Diện tích của Tây Tạng là 1.224.000 km2 , lớn gấp 7 lần nước Pháp, hoặc tương đương với hai bang Alaska và California cộng lại.
Dân số chỉ khoảng 2 triệu người, gồm nhiều chủng tộc khác nhau từ Mông Cổ, Iran, Afganistan, Kashmir đến, một phần du mục, một phần định cư. Các nhà ngôn ngữ học thường xếp tiếng Tạng là một ngôn ngữ thuộc Ngữ hệ Hán-Tạng, mặc dù ranh giới giữa "tiếng Tạng" với các ngôn ngữ Himalaya khác có thể không rõ ràng. Theo Matthew Kapstein:

Theo quan điểm của ngôn ngữ học lịch sử, tiếng Tạng tương đồng nhất với tiếng Miến Điện trong số các ngôn ngữ lớn tại châu Á. Nhóm hai ngôn ngữ này cùng với các ngôn ngữ khác dường như có liên hệ ở vùng đất Himalaya, cũng như ở vùng cao của Đông Nam Á và các khu vực ranh giới giữa Hán-Tạng, các nhà ngôn ngữ học nói chùng kết luận rằng có sự tồn tại của một họ ngôn ngữ Tạng-Miến. Gây nhiều tranh cãi hơn là việc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến được cho là một phần của một họ ngôn ngữ lớn hơn là ngữ hệ Hán-Tạng, qua đó tiếng Tạng và tiếng Miến là họ hàng xa của tiếng Hán.

Tiếng Tạng có nhiều phương ngữ địa phương thường không hiểu lẫn nhau. Nó được sử dụng trên khắp cao nguyên Tây Tạng và Bhutan, cũng được nói tại một số nơi ở Nepal và bắc Ấn Độ, như ở Sikkim. Nhìn chung, các phương ngữ ở trung bộ Tây Tạng (bao gồm Lhasa), Kham, Amdo và một số khu vực nhỏ hơn được xem là các phương ngữ tiếng Tạng. Các dạng khác, đặc biệt là Dzongkha, Sikkim, Sherpa, và Ladakh, được những người sử dụng chúng xem là các ngôn ngữ riêng biệt, phần lớn là vì lý do chính trị.

Mặc dù khẩu ngữ tiếng Tạng thay đổi tùy theo khu vực, song văn viết tiếng Tạng dựa trên ngôn ngữ Tạng cổ điển thì đồng nhất rộng khắp. Điều này có thể là do ảnh hưởng lâu dài của Thổ Phồn. Tiếng Tạng có chữ viết riêng, chung với tiếng Ladakh và tiếng Dzongkha, có nguồn gốc từ chữ Brāhmī từ Ấn Độ cổ đại.

Tây Tạng nằm giữa hai nền văn minh cổ đại của Trung Quốc và Ấn Độ, nhưng những dãy núi hiểm trở của cao nguyên Tây Tạng và dãy núi Himalaya làm đất nước này xa cách cả hai.

 

Tiếng Tây Tạng là một phần của nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến thuộc hệ ngôn ngữ Hán-Tạng. Lịch sử của Tây Tạng đặc biệt ở chỗ là đây là một quốc gia phụng sự Phật giáo, cả đối với dân xứ đó cũng như đối với người Mông Cổ (Mongol) và người Mãn Châu (Manchu). Tây Tạng còn có tên thường gọi là "mái nhà của thế giới" hay là "đất nước của tuyết".

Loài người định cư trên cao nguyên Tây Tạng ít nhất là từ 21.000 năm trước[11] Các cư dân này phần lớn bị thay thế vào khoảng năm 3000 TCN bởi những người nhập cư thời đại đồ đá mới đến từ miền Bắc Trung Quốc. Tuy nhiên, có một sự “di truyền cục bộ liên tục giữa các cư dân thời đại đồ đá cũ và những cư dân Tạng hiện đại”.[11]

Bản văn tiếng Tạng lâu đời nhất xác định văn hóa Tượng Hùng (Zhangzhung) là của một nhóm người nhập cư từ khu vực Amdo đến nơi mà nay là Guge ở tây bộ Tây Tạng.[12] Tượng Hùng được đánh giá là khởi nguồn ban đầu của tôn giáo Bön.[13] Vào thế kỷ 1 TCN, một vương quốc láng giềng nổi lên ở thung lũng Yarlung, và quốc vương Yarlung là Drigum Tsenpo (Chỉ Cống Tán Phổ) cố gắng loại bỏ ảnh hưởng của Tượng Hùng bằng việc trục xuất các giáo sĩ Bön khỏi Yarlung.[14] Ông bị ám sát và Tượng Hùng vẫn tiếp tục tống trị khu vực cho đến khi bị Songtsen Gampo (Tùng Tán Cán Bố) sáp nhập vào thế kỷ thứ 7.

Trước thời Tùng Tán Cán Bố, các quân chủ Tây Tạng mang tính thần thoại hơn là thực tế, và không có đủ bằng chứng về việc họ có thực sự tồn tại hay không.

Lịch sử Tây Tạng đã được đánh dấu với những biến cố có tính cách tôn giáo nhiều hơn là quân sự hay chính trị. Vào thế kỷ thứ 7, vua Srong-Gtsan-Sgampo thống nhất Tây Tạng, đặt thủ đô tại Lhassa, mở đầu triều đại Choegyal, cai trị trên cơ sở tập quyền, với một thứ tôn giáo nghiên cứu các hiện tượng siêu hình, chú trọng vào huyền thuật, gọi là Bon Pa hay Bon. Sách vở được viết bằng văn tự lạ lùng, ít người hiểu được, tuy nhiên, các nghi thức cầu đảo, cúng vái và tu luyện vẫn còn truyền tụng đến ngày nay.

Vào thời điểm này, Phật giáo được truyền vào Tây Tạng. Vua Sgampo kết hôn với hai công chúa ngoại quốc là Belsa xứ Nepal và Gyasa xứ Trung Hoa, đều là tín đồ Phật giáo, nên cho xây cất hai ngôi chùa Jokhang quay mặt về xứ Nepal, trước đây có chứa nhiều bộ Kinh viết trên lá buôn, chùa Gyasa quay mặt về hướng Đông, chứa các Kinh điển mang từ Trung hoa sang, đa số là các bộ luận. Mặc dù nhà vua có quy y Tam Bảo, cho người đón các tăng từ Ấn Độ và Trung Hoa qua truyền bá Phật giáo, nhưng các giáo sĩ Bon Pa được triều đình ủng hộ nên Phật giáo không phát triển được.

Sang thế kỷ thứ 8, vua Trisong Detsen khuyến khích dân chúng học đạo, tổ chức các buổi diễn thuyết và tranh luận tôn giáo. Đáp lời mời của vua, một tu sĩ Phật giáo là Padmasambhava (Liên Hoa Sinh) đã đến tranh luận với các giáo sĩ Bon Pa và giải đáp thỏa đáng mọi vấn đề được nêu lên. Vua Trisong mới công bố Phật giáo là quốc giáo, giữ Padmasambhava lại làm quốc sư. Vì Padmasambhava tu theo Mật Tông nên Phật giáo Tây Tạng được đặt trên cơ sở Mật Tông.

Padmasambhava thành lập đạo viện Samye, thu nhận học trò và khởi xướng dòng tu Nyingmapa.
Ngày nay, các chùa ở Tây Tạng đều thờ những vị này như là Tổ đầu tiên.
Vua Trisong Detsen đặt luật pháp trên cơ sở Phật pháp, lấy Từ-Bi-Hỷ-Xả làm nòng cốt, xem Tam bảo (Phật-Pháp-Tăng) cao hơn ngôi vị hoàng đế. Nhờ đó, Phật giáo phát triển rất nhanh, hàng ngàn ngôi Chùa được xây cất, hàng trăm tu viện được mở ra để đào tạo tăng sĩ và nhiều bộ Kinh được phiên dịch.

Sự phát triển trên đây đã gặp sự chống đối, ganh ghét và thù hận của nhóm Bon Pa. Sau khi vua Trisong qua đời, một số quan lại đã nổi loạn, giết chết Thái tử và đưa một cháu ngoại của vua lên ngôi. Là một người hung ác, vua Lang Darma cho phá hủy chùa chiền, thiêu đốt Kinh sách, giết chết tăng sĩ và cấm đoán Phật giáo.

Một tu sĩ Phật giáo tên Paljor Dorje đang hành thiền trong một động đá, xúc động trước sự tàn bạo của Lang Darma, bèn mặc y phục và đội nón lá đen như pháp sư Bon Pa, đi vào thủ đô Lhassa, biểu diễn một điệu vũ trước cung điện. Vua nghe dân chúng tụ tập ồn ào, bước ra xem thì bị Paljor Dorje bắn một phát tên xuyên qua tim, chết. Ngày nay trong các lễ hội, người Tây Tạng thường diễn lại sự tích này qua điệu múa gọi là “điệu vũ nón đen”.

Cái chết của Lang Darma chấm dứt triều đại Gampo. Các tướng lãnh, tộc trưởng mỗi người chiếm cứ một vùng, xưng hung xưng bá. Đến năm 1642, giai đoạn phong kiến mới kết thúc.

Dưới chế độ phong kiến, mặc dù phái Bon Pa thịnh hành, nhưng ở một vài nơi cũng có người cố gắng duy trì các truyền thống Phật giáo. Trong số này, có tộc trưởng Yeshe-O cai trị xứ Tholing, ở miền Đông Tây Tạng. Là một tín đồ Phật giáo, ông nhận thấy nếu không có Kinh điển và Cao tăng thì Phật giáo khó có thể được phục hồi. Ông bèn gửi người sang Ấn Độ học chữ Phạn để dịch Kinh và mời Cao tăng Ấn Độ về truyền bá Phật pháp. Đường đi bấy giờ rất khó khăn, nhiều sứ giả không còn sống sót.

Một sứ giả của Yeshe-O đã đến mời Đại sư Atisha trụ trì tu viện Vrikamasila, nhưng ông này từ chối. Bấy giờ có một người du học trở về, tên là Rinchen Zangpo, phiên dịch được nhiều bộ Kinh ra tiếng Tây Tạng, đồng thời xây chùa, tạc tượng, vẽ các hội họa nghệ thuật. Đây là lúc ngành hội họa Phật giáo phát triển mạnh mẽ ở Tholing.

Ngày nay, hai tu viện Tsaparang và Tholing vẫn còn lưu giữ các bức họa tuyệt vời vẽ trong thời gian này.

Lãnh chúa xứ Garlog gần đó thấy dân chúng Tholing quyên góp tiền bạc quá nhiều, bèn đánh lừa Yeshe-O đi họp rồi bắt sống, đòi tiền chuộc mạng. Con trai của Yeshe-O là Changchub-O phải mất hơn mười năm mới có đủ số vàng nặng bằng trọng lượng của Yeshe-O để chuộc lại cha gia. Nhưng Yeshe-O bí mật nhắn con đem vàng đó qua Ấn Độ làm lễ ra mắt Đại sư Atisha “vì Tây Tạng cần Phật pháp chứ không cần một người già vô dụng chẳng còn sống bao lâu nữa”.

Changchub-O nghe lời cha, cử sứ giả đem vàng đến Vrikamasila ra mắt Đại sư Atisha. Lúc đầu, Atisha từ chối, nhưng khi nghe kể về sự hi sinh của Yeshe-O, Atisha cảm động nhận lời. Ông cho mang vàng ra bố thí rồi một mình chống gậy đạp tuyết qua Tây Tạng.
Năm 1042, Atisha đến Tholing yết kiến Changchub-O. Bấy giờ các tăng sĩ như Rinchen Zangpo cậy mình lớn tuổi, lại có nhiều công lao, nên không đứng dậy chào hỏi. Nhưng khi Atisha thuyết pháp về Bát Nhã Ba La Mật Đa xong Rinchen Zangpo phải đứng lên: “Nhờ có ngài mà Tây Tạng tìm lại được tinh thần vô úy của Phật giáo”.
Atisha lưu lại Tholing một thời gian để đào tạo tăng sĩ, truyền bá đạo Phật, nhờ đó mà Phật giáo hồi sinh. Ông thành lập phái Kadampa còn ảnh hưởng đến ngày nay. Trong thời gian này, một số tu sĩ nổi danh khác như Tilopa, Marpa và Milarepa đi khắp nơi giảng giải Phật pháp, lập ra các phái Sakyapa, Kargyutpa.

Năm 1207, Mông Cổ thâu tóm Tây Tạng. Bấy giờ Phật giáo phát triển tốt đẹp nhờ công lao của một tu sĩ tên là Tsong-Khapa (1357-1419). Xuất gia thọ giới với phái Kadampa, nhưng không thỏa mãn nên ông theo học với các cao tăng thuộc phái Niyingmapa, Kargyutpa và Sakyapa, rồi vào động đá nhập thất.
Ông nhận thức rằng Phật giáo Tây Tạng chịu nhiều ảnh hưởng của phái Bon Pa, nên thiên về huyền học mà quên mục đích giải thoát. Tuy được tổ chức chặt chẽ để chống lại nhóm Bon Pa, nhưng chính tổ chức này đưa Phật giáo vào con đường suy vong, chỉ còn hình thức mà thiếu nội dung, các tu sĩ trở thành lười biếng, coi tu hành như một nghề nghiệp hướng dẫn tinh thần cho quần chúng hơn là tu để giải thoát. Ngoài ra, các nghi thức hành lễ bị pha trộn với huyền thuật trở thành đồng nhập cốt, bùa chú thư phù. Các tu sĩ chỉ đặt trọng tâm vào các vấn đề sắc tướng như kêu gọi dân chúng xây chùa, đúc tượng để cầu phước.
Sau đó, Tsong Khapa đi khắp nơi giảng dạy Phật pháp, đề cao giới luật, khuyến khích học tập Kinh điển, chỉ trích mê tín huyền thuật, gạn lọc các hình thức dị đoan trà trộn vào Phật giáo. Ông lập tu viện Ganden để huấn luyện tăng sĩ. Học trò của ông đội mũ vàng nên gọi là Phái Mũ Vàng (Gelugpas) để phân biệt với phái mũ đỏ (Dugpas) đã có từ trước.

Cuộc chấn hưng Phật giáo của Tsong Khapa đem lại một luồng sinh khí mới, nhưng việc đào tạo các tăng sĩ có chọn lọc, có tinh thần tu học cao, tôn trọng giới luật đòi hỏi thời gian, nên phái mũ vàng chỉ là một thiểu số so với phái mũ đỏ.
Sau khi Tsong Khapa qua đời, các đệ tử tiếp tục công việc của ông, đào tạo các tăng sĩ giới đức và khuyến khích các tín đồ tự tu , tự học thay vì ỷ lại vào các tu sĩ vì tu sĩ chỉ là người hướng dẫn, chứ không thể cứu độ ai cả. Việc này gặp sự chống đối của các tôn phái khác, chủ trương tu sĩ có nhiều quyền lực và quyền lợi. Các tông phái mũ đỏ, nhất là phái Karmapa vốn có quân đội riêng, đã thẳng tay trừng trị các tu sĩ mũ vàng vào vùng Chang Tsang của họ.

Khoảng 1543-1583, một trưởng phái mũ vàng, tên Sonam Gyatso, không những học rộng mà còn có tài hùng biện. Người ta gọi ông là “Vị sư trưởng có lời quí như ngọc”, danh tiếng của ông đồn xa đến tận Mông Cổ, vua Mông Cổ là Alta Khan mời ông sang thuyết pháp.
Sonam Gyatso đến đúng lúc Alta Khan xuất binh đánh nước Nữ Chân. Sonam xin cho thuyết pháp trước hàng quân. Ông giảng về đức từ bi của Phật giáo, hay đến nỗi Alta Khan quyết định bãi binh, hàng vạn lính qui y Tam Bảo. Vua Alta Khan đặt Phật giáo lên hàng quốc giáo, phong Sonam Gyatso làm Đạt-Lai-Lạt-Ma, có nghĩa là vị Lạt Ma có tâm từ bi rộng như biển cả. Danh từ “Đạt-lai-lạt-Ma” có từ đó. Tuy nhiên, Sonam được xem là Đạt-lai-lạt-Ma thứ ba, vì là hóa thân lần thứ ba của Sư trưởng phái mũ vàng Gedun Truppa trước đó.
Năm 1588, Sonam Gyatso từ trần, để lại một bài kệ cho biết sẽ hóa thân tại Mông Cổ. Sau nhiều năm tìm kiếm, người ta mới tìm ra một người cháu nội của Alta Khan có đủ ấn chứng. Đó là Yonsten Gyatso, vị Đạt-la-lạt-Ma duy nhất không phải người Tây Tạng.

Sau khi Yonsten Gyatso qua đời, đế quốc Mông Cổ suy yếu, nên phái mũ đỏ lợi dụng thời cơ để đàn áp phái mũ vàng. Nhiều Chùa bị đốt, nhiều tu sĩ bị giết, các tu sĩ còn lại phải vào rừng ẩn náu, cho đến khi tìm được vị hóa thân thứ năm là Lobsang Gyatso trong một gia đình nông dân ở Khassa. Họ đưa Lobsang qua miền Tây, ẩn trong tu viện Talshihunpo để huấn luyện đến tuổi trưởng thành, chính thức nhận chức Đạt-lai-lạc-Ma thứ năm. Được tin này, lãnh chúa xứ Tsang mang quân đến để diệt trừ tận gốc. May thay, một tộc trưởng Mông Cổ tên Gusris Khan đưa quân sang Tây Tạng, tiêu diệt các lãnh chúa, giải giới phái Karmapa, trao quyền cai trị lại cho Đạt-lai-lạt-Ma thứ năm, rồi kéo quân về Mông Cổ. Từ đó, Tây Tạng được đặt dưới quyền thống lĩnh của các Đạt-lai-lạt-Ma.
Lobsang Gyatso nhớ công ơn của vị thầy ở Talshihumpo nên phong ông này làm Ban Thiền Lạt Ma, “Ban Thiền” (Tashi) có nghĩa là vị thầy khả kính. Nhiệm vụ của ông này chỉ có tính cách thuần túy tôn giáo.

Lobsang Gyatso cho xây điện Potala trên nền móng cung điện cũ Song ten Gampo, xây nhiều tu viện để đào tạo tăng sĩ, đặt ra các kỳ thi về Phật học, thành lập Hội Đồng Trưởng Lão (Kalon Lama) để bổ nhiệm và điều hành các Tse Drung (tương đương với chức Tỉnh trưởng) và Hội Đồng Tôn Giáo (Yikotang) để bảo đảm bình đẳng tôn giáo.

Năm 1751, nhà Thanh thôn tính Tây Tạng.
Năm 1904, quân Anh xâm chiếm Tây Tạng. Vị Đạt-lai-lạt-Ma thứ mười ba phải lánh nạn ở Trung Hoa. Sau khi thương thuyết với Trung Hoa, Đạt-lai-lạt-Ma trở về Tây Tạng, dành trọn thời gian thiền định và giảng kinh cho các tu sĩ.
Năm 1950, Tây Tạng bị Trung Quốc xâm chiếm tới nay.

 

(Theo Wiki và Tổng hợp)

===Đọc thêm

Tìm hiểu lịch sử Tây Tạng


Cung Potala ở Lhasa, thủ phủ Tây Tạng
Với người Việt Nam, Tây Tạng hoặc được biết đến phần nhiều qua những câu chuyện về Mật Tông, hoặc gần đây là bối cảnh nước Trung Hoa cộng sản làm chủ vùng ‘mái nhà của thế giới’ này, hay hoạt động của Đức Đạt Lai Lạt Ma trên trường quốc tế.
Gần đây, cũng có không ít thanh niên Việt Nam bắt đầu lên thăm Tây Tạng theo các tuyến du lịch hoặc tự đi chụp hình để tìm hiểu nền văn hóa và lối sống độc đáo của người dân tại đó.

Nhưng với quốc tế, câu chuyện Tây Tạng-Trung Quốc luôn là đề tài thời sự từ mấy thập niên qua.

Các diễn biến mới nhất tuần này với vụ xuống đường ngay tại Lhasa, thủ phủ Tây Tạng của sư sãi đang gây chú ý của dư luận quốc tế, trong bối cảnh Trung Quốc chuẩn bị cho Olympics Bắc Kinh.

Về mặt lịch sử, dân tộc Tây Tạng mà có sử liệu nói là có tới 1/6 thanh niên nam theo Phật giáo, đã từng giao lưu, thậm chí chinh chiến với các tộc người xung quanh như Mông Cổ và người Hán.

Khác với toàn bộ châu Á bị Phương Tây sang thực dân hóa từ nhiều thế kỷ, cho đến giữa thế kỷ 20, vùng đất Tây Tạng hiểm trở cũng chỉ là nơi thu hút ít nhiều người Tây Phương đi thám hiểm.

TS Nguyễn Xuân Nghĩa nói về Tây Tạng

Vị Lạt Ma cao cấp của Phật giáo ở đây cũng là pháp chủ của chính quyền mà đa số dân sống bằng nghề chăn nuôi.
Trung Quốc chiếm Tây Tạng

Nhưng số phận Tây Tạng sang một bước ngoặt từ thập niên 1950.

Quân đội Trung Quốc tiến vào Tây Tạng năm 1950, chỉ không lâu sau khi ông Mao chiến thắng phe Quốc dân đảng trong cuộc nội chiến 1949.

Xứ Tây Tạng cổ xưa bị nhập vào Trung Quốc.

Cuộc nổi dậy bất thành năm 1959 khiến vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 phải bỏ Tây Tạng, vượt núi sang Ấn Độ, lập ra một chính phủ lưu vong.

Các tu viện bị phá huỷ trong cuộc Cách mạng Văn hóa do Mao Trạch Đông phát động hồi thập niên 60 và 70.

Người ta tin rằng hàng nghìn người Tây Tạng bị giết trong giai đoàn trấn áp, tù đầy dưới thời Thiết Quân Luật.

Vì áp lực quốc tế, chỉ đến những năm 80, Bắc Kinh mới nới lỏng sức ép.

Nhưng từ đó, với chính sách Mở Cửa và phát triển du lịch, Tây Tạng trở thành một nơi được quan tâm.

Trung Quốc cũng đầu tư cho sự phát triển vùng này mặc dù làn sóng đầu tư cũng có nghĩa là người dân tộc Hán kéo đến sinh sống ngày một đông.

Các tổ chức nhân quyền nói việc đàn áp tôn giáo vẫn diễn ra.

Trung Quốc nói được xe lửa nối Lhasa và tỉnh Thanh Hải có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế nhưng tuyến đường cũng có nhiều khả năng tăng số dân người Hán lên sống ở Tây Tạng.

Tin thần Phật giáo

Đạt Lai Lạt Ma sinh năm 1935, hiện sống lưu vong tại Dharamsala, Ấn Độ
Phật giáo đến Tây Tạng vào thế kỷ 8. Đạt Lai Lạt Ma, vị lãnh đạo tinh thần của người Tây Tạng được coi là đứng đầu, người thứ nhì là Ban Thiền Lạt Ma (Panchen Lama).
Cả hai đều người tín đồ tin rằng là hiện thân của những vị Lạt Ma trước đó. Trung Quốc và người Tây Tạng lưu vong không chỉ có quan điểm khác biệt về vùng đất này.

Việc chọn vị Ban Thiền Lạt Ma thứ 11 cũng là một vấn đề.

Người được đức Đạt Lai Lạt Ma chọn là Gedhun Choekyi Nyima hiện biến mất sau khi bị Trung Quốc đưa đi năm 1995.

Bắc Kinh chỉ có quan hệ thỉnh thoảng và không chính thức với Đạt Lai Lạt Ma.

Ngài kêu gọi tìm giải pháp hòa bình, bất bạo động và chấp nhận để Tây Tạng được tự trị chứ không phải độc lập.

Kinh tế Tây Tạng vẫn dựa trên nông nghiệp là chính.

Ngoài rừng và đồng cỏ, vùng đất này còn có nhiều khoáng sản nhưng giao thông kém hạn chế việc khai thác.

Hiện nay nguồn thu chính của Tây Tạng vẫn là du lịch.

Bài phỏng vấn với Tiến sĩ Nguyễn Xuân Nghĩa từ Việt Báo, California, người đã hai lần tiếp kiến Đạt Lai Lạt Ma và đến thăm Dharamsala về văn hóa và chính trị Tây Tạng được phát trên làn sóng BBC ngày 16.03.2008.

Share this: