Dù môn nào Khoa học Huyền bí nào : Có Trời mà cũng có Ta – Tín mệnh bất tín lực, thất chi viễn hĩ” (Tin số mà không tin sức mình thì lầm lớn). Cổ nhân còn nói: “Vận nước thắng vận người (Quốc mạng thắng nhân mạng).

Tử Bình (Bát tự hay Tứ trụ) : Bí quyết thành công trong cuộc sống.

Bát tự hay còn gọi là Tứ trụ là khoa nghiên cứu về chu kỳ thịnh suy, cách khắc, chế sinh hóa của ngũ hành… Đây là một hệ thống lý luận dự đoán vận mệnh con người hoặc hiện tượng thiên nhiên được hình thành dựa trên những số liệu thống kê cả ngàn năm qua…

Nếu phong thủy là môn khoa học nghiên về tổ chức không gian, bài trí vật dụng… giúp bạn tiếp nhận tốt nguồn sinh khí, hạn chế sát khí… thì bát tự chú trọng đến cung vị, các yếu tố tương khắc về ngũ hành, sinh khắc của thiên can…

Nói nôm na, bát tự hay tứ trụ dùng phương pháp cân bằng ngũ hành để bổ khuyết cho những ai có ngũ hành thiếu như thiếu mộc, hỏa, kim, thủy nhằm cải vận cho vận trình của cuộc đời, mang lại hạnh phúc và thành công trong cuộc sống thông qua học thuật mệnh lý. Môn mệnh lý học này giúp bạn dự đoán vận trình may rủi trong đời người thông qua bốn trụ: năm, tháng, ngày và giờ mà con người được sinh ra.

Dựa vào bát tự, người ứng dụng biết cách bù đắp phong thuy trong cách bày trí vật dụng sinh hoạt

Trải qua hàng ngàn năm, bát tự giúp người ứng dụng dự đoán phần nào những sự việc sẽ xảy ra trong cuộc sống hằng ngày, từ hôn nhân đến sự nghiệp, thời tiết… nhằm đem lại sự thuận lợi cho cuộc sống.

Bát tự chú trọng đến cung vị. Nó cung cấp những tri thức để người dùng thông qua ngày tháng, năm sinh biết những chỗ thừa, chỗ thiếu nhằm tìm ra những yếu tố giúp cân bằng sự thiếu hụt đó. Bát tự cho biết thời vận tốt xấu để người dùng dụng dự đoán trước vận mệnh mình hòng tìm ra những yếu tố hợp lý để cải vận.

Nói như thế không có nghĩa là bát tự hay tứ trụ là một cái gì đó mê tín. Tại nhiều nước trên thế giới, theo số liệu thống kê không chính thức, 70% thành công của giới doanh nhân châu Á trong kinh doanh có phần đóng góp không nhỏ của nghệ thuật bài trí theo phong thủy và bát tự.

Theo chuyên gia phong thủy Tan Fath của Trung tâm đào tạo – tư vấn phong thủy huyền không, nhu cầu tìm hiểu về bát tự của giới doanh nhân Singapore rất cao. Nhờ được trang bị kiến thức về bát tự – tứ trụ, họ biết điểm mạnh yếu, nhược ưu điểm của bản thân để định lượng các phương pháp cải tạo vận mệnh (mà người ta hay gọi là thuật cải vận).

Bát tự giúp hạn chế yếu tố cát hung trong nhà

Dựa vào các yếu tố thiên khắc địa xung, bát tự cũng dự đoán được đa số các mặt quan trọng trong đời sống của chúng ta như hôn nhân, thăng quan tiến chức, giàu nghèo, sang hèn, thọ yểu hay tai nạn, bệnh tật, tai họa, phá sản..

Nhận xét của Nguyễn Hiến Lê về khoa Tử vi – Tử bình – Hà lạc Trong cuốn Luyện lí trí (1965) chương VII tôi đã đưa ra vài nhận xét về khoa Tử Vi và Tử bình rồi kết như sau :

 “Tôi không quả quyết rằng những khoa Tử vi, Tử bình hoàn toàn vô giá trị.

 Vì tôi đã thấy những trường hợp nó đúng một cách không phải là ngẫu nhiên.

 Tôi lấy thí dụ một gia đình nọ gồm bốn anh em mà tôi được biết.

(Chính là tôi và ba em tôi). Khi mới sanh, mỗi người đều có một lá số tử vi. Số đoán rằng một người con trai sẽ khá nhất, càng đi xa càng khá, một người con trai nữa sẽ chết yểu, một người con gái được nhờ chồng, một người nữa không được nhờ chồng mà được nhờ con. Hiện nay, sau nửa thế kỷ, tôi thấy những điều đó đều đúng mà đúng tới vậy thì không thể cho là ngẫu nhiên được. (…)

Tôi lại nghiệm thấy rằng coi qua những số của các bà con, bạn bè cũng có thể đoán ngay được mỗi người vào hạng nào trong xã hội, nghĩa là số tốt hay xấu. Mà những lời đoán đó phần nhiều đúng, đúng về đại cương, đúng một cách tương đối. Và vấn đề nhân sự, hoàn cảnh vẫn là quan trọng”. (trang 174-175).

Ngày nay (1980) tôi có thể nói thêm : lấy theo Tử vi thì 10 lá số chỉ đúng độ 6, 7 lá; những lá đúng đó, thì mười điều cũng chỉ đúng được 6, 7, càng đoán về tiểu tiết thì càng sai.

So sánh ba khoa Tử vi, Tử bình, Hà lạc, tôi thấy : – Tử vi cho con người chịu ảnh hưởng kết tụ của các vì sao (tinh đẩu), mà như vậy mọi việc đã an bài sẵn. Không thể cải được mệnh. Tử vi dùng trên trăm sao và có tới 12 cung : Mệnh (Thân), Thiên Di, Tài Bạch, Quan Lộc. Phúc Đức, Phụ Mẫu, Phu Thê, Tử Tức, Huynh Đệ… cho nên đoán được nhiều chi tiết : tính tình mỗi người, sang hèn, giàu nghèo ra sao, cha mẹ, vợ con, anh em, cả bạn bè, bệnh tật, mồ mả tổ tiên, nhà của, ruộng nương…, nhiều chi tiết hơn Tử bình và Hà lạc; có lẽ chính vì vậy mà nhiều người thích khoa đó; nhưng đi vào chi tiết thì dễ đúng mà cũng dễ sai; mà tâm lý chung của mọi người là để ý đến những điều đúng hơn là những điều sai, cho nên khoa đó được nhiều người tin là đúng.

Sự thực, theo tôi thì khoa Tử vi không hợp lý vì dùng âm lịch, mà âm lịch có tháng nhuận; gặp người sinh tháng nhuận thì đành phải coi thuộc về tháng trước hay tháng sau, như vậy hai người sinh cách nhau một tháng, người sinh trong tháng 6 chính chẳng hạn, người sinh tháng 6 nhuận, ngày giờ giống nhau thì số y hệt nhau : điều đó không chấp nhận được.

Khoa Tử Bình gọi năm, tháng, ngày, giờ bằng can chi hết; có 4 can, 4 chi, do đó gọi là bát tự (8 chữ). Không có tháng nhuận, vì dùng dương lịch (tính năm, tháng theo thời tiết) cho nên hợp lý hơn nhiều.

Nó dùng luật ngũ hành tương sinh tương khắc và theo qui tắc cứ quân bình là tốt: hễ “hành” nào thiếu thì đi vào vận có hành đó hoặc có một hành sinh ra nó (ví dụ thiếu hỏa, di vận có hỏa hoặc có mộc sinh hỏa) mới tốt.

Điều đó cũng hợp lý. Lại thêm nó dùng ít sao, ít có trường hợp sao này tương phản với sao khác, nên đoán ít sai. Nhưng chính vì ít sao, đoán được ít chi tiết, nên nhiều người không thích khoa đó.

Hà Lạc gọi là bát tự vì cũng gọi năm, tháng, ngày, giờ bằng can chi; nhưng khác hẳn Tử Bình ở chỗ đổi những can chi đó ra số Hà lạc, để lập thành một quẻ kép trong kinh Dịch, quẻ này biến thành một quẻ kép khác nữa, sau cùng cứ theo ý nghĩa của mỗi quẻ, mỗi hào trong kinh Dịch mà đoán vận mạng (mỗi hào âm là 6 năm, mỗi hào dương là 9 năm; còn Tử vi và Tử bình thì mỗi vận là 10 năm). Như vậy Hà lạc chỉ cho ta biết sơ về số mạng (giàu sang hay nghèo hèn, thọ hay yểu) và mỗi hạn 6 hay 9 năm tốt xấu ra sao, chứ không cho ta biết gì về gia cảnh, cha mẹ, vợ con…

Sau mỗi hào có lời khuyên nên cư xử ra sao, tiến thoái, hành xử ra sao cho hợp với nghĩa tùy thời trong kinh Dịch.

So sánh ba khoa đó, tôi thấy Tử Vi thích hợp với đàn bà (?), họ muốn biết nhiều chi tiết; Tử Bình hợp lý, thích hợp với giới trí thức; Hà Lạc thích hợp với người học đạo cư xử ở đời.

Ba khoa đó phương pháp đều huyền bí, rất khác nhau mà lạ lùng thay, kết quả nhiều khi giống nhau tới 7 phần 10. Thí dụ trường hợp của tôi. Tôi sinh năm Tân Hợi, tháng 11, ngày 20, giờ Dậu (Tây lịch: 8-1-1912), bát tự là năm Tân Hợi, tháng Tân Sửu, ngày Quí Mùi, giờ Tân Dậu. Số Tử vi đoán tính tình, khả năng của tôi đúng, về phúc, thọ của tôi cũng đúng, về vợ con cũng đúng nữa; nhưng về cung quan lộc thì đúng một phần thôi, về đại hạn 43-52 tuổi thì sai nhiều.

Số Tử bình đoán đại khái cũng đúng gần như Tử vi, tuy ít chi tiết hơn, và riêng đại hạn 41-50 tuổi thì đúng hơn Tử vi. Số Hà lạc cũng đoán rất đúng về đại hạn đó, còn về phúc, thọ, tư cách thì cũng giống Tử vi và Tử bình. Về gia đình tôi, Hà lạc không đoán, như tôi đã nói.

Ba khoa nguyên tắc khác hẳn nhau mà kết quả hợp với nhau như vậy thì đáng gọi là kỳ dị. Nhưng tôi cũng thấy mấy người trong họ hàng tôi số Tử vi, Tử bình khác nhau xa; và có khi gần hoàn toàn sai cả nữa. Vậy ba khoa đó bảo là vô căn cứ thì sai mà bảo là đáng tin hẳn thì cũng không được. Tò mò đọc cho biết thì nên, bỏ trọn đời để nghiên cứu thì tôi e mất thì giờ mà chưa chắc đã phát kiến được gì. Cho nên tôi không muốn lấy số cho trẻ trong nhà. Và tôi cho cứ tận lực của mình là hơn cả. Nếu có số thì con người có khi cũng thắng được số.

Tất cả các sách số đều khuyên vậy : “Tín mệnh bất tín lực, thất chi viễn hĩ” (Tin số mà không tin sức mình thì lầm lớn). Vả lại người ta có thể sửa được số. Cổ nhân tin rằng số giàu mà mình không ham giàu, tránh giàu thì sẽ tăng tuổi thọ; số sang mà mình tránh sang thì được hưởng phúc nhiều hơn. Cổ nhân còn nói: “vận nước thắng vận người” (Quốc mạng thắng nhân mạng). Những lời đó đều đúng cả.

Tử bình cơ bản  (Trần Viên)

Năm vững Âm Dương, Ngũ Hành và sau đó nắm vững (hay học thuộc lòng các cách dạng của của Tử Bình) các kỹ thuật "số" luận suy hợp lý của Ngũ Hành, tương khắc về ngũ hành, sinh khắc của thiên can…

Trần Viên viết và được dịch ra phổ biến ngoài thị trường (Dự đóan theo tứ trụ):

– Tử bình nhập môn (Lâm Thế Đức)
– Tôi học đóan mệnh khoa Tử bình (Trúc Lâm Tử)

và các tài liệu tiếng Trung được nhiều người dịch sang tiếng Việt:

– Tử bình chân thuyên bình chú
– Tích Thiên Tủy
– Cùng Thông Bửu Giám
– Tam Mệnh Thông Hội
– Uyên Hải Tử bình

PHẦN CƠ BẢN

Mỗi con người khi sinh ra đều có 4 điểm chính
1. Mốc thời gian: năm tháng ngày giờ.
2. Địa điểm phương hướng
3. Thuộc ngủ hành nào (Kim, Mộc, Hỏa, Thủy, Thổ vì con người cấu tạo bởi vật chất).

Nói về năm , Năm = Thiên Can + Địa Chi . Thiên can hay Địa chi đều có ngũ hành riêng. Và ghép lại với nhau Thiên Can + Địa chi = có hành riêng.


Ví dụ sinh năm 1972 = Nhâm Tý = thuộc Tang đố mộc (hành Mộc).

Nhâm (Thiên Can), Tý (Địa chi). Nhâm thuộc Thủy. Tý thuộc Thủy.


4. Âm hay dương (con trai hay con gái)
Tương ứng với điện toán binary O và 1 để diễn tả (computer chỉ hiểu 2 con số này). Có 2 con số nên gọi là hệ nhị phân.
Ví dụ viết số:
0 = 00000000
1 = 00000001 computer xếp các con số 0 hay 1 gần nhau
2 = 00000010
3 = 00000011
9 = 000001001
Viết chữ A = 00001010

Bên Huyền bí học gọi 0 = Ying = Âm ; 1 = Yang = Dương.

Computer có nguyên tắc riêng để hoạt động (ví dụ http là protocol được dùng để liên hệ thông tin giữa Máy cung cấp dịch vụ (Web server) và máy sử dụng dịch vụ (Web client). Bên Tử bình cũng có các quy tắc cần ghi nhớ (ví dụ: THIÊN CAN NGŨ HỢP BIẾN HÓA; địa chi xung..v.v.)


A. 10 THIÊN CAN
Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.

B. 12 ĐỊA CHI
Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi

C. ÂM DƯƠNG CỦA HÀNG CAN
Dương can: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm
Âm can: Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý

D. ÂM DƯƠNG CỦA HÀNG CHI
Dương chi: Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất
Âm chi: Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi

E. ĐỊA CHI SANH TIÊU
Tý (chuột), Sửu (trâu), Dần (cọp), Mão (mèo), Thìn (rồng), Tỵ (rắn),
Ngọ (ngựa), Mùi (dê), Thân (khỉ), Dậu (gà), Tuất (chó), Hợi (heo).

F. CAN CHI NGŨ HÀNH VÀ TỨ THỜI PHƯƠNG VỊ
Thiên can:
Giáp, Ất (mộc), Đông phương,
Bính, Đinh (hỏa) Nam Phương,
Mậu, Kỷ (thổ) trung ương,
Canh, Tân, (kim) Tây phương,
Nhâm, Quý (Thủy) Bắc phương

Địa chi:
Dần, Mão, Thìn (mộc) Đông phương mùa xuân.
Tỵ, Ngọ, Mùi (hỏa) Nam phương, mùa hạ
Thân, Dậu, Tuất (Kim)Tây phương, mùa thu.
Hợi, Tý, Sửu (thủy) Bắc phương, mùa đông.

Trong 4 mùa rút ra mỗi mùa 1 chữ: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

Mỗi chữ đơn chiếc thuộc Thổ, kể là các tháng 3, 6, 9, 12.

10 THIÊN CAN gia lên 12 ĐỊA CHI, diễn thành 60 Hoa Giáp:
1. Giáp Tý 2. Ất Sửu 3. Bính Dần 4. Đinh Mão 5. Mậu Thìn 6. Kỷ Tỵ 7. Canh Ngọ 8. Tân Mùi 9. Nhâm Thân 10. Quý Dậu (Gọi là Giáp Tý tuần)

11. Giáp Tuất 12. Ầt Hợi 13. Bính Tý 14. Đinh Sửu 15. Mậu Dần 16. Kỷ Mão 17. Canh Thìn 18. Tân Tỵ 19. Nhâm Ngọ 20. Quý Mùi (Gọi là Giáp Tuất tuần)

21. Giáp Thân 22. Ất Dậu 23. Bính Tuất 24. Đinh Hợi 25. Mậu Tý 26. Kỷ Sửu 27. Canh Dần 28. Tân Mão 29. Nhâm Thìn 30. Quý Tỵ (Gọi là Giáp Thân tuần)

31. Giáp Ngọ 32. Ất Mùi 33. Bính Thân 34. Đinh Dậu 35. Mậu Tuất 36. Kỷ Hợi 37. Canh Tý 38. Tân Sửu 39. Nhâm Dần 40. Quý Mão (Gọi là Giáp Ngọ tuần)

41. Giáp Thìn 42. Ất Tỵ 43. Bính Ngọ 44. Đinh Mùi 45. Mậu Thân 46. Kỷ Dậu 47. Canh Tuất 48. Tân Hợi 49. Nhâm Tý 50. Quý Sửu (Gọi là Giáp Thìn tuần)

51. Giáp Dần 52. Ất Mão 53. Bính Thìn 54. Đinh Tỵ 55. Mậu Ngọ 56. Kỷ Mùi 57. Canh Thân 58. Tân Dậu 59. Nhâm Tuất 60. Quý Hợi (Gọi là Giáp Dần tuần)

THIÊN CAN NGŨ HỢP BIẾN HÓA
Giáp – Kỷ hợp hóa Thổ
Ất – Canh hợp hóa Kim
Bính – Tân hợp hóa Thủy
Đinh – Nhâm hợp hóa Mộc
Mậu – Quý hợp hóa Hỏa

ĐỊA CHI LỤC HỢP BIẾN HÓA
Tý – Sửu hợp hóa Thổ *
Dần – Hợi hợp hóa Mộc
Mão – Tuất hợp hóa Hỏa
Thìn – Dậu hợp hóa Kim
Tỵ – Thân hợp hóa Thủy
Ngọ – Mùi hợp hóa Hỏa *

Ngọ thuộc Thái dương, Mùi thuộc Thái âm

(* sách của Thiệu Vĩ Hoa : Tí Sửu và Ngọ Mùi cùng hóa Thổ)

ĐỊA CHI TAM HỢP THÀNH CỤC
Thân – Tý – Thìn thủy cục
Hợi – Mão – Mùi mộc cục
Dần – Ngọ – Tuất hỏa cục
Tỵ – Dậu – Sửu kim cục

ĐỊA CHI LỤC XUNG
Tý – Ngọ xung
Sửu – Mùi xung
Dần – Thân xung
Mão – Dậu xung
Thìn – Tuất xung
Tỵ – Hợi xung

ĐỊA – CHI LỤC – HẠI (Tương hại với nhau)
Tý – Mùi hại
Sửu – Ngọ hại
Dần – Tỵ hại
Mão – Thìn hại
Thân – Hợi hại
Dậu – Tuất hại

ĐỊA CHI TAM HÌNH (Động diêu bất ổn định)
Tý hình Mão, Mão hình Tý, gọi là vô lễ chi hình
Dần hình Tỵ, Tỵ hình Thân, Thân hình Dần, gọi là tri thế chi hình
Sửu hình Tuất, Tuất hình Mùi, Mùi hình Sửu, gọi là vô ân chi hình
Thìn hình Thìn, Dậu hình Dậu, Ngọ hình Ngọ, Hợi hình Hợi gọi là tự hình.

Chú giải: Hình là hình khắc, động diêu, 2 hay 3 chữ gặp nhau ở địa chi có thể phá vỡ nguyên cục.

TRONG 12 ĐỊA CHI ẨN TÀNG NHỮNG HÀNG CAN:
Tý ẩn chữ Quý (1 can)
Sửu ẩn chữ Kỷ, Quý, Tân (3 can)
Dần ẩn chữ Giáp, Bính, Mậu (3 can)
Mão ẩn chữ Ất (1 can)
Thìn ẩn chữ Mậu, Quý, Ất (3 can)
Tỵ ẩn chữ Bính, Mậu, Canh (3 can) *
Ngọ ẩn chữ Đinh, Kỷ (2 can)
Mùi ẩn chữ Kỷ, Đinh, Ất (3 can) *
Thân ẩn chữ Canh, Mậu, Nhâm (3 can) *
Dậu ẩn chữ Tân (1 can)
Tuất ẩn chữ Mậu, Tân, Đinh (3 can) *
Hợi ẩn chữ Nhâm, Giáp (2 can)

 

NGUYỆT KIẾN (Cố định)
Tháng Giêng kiến Dần
Tháng 2 kiến Mão
Tháng 3 kiến Thìn
Tháng 4 kiến Tỵ
Tháng 5 kiến Ngọ
Tháng 6 kiến Mùi
Tháng 7 kiến Thân
Tháng 8 kiến Dậu
Tháng 9 kiến Tuất
Tháng 10 kiến Hợi
Tháng 11 kiến Tý
Tháng 12 kiến Sửu

24 TIẾT, KHÍ
(Một năm có 12 tháng, chia làm 24 tiết, khí, mỗi tháng có tiết 15 ngày và mỗi khí 15 ngày. Nên chú ý thật cẩn thận mỗi Tiết để luận đoán cho mỗi tháng, nếu Tiết chưa tới hay đã qua thì tháng đó có biến dịch. Phần này tham luận ở chương khác).

Tháng Giêng Tiết Lập Xuân, Khí Vũ Thủy
Tháng 2 Tiết Kinh Trực, Khí Xuân Phân
Tháng 3 Tiết Thanh Minh, Khí Cốc Vũ
Tháng 4 Tiết Lập Hạ, Khí Tiểu Mãn
Tháng 5 Tiết Man Chủng, Khí Hạ Chí
Tháng 6 Tiết Tiểu Trữ, Khí Đại Trử
Tháng 7 Tiết Lập Thu, Khí Xứ Trử
Tháng 8 Tiết Bạch Lộ, Khí Thu Phân
Tháng 9 Tiết Hàn Lộ, Khí Sương Giáng
Tháng 10 Tiết Lập Đông, Khí Tiểu Tuyết
Tháng 11 Tiết Đại Tuyết, Khí Đông Chí
Tháng 12 Tiết Tiểu Hàn, Khí Đại Hàn

NHƠN NGƯƠN
(Các Thiên Can ẩn trong địa chi hành quyền trong 12 tháng)
Dần, tháng giêng Sau Tiết Lập Xuân, Mậu chiếm 7 ngày, Bính chiếm 7 ngày, Giáp chiếm 16 ngày, cộng 30 ngày.

Mão, tháng hai Sau Tiết Kinh Trực, Giáp chiếm 10 ngày, Ất chiếm 20 ngày, cộng 30 ngày.

Thìn, tháng ba Sau Tiết Thanh Minh, Ất chiếm 9 ngày, Quý chiếm 3 ngày, Mậu chiếm 18 ngày, cộng 30 ngày.

Tỵ, tháng tư Sau Tiết Lập Hạ, Mậu chiếm 5 ngày. Canh chiếm 9 ngày, Bính chiếm 16 ngày, cộng 30 ngày.

Ngọ, tháng năm Sau Tiết Man Chủng, Bính chiếm 10 ngày, Kỷ chiếm 9 ngày, Đinh chiếm 11 ngày, cộng 30 ngày.

Mùi, tháng sáu Sau Tiết Tiểu Trử, Đinh chiếm 9 ngày, Ất chiếm 3 ngày, Kỷ chiếm 18 ngày, cộng 30 ngày.

Thân, tháng bảy Sau Tiết Lập Thu, Mậu và Kỷ chiếm 10 ngày, Nhâm chiếm 3 ngày, Canh chiếm 17 ngày, Cộng 30 ngày.

Dậu, tháng tám Sau Tiết Bạch Lộ, Canh chiếm 10 ngày, Tân chiếm 20 ngày, cộng 30 ngày.

Tuất, tháng chín Sau Tiết Hàn Lộ, Tân chiếm 9 ngày, Đinh chiếm 3 ngày, Mậu chiếm 18 ngày, cộng 30 ngày.

Hợi, tháng mười Sau Tiết Lập Đông, Mậu chiếm 7 ngày, Giáp chiếm 5 ngày, Nhâm chiếm 18 ngày, cộng 30 ngày.

Tý, tháng 11 Sau Tiết Đại Tuyết, Nhâm chiếm 10 ngày, Quý chiếm 20 ngày, cộng 30 ngày.

Sửu, tháng 12 Sau Tiết Tiểu Hàn, Quý chiếm 9 ngày, Tân chiếm 3 ngày, Kỷ chiếm 18 ngày, cộng 30 ngày.

CÁCH THỨC LẬP SỐ CỦA KHOA TỬ BÌNH
Luận số mệnh phải có cách thức mới dễ đoán, trong khoa Tử Vi chia làm 12 cung để an sao, nhưng khoa Tử Bình chỉ lấy 4 Can Chi của năm, tháng, ngày, giờ lập thành bát tự, chúng ta đoán ngũ hành trong 8 chữ đó mà suy luận ra, rất giản dị và cũng rất minh bạch.

Cách thức là lấy Can Chi của năm sinh,
Can Chi của tháng sinh,
Can Chi của ngày sinh,
Can Chi của giờ sinh.

Ví dụ: Sinh năm Giáp Tý tháng giêng, ngày mồng một, giờ Ngọ

Sinh năm Giáp Tý, thì đặt Giáp Tý
Sinh tháng giêng, thì đặt Bính Dần
Sinh ngày mồng một, thì đặt Giáp Dần.
Sinh giờ Ngọ, thì đặt Canh Ngọ.

Vì sao tháng giêng đặt Bính Dần, nay giải thích như sau.
Bất luận năm nào, tháng giêng có Chi cố định là Dần, nhưng mỗi hàng Can của năm ấy thì khác nhau. Chúng sẽ thay đổi như sau:

Năm Giáp và năm Kỷ, nên là chữ Bính dẫn đầu.
Năm Ất và năm Canh nên là chữ Mậu dẫn đầu.
Năm Bính và Tân, nên là chữ Canh dẫn đầu.
Năm Đinh và Nhâm, nên là chữ Nhâm dẫn đầu.
Năm Mậu và Quý, nên là chữ Giáp dẫn đầu.

Ví dụ: sinh năm Giáp:
Tháng giêng là Bính Dần
Tháng 2 là Đinh Mão
Tháng 3 là Mậu Thìn
Tháng 4 là Kỷ Tỵ
Tháng 5 là Canh Ngọ
Tháng 6 là Tân Mùi
Tháng 7 là Nhâm Thân.
Tháng 8 là Quý Dậu
Tháng 9 là Giáp Tuất
Tháng 10 là Ất Hợi
Tháng 11 Bính Tý
Tháng 12 là Đinh Sửu
Sinh năm Kỷ cũng giống như trên.

Nếu sinh năm Ất thì:
Tháng giêng là Mậu Dần
Tháng 2 là Kỷ Mão
Tháng 3 là Canh Thìn
Tháng 4 là Tân Tỵ
Tháng 5 là Nhâm Ngọ
Tháng 6 là Quý Mùi
Tháng 7 là Giáp Thân
Tháng 8 là Ất Dậu
Tháng 9 là Bính Tuất
Tháng 10 là Đinh Hợi
Tháng 11 là Mậu Tý
Tháng 12 là Kỷ Sửu
Sinh năm Canh cũng giống như trên.

Còn các Niên Can khác cũng lấy đúng chữ Dần dẫn đầu cho tháng giêng rồi lần lượt đếm theo thứ tự cho thích hợp. Nên thật cẩn thận không được sai.

Làm sao biết ngày mồng một là Giáp Dần?

Rất dễ, chúng ta chỉ cần tra trong cuốn vạn niên lịch thì biết ngay. Trong vạn niên lịch nói rằng:

Năm 1994, năm Giáp Tý, mồng một Giáp Dần, ngày 11 là Giáp Tý, ngày 21 là Giáp Tuất.

Lập Xuân, mồng một giờ Tý giao.
Vũ Thủy 16 giờ Mão giao.

Bất luận năm nào, ngày nào, tháng nào, năm nào cũng chiếu theo Vạn Niên Lịch mà tìm ra, nhưng phải thật cẩn thận coi Tiết và Khí.

Ví dụ: Ngày mồng một giờ Tý giao Tiết Lập Xuân nay sinh giờ Ngọ, tức là đã giao tháng giêng rồi, thì phải lấy tháng giêng để đoán số mệnh.

Còn nếu sinh giờ Tý hay giờ Thìn, chưa giao đủ Lập Xuân, tất nhiên số này phải đoán là chưa đến Tiết Lập – Xuân, tức là còn ở trong tháng 12 của năm Quý Hợi không được lập số làm năm Giáp Tý, phải làm ở năm Quý Hợi.

Được đổi thành như sau:
Năm Quý Hợi – Tháng Ất Sửu (tháng 12) – Ngày Giáp Dần

Như vậy mới tránh được sự sai lầm, Tiết là đại biểu cho tháng, giờ giao qua khỏi Tiết mới là tháng đó, còn chưa qua Tiết là ở tháng trước. Nển để ý tránh sai lầm coi số đúng hay sai cũng đều do sự sai lầm này, có ảnh hưởng rất quan trọng.

Làm sao biết từ ngày Giáp Dần mà tìm ra giờ Canh Ngọ? Điều này chúng tôi biên chép như sau thì quý vị sẽ rõ.

Ngày Giáp và Kỷ, phải là chữ Giáp dẫn đầu cho giờ Tý.
Ngày Ất và Canh, phải là chữ Bính dẫn đầu cho giờ Tý.
Ngày Bính và Tân, phải là chữ Mậu dẫn đầu cho giờ Tý.
Ngày Đinh và Nhâm, phải là chữ Canh dẫn đầu cho giờ Tý.
Ngày Mậu và Quý, phải là chữ Nhâm dẫn đầu cho giờ Tý.

Ví dụ: Ngày Giáp Dần:
Giờ Tý thì phải lập Giáp Tý.
Giờ Sửu thì phải lập Ất Sửu.
Giờ Dần thì phải lập Bính Dần.
Giờ Mão thì phải lập Đinh Mão.
Giờ Thìn thì phải lập Mậu Thìn
Giờ Tỵ thì phải lập Kỷ Tỵ.
Giờ Ngọ thì phải lập Canh Ngọ.
Giờ Mùi thì phải lập Tân Mùi.
Giờ Thân thì phải lập Nhâm Thân.
Giờ Dậu thì phải lập Quý Dậu.
Giờ Tuất thì phải lập Giáp Tuất
Giờ Hợi thì phải lập Ất Hợi.
Ngày Kỷ cũng giống như trên.

Nếu sinh ngày Bính:
Giờ Tý thì phải lập Mậu Tý.
Giờ Sửu thì phải lập Kỷ Sửu
Giờ Dần thì phải lập Canh Dần
Giờ Mão thì phải lập Tân Mão.
Giờ Thìn thì phải lập Nhâm Thìn.
Giờ Tỵ thì phải lập Quý Tỵ.
Giờ Ngọ thì phải lập Giáp Ngọ.
Giờ Mùi thì phải lập Ất Mùi.
Giờ Thân thì phải lập Bính Thân.
Giờ Dậu thì phải lập Đinh Dậu.
Giờ Tuất thì phải lập Mậu Tuất.
Giờ Hợi thì phải lập Kỷ Hợi.

Kỳ dư thì cũng nên làm theo bản kê khai ở trên mà lập ra.

Nay đã biết lập thành cục rồi, nhưng cách đoán thì làm sao? Cách đoán như sau, chúng ta phải lấy Thiên Can của ngày làm mệnh chủ, gọi là Nhật Nguyệt, tức xưng là Ngã (tôi). Bất cứ một số mệnh nào cũng vậy, đã lấy Nhật Nguyên làm Mệnh Chủ thì 3 Thiên Can và 4 Địa Chi còn lại là những chữ có liên quan với mình.

Hàng Can Chi của năm sinh là cung tổ, tức là cung Phúc Đức.
Hàng Can của tháng là anh em, hàng Chi là cha mẹ.
Hàng Chi của ngày là thê hay phụ.
Hàng Can Chi của giờ là con.

THẬP THẦN (10 thần)
Do chỗ Sinh, Khắc, Xích (tiết đi, giảm đi), TRỢ mà phân thành THẬP THẦN. Lấy THẬP THẦN đó mà cân nhắc cho thăng bằng.

Nay tham luận như sau: THẬP THẦN có những tên sau đây:

CHÁNH ẤN: Hàng Can Chi sinh Nhật Nguyên, âm sinh dương.
– Giáp gặp Quý (Quý là âm thủy sinh cho Giáp dương mộc)
– Ất gặp Nhâm
– Bính gặp Ất
– Đinh gặp Giáp
– Mậu gặp Đinh
– Kỷ gặp Bính
– Canh gặp Kỷ
– Tân gặp Mậu
– Nhâm gặp Tân
– Quý gặp Canh

PHIẾN ẤN (còn gọi là KIÊU): Hàng Can Chi sinh Nhật Nguyên, dương sinh dương
– Giáp gặp Nhâm (Nhâm là dương thủy sinh cho Giáp dương mộc)
– Ất gặp Quý
– Bính gặp Giáp
– Đinh gặp Ất
– Mậu gặp Bính
– Kỷ gặp Đinh
– Canh gặp Mậu
– Tân gặp Kỷ
– Nhâm gặp Canh
– Quý gặp Tân

CHÁNH QUAN: Hàng Can Chi khắc Nhật Nguyên, âm khắc dương
– Giáp gặp Tân (Tân là âm kim khắc Giáp dương mộc)
– Ất gặp Canh
– Bính gặp Quý
– Đinh gặp Nhâm
– Mậu gặp Ất
– Kỷ gặp Giáp
– Canh gặp Đinh
– Tân gặp Bính
– Nhâm gặp Kỷ
– Quý gặp Mậu

THẤT SÁT (còn gọi là THIÊN QUAN): Hàng Can Chi khắc Nhật Nguyên, dương khắc dương
– Giáp gặp Canh (Canh là dương kim khắc Giáp dương mộc)
– Ất gặp Tân
– Bính gặp Nhâm
– Đinh gặp Quý
– Mậu gặp Giáp
– Kỷ gặp Ất
– Canh gặp Bính
– Tân gặp Đinh
– Nhâm gặp Mậu
– Quý gặp Kỷ

CHÁNH TÀI: Nhật Nguyên khắc hàng Can Chi, dương khắc âm
– Giáp gặp Kỷ (Giáp dương mộc khắc Kỷ là âm thổ)
– Ất gặp Mậu
– Bính gặp Tân
– Đinh gặp Canh
– Mậu gặp Quý
– Kỷ gặp Nhâm
– Canh gặp Ất
– Tân gặp Giáp
– Nhâm gặp Đinh
– Quý gặp Bính

PHIẾN TÀI (còn gọi là Thiên Tài): Nhật Nguyên khắc hàng Can Chi, dương khắc dương
– Giáp gặp Mậu (Giáp dương mộc khắc Mậu là dương thổ)
– Ất gặp Kỷ
– Bính gặp Canh
– Đinh gặp Tân
– Mậu gặp Nhâm
– Kỷ gặp Quý
– Canh gặp Giáp
– Tân gặp Ất
– Nhâm gặp Bính
– Quý gặp Đinh

THỰC THẦN: Nhật Nguyên sinh hàng Can Chi, dương sinh dương
– Giáp gặp Bính (Giáp dương mộc sinh cho Bính là dương hỏa)
– Ất gặp Đinh
– Bính gặp Mậu
– Đinh gặp Kỷ
– Mậu gặp Canh
– Kỷ gặp Tân
– Canh gặp Nhâm
– Tân gặp Quý
– Nhâm gặp Giáp
– Quý gặp Ất

THƯƠNG QUAN: Nhật Nguyên sinh hàng Can Chi, dương sinh âm
– Giáp gặp Đinh (Giáp dương mộc sinh cho Đinh là âm hỏa)
– Ất gặp Bính
– Bính gặp Kỷ
– Đinh gặp Mậu
– Mậu gặp Tân
– Kỷ gặp Canh
– Canh gặp Quý
– Tân gặp Nhâm
– Nhâm gặp Ất
– Quý gặp Giáp

TỶ: Nhật Nguyên gặp đồng loại, dương và dương
– Giáp gặp Giáp (cùng hành mộc, cùng là dương)
– Ất gặp Ất
– Bính gặp Bính
– Đinh gặp Đinh
– Mậu gặp Mậu
– Kỷ gặp Kỷ
– Canh gặp Canh
– Tân gặp Tân
– Nhâm gặp Nhâm
– Quý gặp Quý

KIẾP: Nhật Nguyên gặp đồng loại, dương và âm
– Giáp gặp Ất (dương mộc gặp âm mộc)
– Ất gặp Giáp
– Bính gặp Đinh
– Đinh gặp Bính
– Mậu gặp Kỷ
– Kỷ gặp Mậu
– Canh gặp Tân
– Tân gặp Canh
– Nhâm gặp Quý
– Quý gặp Nhâm

(Theo Khoa học Huyền bí)

Share this: