The History of Thailand Explained in 5 minutes (Video: Epimetheus)

Tóm lược lịch sử Thái Lan: Theo sử sách Thái Lan, người Thái xuất xứ từ vùng núi An-Tai, Đông Bắc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc từ 4500 năm trước, sau đó di cư dần xuống vùng đất hiện nay là Thái Lan. Vào năm 1238, người Thái thành lập vương quốc tại Sukhothai (hiện ở miền Bắc Thái Lan), năm 1283 người Thái có chữ viết. Sau đó người Thái mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam, và năm 1350 chuyển kinh đô xuống Ayuthaya(phía bắc Bangkok 70 km). Hơn 400 năm người Thái tiến hành chiến tranh liên miên với Miến Điện và kinh đô Ayuthaya bị hủy diệt.

Năm 1767, một tướng người Thái gốc Hoa, Taksin, đứng lên chống quân Miến Điện giành lại độc lập và dời đô về Thonburi, bên bờ sông Chao Phaya, đối diện với Bangkok. Vua Rama I(1782) lên ngôi và chọn Bangkok (hay "Thành phố của các thiên thần") làm kinh đô. Trước năm 1932, Thái Lan theo chế độ quân chủ chuyên chế. Sau cuộc cách mạng tư sản năm 1932 do một nhóm sĩ quan trẻ lãnh đạo, Thái Lan chuyển từ chế độ quân chủ chuyên chế sang chế độ quân chủ lập hiến. Ngày 10 tháng 12 năm 1932 vua Prachadhipok (Rama VII) đã thông qua bản hiến pháp đầu tiên của Thái Lan. Hơn 60 năm qua Thái Lan đã thay đổi 16 hiến pháp, nhưng Hiến pháp 1932 vẫn được coi là cơ sở.

Chế độ độc tài quân sự cho đến năm 1992, khi chế độ này kết thúc, mở ra một thời kỳ dân chủ mới của Thái Lan.

============

Lịch sử Thái Lan

Thời kỳ đầu
Người ta phát hiện ra rằng, các nền văn minh Malay, Mon và Khmer từng phát triển thịnh vương trên lãnh thổ Thái Lan hiện nay. Người Thái có liên hệ ngôn ngữ với một số dân tộc tại miền Nam của Trung Quốc. chính vì vây, nguồn gốc của dân tộc Thái được cho là từ tỉnh Vân Nam, nhưng cũng có người lại cho rằng dân tộc gốc của xứ sở này đã từ đồng bằng sông Menam Chao Phya lên mạn Nam Trung Hoa rồi gặp thời kỳ bành trướng của Hốt Tất Liệt nên lại di chuyển xuống phía nam.

Theo các thời kỳ:

 

1. Vương quốc Sukhothai

Vương quốc Sukhothai

Những nhóm người Thái bắt đầu di cư đến vùng đất Thái Lan ngay từ thế kỷ thứ 8. Người Khmer đã dùng họ làm lính từ thế kỷ 7. Năm 1238, người Thái tại đây đánh đuổi các lãnh chúa Khmer và thiết lập nên một nhà nước mới.

Dưới thời Sukhothai, vua Ramkhamhaeng đã xâm chiếm lãnh thổ của người Khmer đến tận miền Nam Nakhon Si Thammarat. Ông cũng chính là người đã tạo ra bảng chữ cái đầu tiên của người Thái và làm cho người dân hiểu rõ sự giá trị của nghệ thuật. Tuy vậy, cái chết của ông (năm 1300) lại báo hiệu một sự suy thoái của đế quốc Sukhothai. Năm 1378, một nhà nước mới ra đời là Ayuthaya tấn công và chiếm đóng Sukhothai và một bước trở thành nhà nước hùng mạnh nhất trong trong lịch sử tất cả các vương quốc Thái.

2.Vương quốc Ayutthaya


Thành phố cổ Ayutthaya


Ayutthaya là vương quốc mà vua được xem như chúa tể của mọi sinh linh. Xã hội có chế độ quý tộc và nô lệ. Nước này cũng bành trướng mở rộng và chiến tranh với những nước láng giềng khác.Sau khi tiêu diệt được Sukhothai, triều đại Ayutthaya, tức Xiêm La (Siam), bắt đầu xâm chiếm miền Nam. Năm 1431, Vua Boromaraja đệ nhị cướp thành phố Khmer Angkor Thom, buộc  người Khmer phải dời về Phnom Penh.

Năm 1569, Ayutthaya trở thành lãnh thổ của Miến Điện. Mãi cho đến năm 1584, khi hoàng tử Naresuan nắm lấy cơ hội tuyên bố độc lập và đuổi hết người Miến Điện ra khỏi đất nước.

Trong thế kỷ tiếp theo, vương quốc Xiêm bắt đầu thu hút sự chú ý của người phương Tây. Những thương nhân Hà Lan đầu tiên đã đặt chân lên đất nước này từ năm 1601. Cũng từ đây, người Châu Âu bắt đầu cạnh tranh nhau nhằm giành những đặc quyền về bến cảng và buôn bán tại Thái Lan. Đây cũng là thời kì nước Ayutthaya đi dần tới sụp đổ sau 1 cuộc tấn công thiêu rụi thủ đô của quân Miến Điện.

3. Thời kỳ 1763-1782
Khi vương quốc Ayutthaya sụp đổ, một vị tướng có tên là Taksin đã tập hợp được một đội quân chiếm lại  thành phố, nhưng Ayutthaya đã bị tàn phá trơ trụi nên ông quyết định dời đô đến Thonburi.

Năm 1763 cuộc tấn công lớn nhất của người Miến Điện diễn ra. Người Xiêm ngay lập tức phản công. Taksin, một vị tướng gốc Hán, đã tổ chức kháng chiến, đẩy lùi người Miến Điện và lập ra một thủ đô mới ở Bangkok, chinh phục được các nước chư hầu và chiếm lại miền Bắc từ người Miến Điện. Từ đây công cuộc chinh phục toàn bộ các dân tộc Thái bắt đầu: tấn công người Miến Điện ở phía bắc năm 1774, chiếm Chiang Mai năm 1776 và thống nhất Thái Lan.

Năm 1782, Chaophraya Chakri phế truất Taksin khỏi ngôi vua nước Xiêm, lên ngôi và trở thành vua Rama I, lập ra triều đại Chakri như ngày nay.

4. Vương triều Chakri

Chao Phraya Chakri tức vua Rama I


Chao Phraya Chakri tức vua Rama I là người khai sinh triều đại Chakri vẫn tồn tại cho đến tận ngày nay. Rama I dời đô về Bangkok và cho xây dựng thủ đô theo kiểu mẫu Ayutthaya xưa. Ông cũng là người làm hồi sinh nền nghệ thuật và văn hóa Thái Lan dựa vào một phần trí nhớ của những người già cả còn sống sót khi Ayutthaya bị hủy diệt.

5. Thời kỳ 1782-1932
Thời kỳ đầu của vương triều Chakri là một nhà nước quân chủ chuyên chế được gọi là Xiêm La hay Vương quốc Rattanakosin. Lúc này, nó là một vương quốc hùng mạnh ở trong khu vực, ngay trước khi có các cuộc xâm lược thực dân của các nước Phương Tây tại khu vực Đông Nam Á vào thế kỷ 19.

Từ năm 1818, Xiêm mở cửa và tiếp xúc với phương Tây, bắt đầu bằng một hiệp định với người Bồ Đào Nha. Năm 1932, Thái Lan chuyển từ chế độ quân chủ chuyên chế sang lập hiến. Nước này nằm dưới chế độ độc tài quân sự cho đến năm 1992, khi chế độ này kết thúc, mở ra một thời kỳ dân chủ mới của Thái Lan.

Tổng hợp

===================Đọc thêm:

Thái Lan (Nguồn gốc người Thái)
Đặng Anh Tuấn


Dân tộc Thái mới dựng nước  chỉ có từ thế kỷ 14. Tuy nhiên họ là môt dân tộc đã có mặt lâu đời ở phía nam của Trung Hoa.  Họ thuộc chủng  Nam Á (hay đại tộc Bách Việt). Đây là nhóm mà nhà khảo cổ Pháp Bernard Groslier  thường gọi là nhóm Thái-Việt.  Bị xua đuổi bởi quân của Tần Thủy Hoàng, người Thái chống lại mãnh liệt bao lần. Theo nhà văn Bình Nguyên Lộc, những thần dân của các vương quốc  Ba và Thục (hay thường gọi  là Ba Thục) bị quân Tần thôn tính ở Tứ Xuyên (1) là người Thái cổ (hay  người Tày cổ).  Họ cũng thuộc về nhánh Âu của   chủng Nam Á (hay Ngu theo tiếng nói người Mường hay Ngê U theo  tiếng Tàu Quan Thoại) trong đó có người Thái và người Tày.

Đối với ông cũng như với các nhà nghiên cứu  Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Đình Khoa, Hà Văn Tấn vân vân thì chủng  Nam Á gồm có 4 nhóm riêng biệt như sau: nhóm Môn-Khơ Me, nhóm Việt-Mường, nhóm Tày-Thái và nhóm Mèo -Dao thêm vào đó có thêm nhóm Nam Đảo   (Chàm, Raglai, Êdê ) để có thể định nghĩa giống chủng Cổ Mã Lai (Indonésien) (2). Sự tham gia của người Thái trong việc thành lập vương quốc Âu Lạc  của Thục Phán (hay An Dương Vương) không thể chối cải được sau khi Thục Phán đã thành công đánh bại vua Hùng cuối cùng của nhà nước Văn Lang. Cái tên Âu Lạc phản ánh hiển nhiên sự liên kết  chặt chẽ  của hai dân tộc Việt, một  nhánh Âu (Thái cổ) và  một nhánh Lạc (Việt cổ).  Hơn nửa, Thục Phán   là một người Việt chi  Thái, điều nầy cho thấy rỏ ràng  sự đoàn kết và sứ mệnh lich sử chung của hai dân tộc Việt và Thái trước sự bành trướng của người Hoa. Theo giáo sư  Đào Duy Anh, Thục Phán  thuộc gia đình qúi tộc nước Thục. Tất cả đều được mách lại trong các thư tịch Tàu (Kiao -tcheou wan-yu ki hay  Kouang-tcheou ki) nhưng bị bác bỏ bởi  một  số   sử gia Việt vì vương quốc Shu (Thục) ở quá xa vương quốc Văn Lang nhất là bị thôn tính quá sớm bởi Tần quốc  từ 316 trước công nguyên (hơn nửa thế kỷ trước khi lập vương quốc Âu Lạc).

Nhưng theo nhà văn  Bình Nguyên Lôc, Thục Phán bị mất nước , buộc lòng phải dung  thân lúc còn  trẻ với các bộ hạ ở môt nước nào mà  thời đó phải có quan hệ sắc tộc (ngôn ngữ  và văn hóa) cũng như họ có nghĩa là nước Tây Âu ở bên cạnh nhà nước Văn Lang của  dân Việt. Hơn nửa người Tàu không có lợi chi viết sai sử  học khẳng định  đây là một hoàng thân của nước Thục cai trị nước Âu Lạc. Việc tá túc của Thục Phán và bộ hạ ở Tây Âu cần có một thời gian  trong cuộc di tản vì vậy  có  60 năm sau đó   mới có sự sáng lập vương quốc Âu Lạc qua sự giải thích.

 

Nhưng gỉả thuyết  nầy không vững vì nhất là thời đó có 3000 cây  số phải  vượt để đến Tây Âu. Vả lại Thục Phán cầm đầu một đạo binh có 3 vạn  quân lính. Không thể   nào  một đạo quân như vậy có thể  tàn hình và di chuyển mà ngưởi Tàu không biết  được vì  không những cần sự tiếp tế  lương thực  mà còn vượt qua bao nhiêu khu núi rừng quản trị bởi các bộ lạc thù địch hay thân Tàu. Chắc chắn Thục Phán phải   tìm được ở Tây Âu tất cả những gì cần thiết ( quân bị, lương thực)  trước khi  thôn tính nước Văn Lang.

Theo giả thuyết gần đây, Thục Phán là thổ lĩnh của một  bộ lạc  liên minh Tây Âu và  con của Thục Chế, vua của nước Nam Cương   thuộc về vùng Cao Bằng và nam Quảng Tây Trung Quốc ngày nay. Có   sự trùng khớp thống nhất giữa những linh vật được mách đến trong truyền thuyết nỏ thần  của người dân Việt và những tập tục   trong  truyền thống của người Tày (Thái cổ). Rùa vàng, gà trắng là những linh vật có ý nghĩa biểu tượng quan trọng. An Dương Vương (Thục Phán)(Ngan-yang wang) là một nhân vật lịch sử. Với sự khám phá các di tích ở Cổ Loa  huyện Đông An, Hànội  chúng ta có thể khẳng định là vương quốc  Âu Lạc có thật và được dựng bởi Thục Phán  khoảng chừng 3 thế kỷ trước Công Nguyên. Âu Lạc bị thôn tín về sau bởi Triệu Đà, người sáng lập ra  nước Nam Việt.

Nằm ở các tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây , Tây Âu là vương quốc của người Tày và người Thái cổ (Tổ tiên của người Thái ngày nay). Chính ở nơi nầy mà Thục Phán liên minh các bộ lạc  trước khi thôn tính nước Văn Lang.

 

Nên nhớ lại Tần Thủy Hoàng  phải cổ động thời đó hơn 50 vạn  binh lính trước khi xâm chiếm Tây Âu và  sau khi diệt  nước Sỡ  với 60 vạn  quân. Ngoài sự chống cự mãnh liệt của các chiến binh, Tây Âu phải là một nước có tầm vóc quan trọng và khá đông dân để Tần Thủy Hoàng phải dùng một  binh lực như vậy. Mặc dầu  thủ lĩnh  Tây Âu Dich Hu Tống bị tử nạn, sự kháng cự của dân Tây Âu cũng thu gặt được vài kết quả đáng kể trong vùng Quảng Tây với cái chết của tướng Tàu Uất Đồ Thư cầm đầu một đạo binh 50 vạn  quân và được nhắc đến trong bộ sách Hoài Nam Tử mà  hoài nam vương Lưu An, cháu của Hán Cao Tổ Lưu Bang, người sáng lập nhà Hán,  biên soạn vào giữa năm 164 và 173 trước Công Nguyên.

Tây Âu được nổi tiếng thời đó nhờ có những chiến sĩ gan dạ.  Tính tình của  người Thái thưở xưa được nhà văn hào và nhiếp ảnh Pháp Alfred Raquez (3) mô tả như sau:

Người Xiêm La thưở xưa, rất  hiếu chiến và   thích phiêu lưu, thường hay sinh sự gây chiến tranh không ngớt với các nước láng giềng và hay thường   thắng lợi trong các cuộc viễn chinh.  Mỗi lần có được một chiến dịch mỹ mãn, họ  thường mang về  theo họ các tù binh và đày các người nầy ở những vùng đất  của Xiêm La  càng xa quê quán của họ càng tốt.


Khi Tây Âu và  Âu Lạc bị Triệu Đà tướng  của nhà Tần  thôn tính, tất cả người Thái cổ ở lại  có con cháu  về sau nầy  trở thành  nhóm người  thiể u số Tày ở Việtnam. Còn những người Thái cổ khác, họ chạy trốn lên Vân Nam mà  họ cùng nhau  liên hiệp ở thế kỷ thứ 8 để lập vương quốc Nam Chiếu  rồi sau đó  nước Đại Lý mà Phật Giáo Đại Thừa bất đầu du nhập. Chẳng may các nước Ba Thục, Tây Âu, Âu Lạc, Nam Chiếu, Đại Lý đều bị người Hoa thôn tính trong cuộc di dân của người Thái.  Để đối phó áp lực không ngừng của người Hoa và trước hàng rào thiên nhiên không lay chuyển của Hy Mã Lạp Sơn,  nhóm người Thái cổ buộc lòng đi trở  xuống và  xâm nhập lại bán đảo Đông Dương (4) nhưng   di cư lần nầy  từ từ theo mô hình  nan  quạt,  chia ra nhiều ngã  và nhiều nhóm vào đất Lào, Tây Bắc Việtnam, miền bắc Thái Lan và vùng Thượng  Miến Điện.

 

Một đoạn đường  lịch sử chung với dân tộc Việt
Theo các văn bản lịch sử Thái tìm được ở Việtnam thì có ba đợt di dân quan trọng của dân cư Thái ở Vân Nam vào Tây Bắc Việtnam suốt thế kỷ 9 và 11. Đó là thời kỳ mà vương quốc Nam Chiếu bị Đại Lý thôn tín rồi ba thế kỷ sau đó đến  lượt Đai Lý bị hủy diệt bởi quân Mông cổ của Hốt Tất Liệt (Kubilai Khan), cháu nội của Thành Các Tư Hãn (Gengis Khan). Khi lúc xâm nhập, cư dân Thái cổ chia ra nhiều nhóm: nhóm Thái ở Việtnam, nhóm Thái ở Miến Điện (thường gọi là người Shan) , nhóm Thái ở Lào (hay  Ai Lao ) và nhóm Thái ở miền bắc của Thái Lan ngày nay. Mỗi nhóm bắt đầu theo đạo của các nước mà họ được cư trú. Vì vậy nhóm người Thái ở Việtnam không có cùng đạo với các nhóm Thái ở nơi khác.  Họ vẫn tiếp tục thờ đa thần và theo tín ngưỡng   « vạn vật hữu linh ».

Không phải trường hợp của nhóm Thái sống ở miền bắc của Thái Lan, Miến Điện và Ai Lao vì ở các nơi nầy thời đó có các vương quốc của nguời Môn và Khơ Me theo Ấn Độ giáo và Phật giáo Nguyên thủy ( Đế chế Angkor, các vương quốc Môn Dvaravati, Haripunchai, Lavo vân vân …) sau khi vương quốc  Phù Nam bị tan rã. Người Môn đóng  một vai trò quan trọng đối với người Thái trong việc truyền bá Phật giáo Nam Tông phát xuất  từ tập quán của người Cinghalais.  Ngoài hai thành phần chính được  trông thấy ở  tôn giáo của người Thái  đó là  sự tôn thờ các  vị thần  trong tín ngưỡng dân gian (Phra) và Phật giáo nguyên thủy còn thấy sự hiện diện của đạo  Bà La Môn. Đạo nầy giử một vai trò rất quan trọng ở Đông Nam Á trước khi Phật giáo nguyên thủy thành công lan khắp ở Miên Điện, Thái Lan, Lào và Cao Miên. Trong đền thờ của người Thái thường thấy có rất nhiều thần thánh cũng như có nhiều thần linh.

Thuyết vạn vật hữu linh cũng không có chi  tương khắc  với  Phật giáo Nam Tông vì  vậy các  thần  thánh che chở mà người Thái  thường  gọi là Phra  được đặc để và tôn thờ  ở vị trí giữa  các nhân vật sùng bái và các thần Hindu  có liên hệ mật thiết với Phật giáo tiểu thừa. Họ xem như là những  người hầu cận của đức Phật.  Phật giáo tiểu thừa chấp  nhận dễ dàng  các nghi lễ địa phương. Bởi vậy thường thấy luôn luôn  một đền nhỏ tôn thờ thần bốn mặt Brahma ở chung quanh những toà lầu quan trọng của người Thái với chủ đích là để bảo trợ và xa lánh các ma qủy. Các thần linh cũng được thờ kính ở những nơi công cộng như chùa chiền, hoàng cung, phi trường  vân vân …

Vì họ  đến tá túc  muộn ở các quốc gia nhận họ nên họ phải đảm nhận  tất cả  những công việc « nặng nhọc ».  Người Cao Miên thường gọi họ với cái tên  Syàma (Xiêm La), một chữ  phạn có nghĩa « ngăm đen » vì da họ ngăm đen. Chính với cái tên nầy họ được nhắc đến vào năm  1050 trên một văn bia của người Chàm  mà được tìm thấy ở Po Nagar,  xem họ như những  tù binh trong cuộc chiến tranh giữa  Chămpa và  đế chế Angkor. Thời đó  họ thường là những người trinh thám dũng cảm, những người đánh thuê trong quân đội của đế chế Angkor mà sự hiện diện được mách lại trong một bức hình  chạm nổi thấp Angkor Vat. Theo nhà khảo cổ học Pháp   Bernard Groslier, họ chỉ là những người dân quê miền núi nghịch ngợm, không chữ nghĩa và cũng không có tôn giáo chi cả. Dạo đó họ không thể nào có  đựơc may mắn  để  làm lay động các vùng biên thùy của đế chế Angkor cũng như các vương quốc người Môn có nền văn hóa Dvaravati.

Không phải trường hợp của  các người  dân Việt  vì cùng thời đó, họ bắt đầu lấn áp Chămpa. Theo  nhà khảo cổ Bernard Groslier, họ có đủ khả năng xây  dựng một quốc gia cường mạnh sau suốt một thời gian dài bị Tàu  đô hộ,  có đủ điều kiện  chống chọi   cũng như người Chàm. Ngược  lại, người dân Thái phải đợi ít nhất hai thế  kỷ để mới  tiếp  thu được bài vở của chủ nhân họ trước khi mới có thể  thay   thế và vượt qua mặt chủ của họ. Đến từ phương bắc  và thường tiếp xúc với  nền văn hóa Dvaravati, người  dân Thái chịu cải sang đạo Phật Giáo Nguyên Thủy rất mau lẹ nhưng họ tiếp tục vẫn giữ cấu trúc xã hội dựa trên các mường hùng mạnh và phong kiến. Đối với họ, Thái Lan  vẫn được xem như là Mường  của các người Thái tự do,  một địa hạt rất  lớn và  hùng mạnh. Luôn cả ngay trên thiên đàng họ cũng tổ chức chia ra  thành những địa hạt quản lý bởi những vị thần (hay Devata).  Các  cư dân Thái ở Việtnam cũng   nhắc đến cách tổ chức hành chánh nầy. Cũng hợp tình hợp lý cách thực hành  của người Thái trong   việc tập hợp tù binh qua  sự nhận xét của  Alfred Raquez như sau :

Người dân Thái không có  đày các tù binh ở khắp nơi đất nước của họ. Ngược lại, họ để  các tủ binh có quyền  tựu tập hợp lại, thành lập ra  những vùng  gọi là  « khong » mà ở  đầu của mỗi « khong » có một lãnh tụ cùng nguồn gốc quê quán  với  các tù binh  thường gọi là  naïkhong. Những người  nầy  đuợc xem như là  các nhà thẩm phán tối cao  có quyền giải quyết tất cả mọi  vấn đề của cộng đồng và chỉ có họ mới  có thể trực tiếp thẳng và liên  hệ  với chính quyền.

Mường là cơ sở nồng cốt  trong cách tổ chức xã hội, chính trị và tôn giáo của người Thái. Các mường có thể nhỏ hay lớn tùy theo yếu tố kích thước và quan trọng.  Có thể nói nó giống như ở Pháp   với huyện hay tỉnh lị. Nhưng lúc nào cũng có ở  trung tâm  một mường gọi là Mường Luông mà tất cả mường khác điều phải hướng về và qui phục. Đây là sự nhận xét  với cách tổ chức  về  các mường Thái ở Việtnam. Mỗi mường  được một lĩnh tụ hay lãnh chúa  thường thuộc về dòng quí phái quản trị và hơn nửa có một vai trò tôn giáo rất  quan trọng. Chính người nầy có nhiệm vụ tôn thờ thần đất  (hay thổ địa) và có quyền trên các dân làng. Những người nầy phải làm nghĩa vụ  quân sự khi có chiến tranh mà còn phải làm lao dịch.

Mỗi mường có tập quán riêng tư.  Tổ chức   hành chánh và quân sự của họ cũng tựa  như người  Mông Cổ cũng có sự phân biệt giai cấp giữa nhóm qúy tộc , chiến sỹ và nhóm người còn lại ( các tiểu vương và những người nông nô). Mỗi người đều có  cấp bậc và chức vị trong một hệ  thống có tên là sakdina ( sakdi có nghĩa là có quyền và na thì ruộng lúa).  

Mỗi người dân có được thí dụ 25 rai ( tức là rẫy theo tiếng việt, số lượng đất  tương đương là 1600m2). Một người chủ điền với cấp bực là 400  thì có quyền  quản lý được 16 nông dân vì 16 =400/25.  Còn một người qúi tộc hay lãnh chúa có thể được quản lý đến 400 người nông dân nếu câp bực của họ lên đến 10000 trong hệ thống sakdina (400=10000/25).

Nói tóm lại tùy theo cấp bực mà có thể nhiều hay ít số người để làm việc nghĩa vụ quân sự và lao dịch. Mỗi  mường gồm có nhiều thôn,  mỗi thôn được quản lý bởi một hội đồng quản trị gồm các người có địa vị trong thôn (thân hào) và có từ 40 đến 50 nhà mà đôi khi có thể lên đến  100 nhà. Cũng như người dân Việt, dân Thái thường dựng các thôn và mường ở các vùng đất phù sa (Chao Praya thí dụ) hay những vùng mà có những con sông hay các kinh thuận tiện trong việc trồng lúa nước, di chuyển và trao đổi hàng hóa với các mường khác.

 

 Lợi dụng sự kiệt quệ của đế  quốc  Angkor  qua các cuộc chiến tranh không ngừng với các nước láng giềng (Chămpa và Việtnam)  và các công trình xây dựng các đền vĩ đại  như Bayon, Angkor Thom, Ta Prohm, Angkor Vat vân vân … ) của vua  Jayavarman VII nên khi ông  nầy vừa qua đời  thì với các cuộc xâm lấn của đoàn quân Mông Cổ ở Đông Dương (đế quốc  Khơ Me năm 1283, Chămpa  (1283-1285), Đại Việt (hay Vietnam)  của nhà Trần ( 1257- 1288 )) và vương quốc  Pagan (Miến Điện)),   người dân Thái họ bắt đầu cũng cố quyền lực chính trị ở Thái Lan cũng như ỏ Miến  Điện. 

Ở phía bắc của lưu vực sông Ménam của Thái Lan, có hai thủ lỉnh  người Thái tên là Po Khun Bangklanghao và Po Khun Phameung đứng lên đánh đuổi người Khơ Me và người Môn  và đã thành công trong việc giải phóng Sukhothai  năm 1239.  Po Khun Bangklanghao trở thành vua đầu tiên của vương quốc Thái độc lập với cái tên Sukhothai có nghĩa là buổi  đầu của hạnh phúc. Nhưng phải nói nhờ con trai thứ nhì  của ông là Rama Khamheng ( thường gọi là   Ramkhamhaeng Đại Đế) có công trạng mở mang bờ cõi bằng các thôn tính không những  các vùng  miền bắc của Mã Lai cho đến tận Ligor mà còn luôn các vùng của đế quốc Khơ Me gần Luang Pra Bang (Ai Lao). Cùng thời đó  ở phiá bắc Thái Lan, sau khi thôn tính  Haripunjaya  năm 1292, một thủ lỉnh đồng minh  tên là Mengrai  dựng vương quốc  Lanna ( có nghĩa là vương quốc của một triệu nương lúa) và đóng đô ở Chiang Mai. Từ nay, Rama Khamheng và Mengrai chia nhau để thống trị, một người ở trung bộ   và người kia thì ở phiá bắc của Thái Lan.

Có những tiểu vương quốc thái được dựng ở  Phayao  và Xiang Dong Xiang Thong (Luang Prabang) (Ai Lao).  Ở Miến Điện, vương quốc Pagan không chống chọi nổi trước sự xâm lấn của đoàn quân Mông cổ nên người  Thái ở Miến Điện ( người  Shan ) thừa dịp đó  làm tan rã vương quốc và dựng ra nhiều vương quốc shan.

(1): Quê hương  gấu trúc.  Chính ở nơi nầy tìm ra được  văn hóa Tam Tinh Đôi (Sanxingdui) nổi tiếng với  các  mặt nạ đồng và  các dấu hiệu trên khí giới. Cũng ở đây Lưu Bị dựng vương quốc Thục Hán thời Tam Quốc. 

(2)  Chủng tộc Đông Nam Á thời tiền sử.

(3): Comment s’est peuplé le Siam, ce qu’est aujourd’hui sa population. Alfred Raquez, (publié en 1903 dans le Bulletin du Comité de l’Asie Française). In: Aséanie 1, 1998. pp. 161-181.

(4) Đông Dương theo nghĩa rộng. Không phải Đông Dương thời Pháp thuộc.

Tài liệu tham khảo
The Thai in the North-West of Vietnam. Nhà Xuất Bản Thông Tấn.

La première conquête chinoise des pays annamites . Léon Aurousseau. BEFEO Année 1923. Volume 23 N° 1. p136-264

Cổ sử cá quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông. G. E. Coedès. Nhà xuất bản Thế Giới 2011.

La féodalité en Asie du Sud Est, Nguyễn Thế Anh. Paris, PUF,1998, pp. 683-714

La conquête de la Cochinchine par les Nguyễn et le rôle des émigrés chinois. Paul Boudet. BEFEO, Tome 42, 1942, pp 115-132

Contribution à l’étude des colonies vietnamiennes en Thailande. Bùi Quang Tung

Guerres et paix en Asie du Sud Est. Nguyễn Thế Anh- Alain Forest. Collection Recherches asiatiques dirigées par A. Forest. Editeur L’Harmattan.

Thailand and the Southeast Asian networks of the Vietnamese Revolution,1885-1954. Christpher E. Goscha

Share this: