul Rahman, thảo luận ý tưởng về một Liên bang Malaysia, bao gồm Liên bang Malaya, Singapore, Brunei và các lãnh thổ của Anh tại bắc bộ đảo Borneo là Sabah và Sarawak hiện nay. Các lãnh đạo của Tổ chức dân tộc Mã Lai thống nhất cho rằng việc bổ sung dân cư Mã Lai tại các lãnh thổ Borneo sẽ bù đắp dân số người Hoa tại Singapore. Ngày 9 tháng 7 năm 1963, các lãnh đạo của Singapore, Malaya, Sabah và Sarawak ký kết Hiệp định Malaysia để thành lập Liên bang Malaysia chính thức chấm dứt thời kỳ tự trị tại Singapore.


Singapore thời kỳ là thuộc địa của Malaysia (1963–1965)
Ngày 16 tháng 9 năm 1963, Malaya, Singapore, Bắc Borneo và Sarawak chính thức hợp nhất và Malaysia hình thành
. Chính phủ của Đảng Hành động Nhân dân cảm thấy sẽ khó khăn để Singapore tồn tại như một quốc gia. Singapore thiếu tài nguyên tự nhiên và đối diện với suy giảm mậu dịch trung chuyển cùng dan số tăng trưởng vốn đòi hỏi công việc. Do đó, Singapore cảm thẩy rằng hợp nhất có lợi cho kinh tế khi tạo ra một thị trường tự do chung, loại bỏ thuế quan mậu dịch, giải quyết khủng hoảng thất nghiệp và trợ giúp các ngành công nghiệp mới. Chính phủ Anh Quốc miễn cưỡng trong việc trao quyền độc lập hoàn toàn cho Singapore vì họ cho rằng điều này sẽ cung cấp một nơi ẩn náu cho cộng sản. Liên minh không vững vàng ngay từ đầu, trong tuyển cử cấp bang tại Singapore năm 1963, một chi bộ địa phương của Tổ chức dân tộc Mã Lai thống nhất tham gia tranh cử bất chấp thỏa thuận rằng đảng này sẽ không tham gia chính trị của bang trong những năm đầu khi Malaysia hình thành. Mặc dù Tổ chức dân tộc Mã Lai thống nhất không thắng cử được ghế nào, song quan hệ giữa họ với Đảng Hành động Nhân dân bị xấu đi. Nhằm trả đũa, Đảng Hành động nhân dân thách thức các ứng cử viên của Tổ chức dân tộc Mã Lai thống nhất trong bầu cử liên bang năm 1964, giành được một ghế trong Quốc hội Malaysia.

Căng thẳng dân tộc gia tăng khi người Hoa tại Singapore bất bình trước các chính sách pháp án bình quyền của liên bang, mà theo đó trao đặc quyền cho người Mã Lai dựa theo Điều 153 trong Hiến pháp Malaysia. Cũng có những lợi ích tài chính và kinh tế khác được ưu tiên cho người Mã Lai. Lý Quang Diệu và các lãnh đạo chính đảng khác bắt đầu vận động cho sự công bằng và đối xử bình đẳng với toàn bộ các chủng tộc tại Malaysia.

Trong khi đó, người Mã Lai tại Singapore ngày càng bị kích động trước những cáo buộc của chính phủ liên bang rằng Đảng Hành động Nhân dân ngược đãi người Mã Lai. Tình hình chính trị đối ngoại cũng căng thẳng, Tổng thống Indonesia Sukarno tuyên bố về một tình trạng Konfrontasi (đối đầu) chống Malaysia và bắt đầu các hành động kể cả quân sự nhằm chống lại liên bang mới thành lập, trong đó đặc công Indonesia đánh bom MacDonald House tại Singapore vào ngày 10 tháng 3 năm 1965, khiến ba người thiệt mạng. Indonesia cũng chỉ đạo các hành động dấy loạn để kích động người Mã Lai chống người Hoa. Một số bạo động dân tộc diễn ra, lệnh giới nghiêm thường xuyên được áp đặt nhằm khôi phục trật tự. Nghiêm trọng nhất là cuộc bạo động diễn ra vào ngày 21 tháng 7 năm 1964, tức ngày kỷ niệm sinh nhật nhà tiên tri Muhammad, với 23 người thiệt mạng và hàng trăm người bị thương. Trong tình trạng bất ổn, giá thực phẩm tăng vọt và hệ thống giao thông bị gián đoạn, gây thêm khó khăn cho nhân dân.


Vào sáng ngày 9 tháng 8 năm 1965, Quốc hội Malaysia bỏ phiếu với kết quả 126–0 ủng hộ một sửa đổi hiến pháp trục xuất Singapore khỏi liên bang; vài giờ sau đó, Nghị viện Singapore thông qua Đạo luật Độc lập nước Cộng hòa Singapore, kiến lập một nước cộng hòa độc lập và có chủ quyền. Lý Quang Diệu buồn bã tuyên bố trong một buổi họp báo được phát trên truyền hình rằng Singapore đã trở thành một quốc gia có chủ quyền, độc lập. Ông nói rằng: “Đối với tôi, đó là một khoảnh khắc đau đớn. Trong toàn bộ đời tôi, cuộc đời trưởng thành của tôi, tôi tin tưởng vào hợp nhất và thống nhất của hai lãnh thổ. Yusof bin Ishak được bổ nhiệm làm tổng thống đầu tiên của nước Cộng hòa Singapore.

Nếu nhìn vào đất nước Singapore ngày nay, ít ai ngờ rằng trong quá khứ, Singapore không có ý tưởng về một quốc gia độc lập. Là một thương cảng có vai trò rất quan trọng, nhưng những người sinh sống tại Singapore trước 1963, hầu hết đều đơn thuần chỉ coi đấy là nơi họ làm việc, không phải “nhà” của mình.

Cố Thủ tướng Singapore, ông Lý Quang Diệu chính là người theo đuổi quyết liệt nhất chính sách sáp nhập Singapore với Malay, để hình thành nên đất nước có tên Malaysia. Trong quan điểm của ông, việc dựa vào Malay là cần thiết sau khi người Anh ngày càng kém tin cậy. Nỗ lực này sau đó thành công, nhưng không bền vững. Ngày Singapore buộc phải tách ra khỏi Malaysia, ông Lý đã không cầm được nước mắt. 

Quốc Gia Ngẫu Nhiên (The Accidental Nation) là phần 2 trong loạt phim 3 tập về Lịch sử Singapore do Discovery thực hiện. Đây là quãng thời gian định hình nên những thay đổi vĩnh viễn của Singapore với xuất hiện của một lực lượng chiếm tới 2/3 dân số đảo quốc: Người Hoa.


Đất nước Singapore giai đoạn 1965 đến nay
Hai ngày sau khi chia tách Mã Lai – Singapore, chính phủ Lý Quang Diệu đã công bố Singapore là một nước cộng hòa với tiếng Mã Lai là quốc ngữ và các ngôn ngữ chính là tiếng Mã, tiếng Hoa, tiếng Tamil và tiếng Anh
. Hội Nghị Lập Hiến được gọi là Quốc Hội (Parliament) và vị lãnh tụ người Mã, ông Yusof bin Ishak, được công nhận là Tổng Thống. Quốc gia mới này liền được các nước Anh, Úc, Tân Tây Lan và Hoa Kỳ công nhận và vào tháng 9, được nhận vào Liên Hiệp Quốc, tháng 10 vào Liên Hiệp Anh. Từ nay các nhà lãnh tụ Singapore phải chuyên tâm xây dựng một quốc gia độc lập. Rồi tới năm 1967, Tổ Chức ASEAN được thành lập gồm Singapore, Mã Lai, Indonesia, Thái Lan và Phi Luật Tân.

Chính quyền Singapore vào thời kỳ này đã cố gắng tạo dựng nên một xã hội nhiều sắc dân và nhiều ngôn ngữ, khuyến khích sự đa dạng về văn hóa. Nền giáo dục bằng tiếng Anh được người dân chú trọng hơn vì sự chuẩn bị vào các khu vực thương mại, kỹ nghệ và chính quyền. Năm 1968 tại Singapore có 300 ngàn em học sinh học tiếng Anh so với 130 ngàn em học tiếng Hoa và 2 ngàn em học tiếng Mã. Tuy nhiên, các học sinh vẫn được khuyến khích học thêm tiếng mẹ đẻ, coi như một ngôn ngữ thứ hai. Chính các nhà lãnh đạo như ông Lý Quang Diệu, cũng gửi các con theo học tại trường dạy tiếng Trung Hoa vì họ tin tưởng nơi đây rèn luyện các đức tính truyền thống tốt hơn. Chính phủ Singapore cũng chống tham nhũng tại mọi tầng lớp hành chánh, chú tâm vào kỷ luật xã hội, nhai kẹo cao bị cấm đoán, việc hút thuốc lá tại nơi công cộng bị phạt nặng. Dưới thời ông Goh Keng Swee và các bộ trưởng tài chánh có tài, chính phủ Singapore đã cố gắng ve vãn tư bản địa phương và ngoại quốc, giúp đỡ các kỹ nghệ xuất cảng, làm thăng tiến mậu dịch, làm sao cho Singapore không lệ thuộc vào nguồn đầu tư tài chánh của nước Anh.

Sau khi ông Suharto lên nắm quyền tại Indonesia vào năm 1966, việc giao thương giữa Singapore và Indonesia được nối lại. Liên lạc buôn bán với Nhật Bản và Hoa Kỳ cũng gia tăng, nhất là khi người Mỹ tham dự vào cuộc Chiến Tranh Đông Dương.

Một trở ngại lớn cho công cuộc đầu tư tại Singapore là các cuộc tranh cãi và đình công lao động. Vào tháng 8/ 1968, chính phủ Singapore đã thông qua một đạo luật cho chủ nhân các xí nghiệp nhiều quyền hành về tuyển dụng, thăng thưởng và sa thải nhân công, việc giảm bớt số ngày nghỉ phép, tăng giờ làm việc. Công nhân có quyền nghỉ phép lúc đau yếu, lãnh trợ cấp thất nghiệp và có quyền khiếu nại tại Bộ Lao Động và chủ nhân phải đóng góp vào Quỹ Tiết Kiệm Trung Ương (the Central Provident Fund). Nhờ các luật mới này, sản lượng gia tăng và đã không có các cuộc đình công vào năm 1969. Vào đầu thập niên 1970, Singapore và Mã Lai đã tách biệt về tiền tệ, thị trường chứng khoán và hàng không.

Chính phủ Singapore cũng thiết lập nên Đại Công Ty Jurong (the Jurong Town Corporation) và các khu kỹ nghệ khác. Vào năm 1971, 271 xí nghiệp tại Jurong đã xử dụng 32,000 công nhân và còn có hơn 100 xí nghiệp xây dựng. Các nhà đầu tư ngoại quốc bị lôi cuốn tới Singapore vì tình trạng lao động cải tiến, vì thuế nhẹ tới 5 năm, vì tại các xí nghiệp của chính phủ không bị hạn chế chuyển tiền lời và tiền đầu tư về nước. . . Vào năm 1972, đầu tư của Hoa Kỳ đã chiếm 42% tổng số đầu tư ngoại quốc. Ngoài ra còn có các công ty Tây Âu, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Mã Lai, Úc. . . và cũng vào năm này, một phần tư cơ sở sản xuất của Singapore là các công ty liên doanh (joint-venture companies) hay công ty do người ngoại quốc làm chủ.

Một lôi cuốn khác của Singapore về nguồn tư bản ngoại quốc là do tài nguyên về dầu lửa. Singapore đã là căn cứ để khai thác kỹ nghệ dầu mỏ trong vùng, bao gồm cả Indonesia, lại là một nơi tồn trữ và lọc dầu đứng hàng thứ ba trên thế giới vào giữa năm 1970.

Vào tháng 1/ 1968, chính phủ Anh tuyên bố sẽ rút lui trong vòng 3 năm căn cứ quân sự đặt tại Singapore trong khi căn cứ này cung cấp 25% GNP của Singapore tức là vào khoảng 450 triệu đồng tiền, cũng như xử dụng 21,000 nhân công địa phương. Chính phủ của ông Lý Quang Diệu đã đổi Cầu Tầu King George VI thành xưởng đóng tầu Sembawang, dùng lại 3,000 công nhân cũ vào việc đóng và sửa chữa tầu biển. Singapore cũng đi vào ngành kỹ nghệ vận tải hàng hải với Công Ty Neptune Orient Line. Vào năm 1975, Singapore là hải cảng bận rộn thứ ba trên thế giới, sau Rotterdam và New York.


Hình ảnh đất nước Singapore ngày nay, một đất nước hiện đại và phát triển bậc nhất Châu Á
Sự thành công về kinh tế và sự yên tĩnh trong xứ không phải là không trả giá. Chính quyền Singapore đã kiểm soát chặt chẽ ngành truyền thông, cấm đoán mọi chỉ trích công cộng. Báo chí bị kiểm duyệt. Các người bất đồng chính kiến bị áp chế và chỉ có một đảng phái trên đất nước.

Trên đây là một vài nét về lịch sử Singapore trong quá trình hình thành và phát triển. Để đạt được thành tựu như ngày hôm qua đất nước Singapore cũng đã phải trải qua những giai đoạn đen tối, những giai là thuộc địa phải không nào. Hy vọng rằng với bài viết này sẽ giúp các bạn có thêm được những kiến thức hữu ích về lịch sử đất nước Singapore.

(Theo Lịch sử Á Châu)

============Đọc thêm: Lý Hiển Long [Lý Hiển Long phát biểu về Việt Nam xâm lược Campuchia]

Lý Hiển Long (tên chữ Latin: Lee Hsien Loong, chữ Hán giản thể: 李显龙; chữ Hán phồn thể: 李顯龍; Pinyin: Lǐ Xiǎnlóng, sinh ngày 10 tháng 2 năm 1952) là Thủ tướng thứ ba của Singapore, từng là Bộ trưởng Tài chính. Lý Hiển Long là con cả của thủ tướng đầu tiên của Singapore Lý Quang Diệu. Vợ của Lý Hiển Long, Ho Ching (Hà Tinh), là Giám đốc điều hành và CEO của công ty quốc doanh Temasek Holdings.
Là con trai đầu của cựu thủ tướng Lý Quang Diệu và bà Kha Ngọc Chi (Kwa Geok Choo), Lý Hiển Long sinh ngày 10 tháng 2 năm 1952 tại Singapore. Theo hồi ký của Lý Quang Diệu, lúc mới lên năm Lý Hiển Long bắt đầu học chữ Jawi (hệ thống mẫu tự tiếng Ả Rập được dùng để làm chữ viết cho ngôn ngữ Mã Lai), và luôn tỏ ra quan tâm cách vui thích đến các vấn đề của đảo quốc Singapore, từ năm 1963 cậu Lý thường theo cha đến tham dự các buổi tụ tập chính trị.

Lý Hiển Long tiếp nhận nền giáo dục trung học tại Trường Trung học Công giáo, rồi tiếp tục theo học tại trường Cao đẳng Quốc gia (National Junior College), sau đó học chuyên ngành toán tại trường Trinity, Đại học Cambridge, Anh quốc, tốt nghiệp ưu hạng Toán học năm 1974 đồng thời nhận một chứng chỉ Khoa học Vi tính (hạng danh dự). Sau đó, năm 1980, ông lấy học vị Thạc sĩ môn Quản trị Công quyền (MPA) tại Trường Hành chính Kennedy thuộc Đại học Harvard.

Lý Hiển Long gia nhập Lực lượng Vũ trang Singapore (SAF) năm 1971, năm 1984 giải ngũ với quân hàm chuẩn tướng, đó là lúc ông đắc cử vào Quốc hội.

Bác sĩ y khoa Hoàng Danh Dương, người vợ sinh trưởng tại Malaysia của Lý Hiển Long, qua đời năm 1982 ba tuần sau khi sinh nở.[1] Năm 1985, ông kết hôn với Hà Tinh, một công chức đang trên đà thăng tiến. Họ có một con gái và hai con trai (kể cả cô con gái và cậu con trai của người vợ trước).

Năm 1992, Lý Hiển Long bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư bạch cầu (lymphoma) và phải trải qua ba tháng hoá trị liệu. Suốt trong thời gian này, ngoại diện của Lý Hiển Long sa sút thảm hại.
Năm 1984, ở tuổi 32 Lý Hiển Long khởi đầu sự nghiệp chính trị của mình. Được cha ông, Lý Quang Diệu, bổ nhiệm vào chức vụ quốc vụ khanh thuộc bộ thương mại và công nghiệp và bộ quốc phòng vào tháng 12 năm 1984, sau đó ông trở thành quyền Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp năm 1986, và sau đó là thứ trưởng bộ quốc phòng.

Tháng 1 năm 1987, vấn đề chủng tộc trở nên gay gắt khi những người gốc Mã Lai bắt đầu tra vấn các dân biểu quốc hội tại sao có quá ít người gốc Mã Lai nắm giữ các vị trí then chốt trong lực lượng vũ trang Singapore (SAF). Lý Hiển Long, khi ấy là bộ trưởng thương mại và công nghiệp kiêm thứ trưởng bộ quốc phòng, phát biểu rằng SAF không cần có những quân nhân nắm giữ các chức vụ mà lòng trung thành của người lính có thể xung đột với những tình cảm tôn giáo và chủng tộc.
Lý Hiển Long trở thành Phó thủ tướng khi Ngô Tác Đống (Goh Chok Tong) đảm nhiệm chức vụ Thủ tướng Singapore ngày 28 tháng 11 năm 1990, Lý chuyên trách các vấn đề kinh tế và dân chính, đồng thời tiếp tục nắm giữ chức vụ bộ trưởng thương mại và công nghiệp đến năm 1992.

Năm 1998, Lý Hiển Long được bổ nhiệm vào chức vụ Chủ tịch Cơ quan Quản lý Tiền tệ Singapore, và Bộ trưởng Tài chính năm 2001. Suốt trong mười ba năm rưỡi trong cương vị Phó thủ tướng, ông đã hành xử ảnh hưởng rộng lớn của mình giúp thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của Singapore, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và xã hội.

Sau nhiều thỉnh cầu đến từ các nghị sĩ quốc hội và từ Uỷ ban Tái tạo Singapore, Lý Hiển Long khởi xướng một luật mới về quyền công dân khi nhận ra rằng phụ nữ Singapore kết hôn với ngoại kiều và sinh con ở nước ngoài mong muốn con mình có cơ hội nhập quốc tịch Singapore.

Mặc dù luật mới vẫn còn những hạn chế đối với quyền nhập quốc tịch theo huyết thống, một đứa trẻ sinh ở nước ngoài có thể có quốc tịch Singapore nếu cha mẹ đứa trẻ cư trú tại Singapore ít nhất là hai năm trong quãng thời gian năm năm trước khi đứa trẻ ra đời. Trước đây, luật lệ Singapore không công nhận quyền công dân theo huyết thống – trong trường hợp những người có cha mẹ là công dân Singapore nhưng sinh tại nước ngoài.

Ngày 12 tháng 8 năm 2004, Lý Hiển Long kế nhiệm Ngô Tác Đống trong cương vị thủ tướng và bàn giao chức vụ Chủ tịch Cơ quan Tiền tệ Singapore cho Ngô Tác Đống.

Ngày 5 tháng 6 năm 2005, Lý Hiển Long chủ toạ lễ khánh thành Trung tâm Di sản Mã Lai mới được phục hồi tại Singapore với sự chứng kiến của Yaacob Ibrahim, Bộ trưởng các vấn đề Hồi giáo.

Khi làn sóng hải tặc dâng cao, nhiều tàu biển bị tấn công khi đi qua Eo biển Malacca. Ước tính mỗi năm có khoảng 50.000 tàu thuyền đi qua eo biển này. Đối phó với nạn hải tặc, Lý Hiển Long tìm kiếm những trợ giúp từ Hoa Kỳ và các quốc gia lân cận trong một hội nghị dành cho bộ trưởng quốc phòng đến từ các quốc gia trên khắp thế giới được tổ chức vào ngày 3 tháng 6 năm 2005.

Ngày 19 tháng 9 năm 2005, Lý Hiển Long thu hút sự chú ý của công luận tại đảo quốc khi đích thân đi kiểm tra vùng sinh sôi của muỗi tại khu vực cống thoát nước trên đại lộ Ang Mo Kio, đến thăm nhà dân, một ngôi chợ và một trung tâm bán lẻ thuộc phường Teck Ghee, nơi ông cư trú, đi ra gặp gỡ cư dân ở đó để phân phát tờ rơi, biểu ngữ và thuốc diệt côn trùng.

Động thái này là một phần trong sáng kiến của Lý Hiển Long nhằm khẳng định thông điệp của Bộ trưởng Môi trường và Tài nguyên Nước Yaacob Ibrahim kêu gọi kiểm soát sự lây lan của virus bệnh sốt xuất huyết (dengue).
Ngày 12 tháng 8 năm 2004, mười sáu ngày sau khi nhậm chức thủ tướng, trong bài "Diễn văn Hiệu triệu nhân ngày Quốc khánh", Lý Hiển Long đưa ra sáng kiến "tuần lễ năm ngày làm việc", bỏ một buổi làm việc vào thứ bảy. Kế hoạch này bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2005.

Lý Hiển Long cũng đề xuất chế độ nghỉ hộ sản hai tháng có lương dành cho bà mẹ sinh con đầu lòng cùng với những khích lệ tài chính dành cho phụ nữ đồng ý sinh con thứ tư. Chính sách này được khởi xướng nhằm đối phó với tình trạng sinh suất giảm mạnh tại Singapore trong những năm gần đây.

Tháng 11 năm 2004, Lý Hiển Long gây ra một cuộc tranh luận toàn quốc khi tiết lộ dự án xây dựng hai khu nghỉ dưỡng liên hợp có sòng bạc. Tháng 4 năm 2005, mặc cho sự chống đối của công luận, Lý Hiển Long tuyên bố ủng hộ dự án. Hai khu nghỉ dưỡng liên hợp này được xây dựng tại Vịnh Marina và Sentosa. Nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của các hoạt động bài bạc tại các sòng bạc, thủ tướng đề ra những biện pháp kiểm soát như cấm trẻ vị thành niên vào sòng bài, quy định giá vào cửa đến 100 SGD cho công dân và người cư trú dài hạn ở Singapore, hoặc vé năm là 2000 SGD.

Ngày 22 tháng 8 năm 2005, trong bài diễn văn hiệu triệu ngày quốc khánh, Lý Hiển Long vạch ra lộ trình tái tạo Singapore và kêu gọi sự tham gia tích cực của người dân. Ông miêu tả hình ảnh Singapore năm 2015 với những thay đổi quan trọng trong sáu khu vực chính của đảo quốc:

1. Thành phố của tương lai?

Một khu trung tâm tại Vịnh Marina với ba khu vườn, một hồ nước, một khu nghỉ dưỡng liên hợp cùng một trung tâm kinh doanh và tài chính sang trọng. Bên cạnh đó là phố Orchard sinh động, khu Bras Brasah và khu Bugis náo nhiệt.
2. Thúc đẩy nghiên cứu và phát triển nền kinh tế

Hội đồng Nghiên cứu, Đổi mới và Thực nghiệm được thành lập nhằm nâng nền kinh tế lên một tầm cao mới. Hội đồng này đặt dưới quyền lãnh đạo của Thủ tướng Lý với Phó thủ tướng Tony Tan đảm nhiệm vị trí phó chủ tịch hội đồng.
Tổ chức Nghiên cứu Quốc gia được thành lập, đứng đầu là Tiến sĩ Tan.
3. Văn hoá dịch vụ

Một chiến dịch lâu dài sẽ được phát động trên toàn quốc nhằm nâng cao tiêu chuẩn các loại dịch vụ, lãnh đạo chiến dịch là Bộ trưởng Raymond Lim.
4. Giáo dục

Các trường bách khoa sẽ liên kết trong những lĩnh vực mũi nhọn với các viện đại học chuyên ngành ở nước ngoài.
Chương trình giáo dục sau trung học chịu trách nhiệm giúp học sinh kiếm tiền trả học phí đại học.
Thay đổi giáo trình tại các trường kỹ thuật sao cho học sinh cảm thấy thích thú hơn với phương pháp học nhóm, thực hành và sử dụng kỹ thuật tin học.
5. Trợ giúp người có thu nhập thấp

Trợ cấp nhà ở cho những gia đình nghèo trích từ quỹ dự phòng trung ương nhằm giúp họ có thể mua các căn hộ chung cư của chính phủ.
6. Y tế

Độ tuổi giới hạn trong chương trình bảo hiểm y tế Medishield được nâng lên từ 80 đến 85.
Sử dụng quỹ tiết kiệm y tế linh động hơn để có thể chi trả viện phí tại bệnh viện tư và các bệnh viện sang trọng cũng như các dưỡng đường điều trị đặc biệt.
"Chúng ta đang kiến tạo tinh thần Singapore. Đó là dũng cảm mà nhân ái, tự tin mà không tự mãn. Tinh thần Singapore là sợi dây ràng buộc chúng ta lại với nhau để trở thành một dân tộc đoàn kết, trong đó mỗi một người dân đều góp phần tái tạo đất nước".
Đối ngoại
Trung Quốc
Quan hệ với Trung Quốc được cải thiện trong những năm cầm quyền của Lý Hiển Long. Có nhiều tiến bộ trong các lãnh vực như thương mại, du lịch và đầu tư, không chỉ phù hợp với lợi ích của hai quốc gia mà còn hứa hẹn những lợi ích lớn hơn cho sự phát triển chung của toàn khu vực. Hội đồng Phát triển Song phương Trung Quốc- Singapore chịu trách nhiệm xúc tiến các đề án hợp tác giữa hai quốc gia.

Trong một cuộc họp vào tháng 9 năm 2005 với phó thủ tướng Ngô Nghi, Lý Hiển Long đưa ra đề nghị thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do Trung Quốc – ASEAN với mục tiêu trao đổi thương mại trị giá 50 tỷ USD trước năm 2010. Để đạt mục tiêu này, cả hai phía đồng ý nâng mối quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN lên một tầm cao mới.

Trong chuyến viếng thăm kéo dài bảy ngày đến Trung Quốc vào cuối tháng 10 năm 2005, Thủ tướng Lý Hiển Long nhấn mạnh đến sự cần thiết phải cải thiện mối quan hệ song phương giữa ASEAN và Trung Quốc.

Hoa Kỳ
Bang giao giữa Singapore và Hoa Kỳ vốn đã có nhiều thuận lợi. Sự gia tăng mậu dịch hai chiều giúp cải thiện mối quan hệ thương mại và ngoại giao giữa hai quốc gia sau khi Thoả hiệp Tự do Mậu dịch Hoa Kỳ – Singapore có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 2004.

Từ ngày 6 đến ngày 16 tháng 7 năm 2005, Lý Hiển Long thực hiện chuyến viếng thăm đầu tiên đến Hoa Kỳ với tư cách thủ tướng Singapore có sự tháp tùng của một số bộ trưởng như Bộ trưởng Quốc phòng Tiêu Chí Hiền và Bộ trưởng Ngoại giao Geogre Dương Vinh Văn.


Thủ tướng Lý Hiển Long gặp Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush tại tòa Bạch Ốc năm 2005.
Ngày 12 tháng 7 năm 2005, Tổng thống George W. Bush ký với Thủ tướng Lý Hiển Long "Thoả ước khung chiến lược giữa Hoa Kỳ và Singapore nhằm tiến tới một sự hợp tác mật thiết hơn về an ninh và quốc phòng". Thoả ước là một bước tiến tự nhiên cho mối quan hệ song phương. Trước đó Tổng thống Bush và thủ tướng Ngô Tác Đống đã tuyên bố ý định tiến đến ký kết thoả ước vào tháng 10 năm 2003.

Thoả ước công nhận vai trò của Singapore như là một đối tác an ninh quan trọng và sẽ mở rộng khả năng hợp tác trong những lãnh vực như chống khủng bố, chống phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt (WMD), tổ chức huấn luyện và tập trận chung, thảo luận về chính sách và kỹ thuật phòng thủ. Thoả ước nhắm vào mục tiêu gia tăng sự ổn định trong khu vực bằng cách duy trì sự hiện diện của Hoa Kỳ trong vùng Đông Nam Á.

Cả hai nhà lãnh đạo đều đồng ý rằng sự hiện diện của Hoa Kỳ trong vùng giúp củng cố hoà bình và ổn định, cần thiết cho sự phát triển kinh tế và hợp tác trong khu vực.

Trong lần gặp gỡ này, Bush và Lý thừa nhận đã có nhiều tiến bộ trong cuộc chiến chống khủng bố. Lý Hiển Long khen ngợi quyết tâm và lập trường kiên định của Bush trong cuộc chiến chống khủng bố và khẳng định lập trường của Singapore tiếp tục ủng hộ nỗ lực này. Đáp lại, Bush tán dương tính chuyên nghiệp của sĩ quan và binh sĩ thuộc quân lực Singapore, được gởi đến Iraq trong hai năm qua với nhiệm vụ hỗ trợ các cuộc hành quân, và của lực lượng cảnh sát Singapore, trong công tác huấn luyện. Bush và Lý cam kết duy trì sự hợp tác mật thiết giữa hai quốc gia trong các thiết chế đa phương trong khu vực và trên thế giới.
1. Là con cả của thủ tướng đầu tiên của đảo quốc, Lý Quang Diệu, sự nghiệp chính trị của Lý Hiển Long luôn bị đeo đuổi bởi những cáo buộc về gia đình trị. Ở tuổi 32, ông là chuẩn tướng trẻ tuổi nhất trong lịch sử quân lực Singapore, ngay từ khi còn trẻ, ông đã được nhiều người nhìn xem là người sẽ kế vị cha ông trong chức vụ thủ tướng. Khi Lý Quang Diệu rút lui để mở lối cho người kế nhiệm, Ngô Tác Đống, một vài người cho rằng tân thủ tướng chỉ đóng vai trò của một người giữ chỗ mặc dù Lý Quang Diệu bác bỏ điều này. Trong quyển hồi ký, Lý Quang Diệu nhấn mạnh rằng ông không muốn con trai mình là người kế nhiệm trực tiếp.

"Tốt hơn là nên để một người khác kế nhiệm tôi trong chức vụ thủ tướng. Khi ấy Long sẽ có thời gian để khẳng định mình, mọi sự sẽ trở nên rõ ràng là con trai tôi lập thân bằng chính năng lực của mình".
Dù vậy, những cáo buộc cứ tiếp tục xuất hiện trong quãng thời gian từ 6 đến 7 năm cho đến khi Ngô Tác Đống cố chứng tỏ rằng ông không phải là người giữ chỗ bằng cách chiếm lại những ghế đã mất tại Quốc hội và nâng cao tỷ lệ phiếu đảng PAP giành được trong cuộc tổng tuyển cử năm 1997. Năm 1992, Lý Hiển Long mắc bệnh ung thư bạch cầu khiến nhiều nhà bình luận chính trị bày tỏ những nghi ngờ về năng lực thể chất của ông trong chức vụ thủ tướng với những ngày dài bận rộn và căng thẳng vì bị áp lực từ nhiều phía.

Cũng dễ hiểu khi vợ của Lý Hiển Long, Hồ Tinh, được bổ nhiệm làm giám đốc công ty đầu tư quốc doanh Temasek nhiều người tỏ ý bất bình. Song Lý Hiển Long đã phản ứng mạnh mẽ trước những cáo buộc và thắng cuộc trong những dàn xếp bên ngoài toà án về cáo buộc phỉ báng ông dành cho các tạp chí như International Herald Tribune (năm 1994), Bloomberg (2002) và The Economist (2004).

2. Vẫn thường xuất hiện những nhận xét cho rằng Lý Hiển Long ngạo mạn và chuyên quyền. Có một lời đồn đại dai dẳng kể rằng trong một buổi họp tiền nội các năm 1990, trong lúc tức giận Lý Hiển Long nhục mạ Bộ trưởng Tài chính Richard Hồ Tứ Đạo, sau đó tát bộ trưởng phát triển quốc gia S. Dhanabalan khi ông này bênh vực ông Hồ Tứ Đạo và yêu cầu ông Lý phải xin lỗi. Trong khi những người trực tiếp liên hệ đến vụ việc không bao giờ công khai nhắc đến sự kiện này thì vào năm 2003, Ngô Tác Đống, khi bàn luận về người kế nhiệm, bác bỏ nó và cho rằng đó chỉ là một chuyện huyễn hoặc.

3. Ngày 10 tháng 7 năm 2004, Lý Hiển Long gây ra một sự kiện ngoại giao với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa khi ông viếng thăm Đài Loan. Song trong bài diễn văn đầu tiên đọc trong ngày quốc khánh, Lý Hiển Long cho rằng giới lãnh đạo và người dân Đài Loan đánh giá quá cao sự ủng hộ dành cho họ nếu họ tuyên bố độc lập. Đồng thời ông cũng giải thích rằng chuyến viếng thăm đến Đài Loan chỉ để bảo đảm rằng ông đã thu thập thông tin đầy đủ hầu có thể đưa ra những quyết định đúng đắn khi nhận bàn giao chức vụ thủ tướng. Lý Hiển Long tái xác nhận sự ủng hộ dành cho chính sách một nước Trung Hoa. Sau đó vào tháng 9, Bộ trưởng Ngoại giao Sigapore George Dương Vinh Văn cảnh báo Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc về nguy cơ để cho tình hình hai bên bờ eo biển Đài Loan trở nên xấu hơn. Đáp lại, bộ trưởng ngoại giao Đài Loan, Mark Trần Đường Sơn, gọi Singapore là "nước Pi-Sai", nghĩa là "quốc gia bé như lỗ mũi". Về sau ông Trần phải chính thức xin lỗi Singapore.

4. Khởi phát từ những nhận xét của Lý Hiển Long về những lần thăm viếng đền Yasukuni của Thủ tướng Nhật Bản Koizumi, cho rằng Từ quan điểm của nhiều quốc gia trong vùng đã bị Nhật chiếm đóng, động thái này làm dấy lên những ký ức đau buồn, bùng phát những cuộc biểu tình bên ngoài toà đại sứ Singapore tại Nhật Bản trong ngày 24 tháng 5 năm 2005. Theo một số nguồn tin, những người biểu tình chỉ trích Lý Hiển Long là xen vào các vấn đề nội bộ của nước Nhật.

5. Trong tháng 11 năm 2005, tên của Lý Hiển Long xuất hiện trên trang đầu các tờ báo cùng với vụ hành quyết Nguyễn Tường Vân, một công dân Úc gốc Việt vì tội buôn ma tuý. Trong lần gặp gỡ với Thủ tướng Úc John Howard tại hội nghị thượng đỉnh APEC, Lý Hiển Long đã không chịu thông báo với Howard lịch hành quyết dù đã báo trước cho mẹ của Nguyễn Tường Vân. Mọi thỉnh cầu xin giảm án đều bị bác bỏ. Vân bị hành quyết ngày 2 tháng 12; trước đó do lời yêu cầu từ Thủ tướng Howard, mẹ của Vân được phép đến gặp và cầm tay con trai mình.

Tháng 1 năm 2006, Lý Hiển Long công bố cuộc tổng tuyển cử sắp đến sẽ tổ chức trong năm 2006 hoặc năm 2007.

6. Năm 2017, Lý Hiển Long bị hai em ruột lên án. Người em gái của thủ tướng Lý Hiển Long là Lý Vệ Linh (Lee Wei Ling) và em trai, ông Lý Viễn Dương (Lee Hsien Yang), đã công bố một bức thư ngỏ dài sáu trang mang tựa đề : “Điều gì đe dọa các giá trị của Lý Quang Diệu ?”. Vụ việc thoạt tiên mang tính nội bộ gia đình các con cố thủ tướng Lý Quang Diệu đã trở thành một vấn đề chính trị quốc gia. Hai người em cũng cáo buộc thủ tướng Lý Hiển Long bổ nhiệm luật sư riêng vào chức vụ chưởng lý, hồi đầu năm nay 2017. Ông còn bị lên án âm mưu dọn đường cho con trai, tức cháu nội cố thủ tướng Lý Quang Diệu, kế nhiệm. Vợ của thủ tướng Lý Hiển Long, bà Hà Tinh (Ho Ching) bị tố cáo thao túng chính quyền.

Lý Hiển Long phát biểu về Việt Nam xâm lược Campuchia
Ngày 31 tháng 5 năm 2019, Lý Hiển Long đăng trạng thái trên Facebook với nội dung chia buồn với Thủ tướng Thái Lan Prayuth Chan-ocha về sự kiện cựu Thủ tướng Prem Tinsulanonda qua đời. Tuy nhiên trong nội dung của bài đăng Lý Hiển Long đã nói rằng "Việt Nam đã xâm lược Campuchia" trong giai đoạn Diệt chủng Campuchia của chế độ Khmer Đỏ. Điều này đã gây sự phẫn nộ cho người dân và chính phủ Campuchia và Việt Nam về Lý Hiển Long cũng như "Singapore – một chính phủ tự nhận là đạo đức cao, chưa bao giờ lên án tội ác diệt chủng của Khmer Đỏ"

Youk Chhang, Giám đốc Trung tâm lưu trữ Campuchia, thì phát biểu "những bình luận của ông Lý Hiển Long cho thấy đã tới lúc ASEAN cần một chương trình giáo dục về hòa bình và nhân quyền cho khu vực. Một chương trình như vậy bây giờ nên bắt đầu từ Singapore" 

(Theo Wiki)

Share this: