Giải mã "chân đi", thường chúng ta hay nghe số này đi đây đi đó, hay đi du lịch, hay đi làm xa, ít ở nhà.v.v..Sau đây giải thích hiện tượng "chân đi" theo tử vi. Dựa vào sao Ngựa Trời (sao Thiên Mã là 1 trong hơn 100 sao của Tử vi).

Biểu tượng Ngựa Trời (hay gọi sao Thiên Mã)
 

Về thân thể, Thiên Mã biểu tượng cho chân tay, về vật dụng, Thiên Mã biểu tượng cho con ngựa hoặc xe cộ, nói rộng ra là các phương tiện di chuyển.

Biểu tượng này cần phải phối hợp khi giải đoán, nhất là trong vận hạn, ví dụ như Thiên Mã Tuần Triệt hay sát tinh thì tai nạn có liên quan đến xe cộ, tứ chi hoặc bị hư xe…

Ngũ hành
Thiên Mã hành chính là Hỏa, và là dịch mã nên tùy theo vị trí đóng mà mang ngũ hành của cung: tại Dần thì mang hành Mộc, tại Tỵ hành Hỏa, tại Thân hành Kim và tại Hợi hành Thủy. Lưu ý VỊ TRí Đóng của Mã. Khi mã đóng tại Hợi thuộc hành Thủy (so hành thủy này với hành của mệnh). Ví dụ: Lá số Khổng Minh, Mã ở Hợi Thủy (cung Quan). Khổng Minh mạng Mộc, cho nên không được hưởng trọn con Mã này. Nhưng Thủy dưỡng cho Mộc, nên Khổng Minh cũng chỉ được hưởng Mã một phần.


Đắc hãm
Thiên Mã đắc địa tại Dần và Tỵ
Đăc điểm về cách an sao


Thiên Mã được an căn cứ vào Chi của năm sinh.

a.Tuổi Tỵ Dậu Sửu an Thiên Mã tại Hợi,

b. Tuổi Hợi Mão Mùi an Thiên Mã tại Tỵ,

c. Tuổi Dần Ngọ Tuất an Thiên Mã tại Thân

d. Tuổi Thân Tí Thìn an tại Dần.

 

Thiên Mã lúc nào cũng chỉ ở vị trí Dần Thân Tỵ Hợi.


Tên gọi
Mã tại Dần gọi là Mã Trạng Nguyên hay Thanh Thông Mã

Mã tại Tỵ gọi là Xích Thố Mã, Hữu Vi Thủ Ấn Mã
Mã tại Thân gọi là Bạch Mã hay Tể Tướng Mã
Mã tại Hợi được gọi là Ô Truy Mã, Cùng Đồ Mã, Hữu Vi Ngự Sử Mã

Việt Viêm Tử có bài phú như sau:
Mệnh cung trung đóng sao Thiên Mã,
Tại Dần cung, gọi Mã Trạng Nguyên
Tể Tướng Mã, Thân cung an,
Ô Truy Ngự Sử, Hợi nhàn Mã lâm
Phù Thi Mã, Hình xâm Mã vị,
Xích Thố Mã, cung Tỵ Mã ngồi
Mã Đà, Triết Túc, què rồi
Giao Trì Lộc Mã, tiền tài đầy kho

Ý nghĩa của Thiên mã (Ngựa Trời)
Chủ sự thay đổi, di chuyển, có liên quan đến xe cộ hoặc chân tay
Có liên quan, ảnh hưởng đến công danh, tài lộc, phúc thọ

Thiên Mã tại Mệnh (phải hợp Mênh mới có đặc tính sau)
Đa tài, thao lược, nhiều tài năng, đặc biệt là tài tổ chức
Nghị lực
Hiếu động
Nhanh nhẹn, thao vát, mau mắn
Khéo léo

Ăn nói giỏi, có tài ngoại giao
Hay đi xa, nên làm công việc có tính lưu động
Đặc tính trên chỉ nổi bật khi Mã hợp Mệnh, còn nếu không hợp Mệnh (lưu ý Mã hơp Mênh) thì lại là người ù lì, không có tài ăn nói

 

Mã tại Nữ Mệnh thì dâm, cùng Phá Quân hoặc Tham Lang đồng thủ Mệnh tại Dần Thân Tỵ Hợi thì là người rất lẳng lơ và khắc chồng.


Thiên Mã nhập Mệnh, mẫn tiệp đa năng
Thiên Mã nhập Mệnh đó ai,
Tài năng mẫn tiệp người người ngợi ca


Thiên Mã Nữ Mệnh ca
Thiên Mã Mệnh Thân tối vi lương (điều cực tốt)
Tử, Phủ, Lộc Tồn ngộ phi thường
Quan hoạn phùng chi, ưng hiển đạt
Sĩ nhân ngộ thử, phó khoa trường (kẻ sĩ gặp thì thi đậu)

Luận giải Thiên Mã
Thiên Mã chủ sự vận động, biến chuyển, thay đổi, rất cần được phối hợp với các sao tốt đẹp và rất kỵ gặp các sát tinh, nhất là hãm địa hoặc Tuần Triệt.

Tùy theo sự kết hợp với các sao thuộc loại nào mà mang tính chất thay đổi khác nhau: đi với tài tinh chủ về sự thay đổi liên quan đến tiền tài, đi với quí tinh hoặc văn tinh thì thay đổi liên quan đến công danh sự nghiệp, đi với đào hoa tinh thì sự thay đổi liên quan đến hôn nhân, tình cảm, đi với hung tinh thì điều xấu dễ xảy ra.

Vì mang tính chất thay đổi nên Thiên Mã, nhất là Lưu Thiên Mã tọa thủ tại các cung cũng góp phần tăng thêm ý nghĩa thay đổi như Thiên Mã tại cung Tài thì thay đổi liên quan đến tiền bạc, tại Điền thì thay đổi liên quan đến điền sản chỗ ở, tại Quan thì liên quan đến công danh nghề nghiệp, tại Di (cung hoành cảnh) thì liên quan đến đi lại.

 

Sự kết hợp của Thiên Mã với các sao chủ sự thay đổi như Thiên Đồng, Thái Âm, Song Hao sẽ gia tăng tính chất thay đổi. Sự thay đổi này tốt hay xấu, có lợi cho bản thân hay không thì cần luận đoán tổng hợp xem cung đó tốt hay xấu, đồng thời gia giảm trong tư thế sinh khắc giữa ngũ hành bản Mệnh với hành của Mã tại vị trí đóng.

Rất nhiều sách vở căn cứ vào tương quan sinh khắc giữa ngũ hành của Mã và ngũ hành bản Mệnh để xác định tốt xấu. Họ cho rằng Mã cùng hành với bản Mệnh thì hợp cách, tốt nhất, toàn quyền sử dụng (Mã tại Hợi thì hợp cho người Mạng Thủy, Thổ), Mã sinh Mệnh cũng tốt, còn Mệnh khắc Mã thì không làm chủ được Mã, Mệnh sinh Mã thì bị xấu, Mã khắc Mệnh là xấu nhất.

Đây là quan niệm phiến diện, cần nên được hiểu là khi Mã đồng hành hoặc sinh Mệnh thì sự thay đổi xấu tốt sẽ ứng mạnh vào bản thân hơn. Tiên quyết khi cung đó tốt thì sự xuất hiện của Mã sẽ gia tăng điều tốt vì Mã chủ sự biến chuyển, nếu được Mã đồng hành hoặc Mã sinh Mệnh thì càng tốt hơn vì ứng mạnh đến bản thân, còn các trường hợp khác thì sự chuyển biến gia tăng tốt không mạnh được vì không ứng mạnh. Nếu cung đó xấu thì sự xuất hiện của Mã chủ sự gia tăng điều xấu, nếu lại là Mã đồng hành hoặc sinh Mệnh thì càng xấu hơn, điều xấu sẽ ứng mạnh vào bản thân, rất bất lợi cho bản thân

Luận đoán Mã tại hạn
Mã và Lưu Mã chủ sự thay đổi nên rất quan trọng khi luận đoán, Lưu Mã ảnh hưởng đến tiểu hạn mà thôi. Cần chú ý rằng tiểu hạn của Nam thì luôn luôn có Lưu Mã, tiểu hạn của Nữ thì luân phiên có Lưu Mã hoặc Lưu Tuế Phù Hổ. Như vậy nếu chỉ căn cứ vào Mã mà giải đoán là có sự thay đổi liên quan đến công ăn việc làm hay đi xa thì chưa chắc đúng. Sau đây là vài điểm cần lưu ý cho sự thay đổi có khả năng xẩy ra tại hạn khi:


Tiểu hạn có Mã hoặc Lưu Mã thủ đồng cung hay xung chiếu
Tiểu hạn có Mã hoặc Lưu Mã kết hợp với các sao thay đổi khác như Song Hao, Lưu Song Hao, Đồng, Lương, Nhật Nguyệt. Các sao thay đổi thủ tại hạn thì mạnh hơn chiếu hạn
Tiểu hạn và đại hạn trùng phùng có Lưu Mã thủ hoặc chiếu
Tiểu hạn có Lưu Mã chiếu tiểu hạn lẫn đại hạn, nếu có thêm Thiên Mã càng rõ


Sự thay đổi tại tiểu hạn sẽ mạnh mẽ hơn khi đại hạn có sao thay đổi như Thiên Mã thủ, Đồng, Lương, Nhật Nguyệt, Song Hao, càng hội tụ nhiều thì càng thay đổi mạnh. Đại hạn có cách thay đổi thì tiểu hạn mới có khả năng thay đổi mạnh được


Sự thay đổi có thể liên quan đến chỗ ở (mua nhà, dọn nhà), công việc (đổi trường, tốt nghiệp, đổi nghề, đổi nơi làm, thăng chức, xuống chức, có thêm nghề mới, mất việc..), đi xa (du lịch, công tác xa nhà), hạnh phúc tình cảm (lập gia đình, ly dị , có con, có bồ, chia tay), tiền tài (hoạch phát tiền tài, hao tài tốn của), bệnh tật tai họa (tai nạn, té ngã, mất xe, xe hư. Cần chú ý đến các sao lưu nhập hạn đặc biệt Lưu Lộc Tồn, Lưu Kình Đà, Lưu Song Hao, Lưu Triệt
 

Sự kết hợp với Thiên Mã gia tăng tính tốt đẹp:
Mã Lộc Tồn đồng cung hay xung chiếu: rất tốt đẹp về mặt tài lộc, công danh, mọi việc đều hưng vượng, hanh thông, tài quan song mỹ, không phải nhọc nhằn mà tài lộc vào như nước
.

Đồng cung thì được gọi là Chiết Tiễn Mã (bẻ roi đánh ngựa), xung chiếu thì gọi là Lộc Mã giao trì ví như ngựa vào đồng cỏ tha hồ mà ăn. Cách này tọa tại Mệnh, Tài, Điền hay Di hoặc hạn rất tốt đẹp.

 

Mã Tràng Sinh hay Mã Hỉ Thần Tràng Sinh đồng cung, được gọi là Thanh Vân đắc lộ cách, chủ sự may mắn hanh thông, mọi sự đều được dễ dàng, thuận lợi, đặc biệt liên quan đến công danh quyền thế nhưng cần kết hợp thêm với các sao tốt đẹp khác như Lộc Tồn Tam Hóa thì ảnh hưởng mới mạnh mẽ. Thái Thứ Lang cho rằng tại Hợi thì vất vả, không có lợi cho việc cầu công danh, chủ sự trắc trở nhưng cần xét lại vì Mã tại Hợi chưa hẳn là xấu.

 

Mã Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh đắc địa: đồng cung thì được gọi là Chiến Mã, Chiến Binh Mã, ngựa ra trận chiến đấu, chủ sự dũng mạnh, liên quan đến binh quyền, quân sự.

 

Mã Khoa Quyền Lộc: gia tăng công danh, quyền hành, tài lộc. Theo kinh nghiệm Mã Hóa Lộc không tốt đẹp bằng Mã Lộc Tồn.

Mã Tử, Phủ đồng cung tại Dần Thân được gọi là Phù Dư Mã, ngựa kéo xe cho vua tôi, chủ sự tài giỏi, thao lược, có uy quyền hiển hách, giàu sang, phúc thọ song toàn, hanh thông. Nếu có thêm Lộc Tồn (bộ Mã Lộc Tử Phủ) thì rất tốt đẹp Mã Nhật, Nguyệt sáng sủa, được gọi là Thư Hùng Mã chủ sự giàu sang vinh hiển.

 

Mã Khốc Khách hội họp: được gọi là Tuấn Mã, ngựa tốt, ví như ngựa đeo nhạc hay (Khốc), lại có người cỡi giỏi (Khách): chủ sự dũng mãnh, thao lược, chuyên về quân sự, có liên quan đến chinh chiến. Bộ này cần kết hợp với các sao sáng sủa tốt đẹp như Lộc Tồn, Hóa Lộc, Khoa, Quyền hoặc chính tinh sáng sủa thì mới có nghĩa tốt đẹp được.

 

Sự kết hợp với Thiên Mã gia tăng tính xấu xa (chú ý các cách tốt đẹp trên nếu rơi vào trường hợp dưới đây thì trở thành phá cách, phá nhiều hay ít thì còn tùy theo sự kết hợp với sao nào)


Mã gặp hung tinh hãm địa (như Hỏa Linh, Kình Đà, Không Kiếp hãm) thủ chiếu. Càng gặp nhiều sao thì càng xấu, gây ra sự trở ngại, bế tắc, thất bại, tai họa, gặp Không Kiếp hãm địa thì xấu nhất. Mã Đà đồng cung hay xung chiếu được gọi là Chiết Túc Mã, ngựa bị què, gây ra sự thay đổi bất lợi, gây ra sự ngăn trở trong mọi công việc hoặc tai họa. Nếu các hung tinh đắc địa thì chủ sự hoạch phát hoạch phá đến rất nhanh chóng.


Mã Triệt, Mã Tuần (Mã Triệt thì xấu hơn Mã Tuần). Mã Tuần, Triệt còn gọi là Tử Mã, ngựa bị chết, gây ra tai họa, bại hoại, chết chóc. Ngày nay 1 người bị tông xe cũng gọi là Mã Triệt, Mã Tuần.


Mã Hình đồng cung (cho dù Hình đắc hay hãm, hãm địa tại Tỵ Hợi thì càng bất lợi). Mã Hình đồng cung còn gọi là Phù Thi Mã, ngựa mang xác chết, gây tai họa khủng khiếp, chết chóc thê thảm, thường là tai nạn hình thương liên quan đến tay chân nhưng khi Hình đắc địa tại Dần Thân thì cần thêm sự phối hợp với các hung tinh khác mới rõ nét, nếu đi với nhiều cát tinh thì không phải lo sợ về điều xấu

Đây là ba phá cách của Thiên Mã rất mạnh, các cách dưới đây tuy xấu nhưng cũng không đáng lo ngại:

Mã Tuyệt đồng cung: gọi là Cùng Đồ Mã, ngựa cùng đường không lối chạy chủ sự bế tắc, thất bại
Mã Hao đồng cung: gọi là dâm Mã, gây ra hao hụt, thay đổi mạnh
Mã Tang Hư Khốc: gây ra hao tán tiền tài, xa cách, nhân ly tài tán, lo lắng, buồn phiền


Mã Lương Tỵ Hợi là cách dâm đãng, ăn chơi phóng túng
Cần chú ý là Mã tại Hợi thì cũng được cho là Cùng Đồ Mã, chủ sự bế tắc, thất bai. Thực tế kinh nghiệm cho thấy Mã tại Hợi chưa hẳn là xấu, xấu tốt cũng chủ yếu căn cứ vào cung đó được phán đoán là tốt hay xấu mới quyết định

Thiên Mã với Phụ Tinh
Mã Lộc hội họp là cách hiếm có, là người tài giỏi, có phong độ, Nữ Mệnh thì vượng phu ích tử
Vượng phu ích tử lương do Lộc Mã giao trì (6)
Mã Lộc ấy một phường hội ngộ, cách phi thường phong độ anh tài (7)
Mệnh có Thiên Mã thủ, Lộc Tồn xung chiếu hoặc có Lộc thủ Thiên Mã xung chiếu thì giàu có, dễ kiếm tiền và được nhiều người thương mến. Thiết tưởng Lộc Mã đồng cung cùng có nghĩa như vậy:
Lộc Mã tối hỉ giao trì, chúng nhân sủng ái
Mã Song Lộc thì là người chuyên quyền.

 

Lã Hậu kiêm việc triều chính vì cung Mệnh tại Dần có Lộc Tồn và Hóa Lộc gặp Thiên Mã. TVT giải rằng Lộc Tồn gặp Thiên Mã tọa thủ đồng cung nên lời giải không chính xác
Lã Hậu chuyên quyền, lưỡng trùng Thiên Lộc, Thiên Mã
Kìa như phụ nữ chuyên quyền,
Lưỡng trùng Lộc Mã, Mệnh viên rõ ràng
Mệnh bà Lã Hậu chuyên quyền,
Lưỡng phùng Lộc, Mã thủ viên rõ ràng
Mệnh bà Lã Hậu chuyên quyền,
Song Lộc ngộ Mã thủ liền một cung 
Mệnh có Lộc Tồn Thiên Mã đồng cung thì là cách rất tốt đẹp, hơn người, ăn trên ở trước, buôn bán phát đạt mà trởi nên giàu có Lộc Tồn Thiên Mã đồng gia (đồng cung), có người buôn một bán ba nên giàu


Lộc Tồn Thiên Mã đồng (cùng) gia, Có người buôn một, bán ba nên giầu
Mã Lộc thấy một vùng hội ngộ, Cách phi thường, phong độ anh tài (B40)
Văn hơn (văn chương hơn người) là Việt, Khoa, Khôi,
Ngồi ở trên người, Lộc Mã đồng cung
Đồng cung Tồn (Lộc Tồn) Mã gặp nhau,
Ấy Chiết Tiễn Mã, ngàn dâu thẳng đường (chạy đường xa)
Mệnh có Lộc Tồn Thiên Mã thì không sát tinh xâm phạm thì công danh tốt đẹp, văn chương lỗi lạc đanh thép. Chú ý câu phú này không đề cập là phải đồng cung
Thiên Lộc Thiên Mã kinh nhân giáp đệ 
Mệnh Thân an tọa Tứ Sinh,
Cánh phùng Lộc, Mã thủ thành Mệnh viên 
Tam phương củng chiếu đều yên,
Kinh nhân giáp đệ, danh trên bảng rồng 


Mệnh có Lộc Tồn tọa thủ, Mã xung chiếu hay có Mã thủ, Lộc Tồn xung chiếu nếu gặp Kiếp Không Tuế hội họp thì mờ ám xấu xa, suốt đời chẳng mấy khi được xứng ý tọai lòng, công danh trắc trở, hay phải lo lắng về sinh kế và khó tránh tai họa
Lộc đảo, Mã đảo, kị Kiếp Không Thái Tuế 

 

Mã Lộc gặp Tướng Quân (chú ý Tướng Quân bao giờ cũng tam chiếu với Lộc Tồn) thì là người giàu sang và là người đảm lược, anh hùng :
Mã Lộc ngộ Tướng (Tướng Quân) mấy ai, giàu sang đến trước đàng trai anh hùng 


Tướng Quân Lộc Mã mấy người, Giầu sang đến trước đáng trai anh hùng 
Tướng Quân, Lộc, Mã có người, Giầu sang đảm lược, nên trai anh hùng (cung Huynh Đệ – QXT)
Tướng (Thiên Tướng) Ấn chính vị Công Hầu,
Binh, Hình, Lộc, Mã hội chầu Mệnh viên

 

Thiên Mã gặp Tràng Sinh thì công danh hoạnh đạt, hay gặp may mắn, hưởng phúc lâu bền:
Mã ngộ (hoặc hỉ) Tràng Sinh, thanh vân đắc lộ
Mã ngộ Trường Sinh nhi hưởng phúc 
Thiên Mã thiên trình ngộ Tràng Sinh nhi hưởng phúc 
Mã Tràng Sinh đồng cung tại Hợi là người phải hay bôn ba lận đận


Tràng Sinh tại Hợi, Tuyệt xứ phùng sinh, nhi phùng Thiên Mã lộ đồ bôn tẩu 
Mã Tràng Sinh, Hỉ Thần (Thiên Hỉ không bao giờ hội họp với Mã) thì chủ sự gặp may mắn về công danh:
Một áng có Tràng Sinh Mã Hỉ,
Đường mây xanh phỉ chí bồng tang (gặp may mắn về công danh) 
Tràng Sinh, Mã, Hỉ đồng cung,Công danh đắc lộ, vẫy vùng một phương

 

Hạn gặp Khoa Quyền Lộc Mã thì rất tốt đẹp, chủ sự hiển vinh
Khoa Quyền Lộc Mã vận này,
Mừng rằng số ấy đến ngày hiển vinh

Khoa, Quyền, Lộc Mã, Văn, Khôi,
Công thành danh toại đến hồi hiển vinh 
Khoa, Quyền, Lộc Mã, Thiên Khôi,
Công thành danh đạt đến hồi hiển vinh 


Khoa Quyền Lộc Mã hội họp bị Không Kiếp xâm phạm thì là phá cách, trở nên xấu xa:
Khoa Quyền Lộc Mã tu phòng (đề phòng) Không Kiếp ám xung
Thiên Mã gặp Tam Thai thì là anh hùng không có đối thủ, vô địch:
Thiên Mã ngộ Tam Thai anh hùng vô đối 
Mệnh Mã Khúc nếu có tính cần kiệm thì được hưởng phúc trước 40 tuổi:
Tính cần Mã Khúc ư tứ thập nhị tiền


Mã gặp Khốc Khách thì gọi là Tuấn Mã, như ngựa có nhạc:
Tuấn Mã Khốc Khách hợp bài,
Ngựa kia có nhạc anh hài lên yên
Mã cùng Khốc Khách hợp vào,
Ngựa kia có nhạc anh hào lên yên

 

Mệnh có Thiên Mã không gặp sao Không (Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không) thì là bậc quân tử, con nhà lương thìện gia giáo. Theo QXT thì tại cung Phối mới có nghĩa này:


Mã bất kiến Không lương gia quân tử
Mã chẳng gặp với Không ở đó, Người từ nhân nhà họ lương gia
Mã chẳng gặp Tứ Không ở đó, Thời con nhà vọng tộc lương gia


Thiên Mã gặp Tuần hay Triệt án ngữ cả đời long dong nay đây mai đó
 

Mã ngộ không vong chung thân bôn tẩu
Thiên Mã ngộ Tuần không, chung thân bôn tẩu

 

Tuần Triệt hội Mã Mệnh viên, Ấy là ngựa chết đời liền gian chuân

Mã gặp Không thì lẳng lơ ong bướm (cũng như Thiên Đồng Thiên Riêu thì ngoại tình), hì lấy vợ giang hồ:
Đồng Riêu ý ngoại chẳng bàn,
Tứ Không ngộ Mã nhiều đoàn bướm ong 
Cơ Riêu, ấy ngoại tình bàn,
Tứ Không ngộ Mã lắm đành bướm ong (lấy vợ giang hồ)


Cái ngộ Mộc (Mộc Dục) gái nào đoan chính, Mã ngộ Không là tính phiêu bồng
Mã gặp Thiên Hình thì là ngựa mang xác chết, đưa đến hình thương tay chân:
Thiên Hình ngộ Mã chẳng nên,
Phù Thi Mã ắt tật nguyền chân tay
Thiên Hình chặn Mã chẳng nên,
Ngựa mang xác chết tật nguyền chân tay

Theo Thái Vân Trình thì Mã Hình gặp Khốc (Bộ Mã Khốc Khách Thiên Hình) thì như Công Hoan phát về võ nghiệp, câu phú này cần phải kiểm nghiệm lại:
Mã ngộ Thiên Hình nhi phùng Thiên Khốc, Công Hoan phát võ 

 

Thiên Mã gặp Hình, Hỏa thì nguy hiểm:
Hình Hỏa kị phần Thiên Mã
Mã gặp Linh, Hỏa miếu địa thì rất tốt đẹp, nhất là về quân sự:
Mã ngộ Linh, Hỏa miếu cung,
Chiến Binh Mã ấy vẫy vùng nơi nơi
Mã ngộ Linh Hỏa miếu cung,
Chiến binh Mã ấy vẫy vùng mọi nơi

 

Mệnh hay Thiên Di có Mã gặp Hỏa thì không nên đi xa bất lợi.  Gặp Linh Tinh thì cũng vậy. Thiết tưởng cần phải Hỏa Linh hãm địa:
Chích Hỏa (Hỏa Tinh) phần Thiên Mã bất nghi xuất hành (hay viễn hành) 
Mã gặp Hỏa hay Linh thì đề phòng hỏa hoạn, cháy nhà
Hỏa Linh ngộ Mã oan gia, đề phòng hỏa hoạn mới là khỏi tai 
Hỏa ngộ Mã phải oan gia, Lánh nợ lửa cháy mới hòa khỏi tai

 

Kình hay Đà thủ gặp Mã xung chiếu thì là số nhà binh phải đánh Đông dẹp Bắc mãi không thôi:
Dương Đà phùng Mã trực xung (Mã xung chiếu), Những là đánh Bắc dẹp Đông chẳng rồi
Mệnh có Linh Mã gặp Kình hay Đà thì chân tay bị tàn tật. Theo TTL thì Linh Mã cần đồng cung:
Linh phùng Mã, nhi ngộ Kình, Đà, hữu tật tứ chi 

Mã gặp Đà La thì dễ có đới tật hoặc bị tai nạn đặc biệt liên quan đến chân tay:
Cơ, Lương hãm khôn ngoan sảo trá,
Đới tật vì Mã Đà trùng giao

Lộc Mã rất tốt đẹp nhưng nếu gặp Triệt, cũng giống như Thái Tuế gặp Không Kiệp lại là phá cách, trở nên xấu xa:
Kiếp Không Thái Tuế suy vi, Lộc Mã ngộ Triệt ích gì nữa mong
Lộc Mã ngộ Bại, Tuyệt hương (ở Bại Địa, Tuyệt Địa)
Tuế ngộ Không Kiếp là phương không lành

Mệnh Thân đồng cung an tại Tỵ Ngọ hoặc Hợi Vô Chính Diệu (VCD) rất sợ gặp Mã Hình Linh Kiếp hội họp ví như hoa nở đã gặp mưa gió vùi dập nên rất xấu xa, nếu giàu sang thì chết sớm, nghèo hèn thì sống thọ:


Mệnh Thân đồng tọa như Hỏa cung hoặc lâm Hợi địa đồng cung VCD khủng kiến Mã Hình Linh Kiếp thủ chung hoa khai ngộ vũ, mãn thế phi bần tắc yểu 

Mã gặp Đà La hay Tuần Triệt thì gian nan, thay đổi bất lợi, đề phòng tai nạn liên quan đến tay chân:
Chiết Túc: Đà Mã sum vầy,
Tử Mã: Tuần Triệt đêm ngày khảm kha
Đà La với Mã xum vầy,
Dây gai vương vít Mã này gẫy chân
Hay gì Mã gặp Đà Dương,
Nhọc nhằn những áng sa trường đôi khi 
Dương Đà phùng Mã trực xung,
Những là đánh Bắc đẹp Đông chẳng rồi
(là quân nhân phải vất vả đánh Đông đẹp Bắc)

Mã Tuyệt đồng cung là ngựa hết đường chạy, chủ sự bế tắc, thất bại:
Mã cùng sao Tuyệt một nhà, Cùng Đồ Mã ấy thật là vô phương
Mã kia Tuyệt địa một nhà, Cùng Đồ Mã ấy thiệt là vô phương
Khốc Hư Tang Mã chẳng lành,
Hại người hại của, phận đành tai ương

 

THIÊN MÃ VỚI CHÍNH TINH

Mã kết hợp với Tử Phủ đồng cung hoặc Nhật Nguyệt sáng sủa là hợp nhất, rất tốt đẹp, đi với Thiên Lương Tỵ Hợi thì là cách phong lưu ăn chơi, dâm đãng, đi với Liêm Tham Tỵ Hợi
Tử Phủ Dần Thân gặp Mã thì chủ sự hanh thông may mắn:
Tử Phủ gặp Mã Dần Thân,
Phù Dư Mã, ắt thanh vân lộ đồ
Tử Vi gặp Mã Lộc Tồn là phi thường cách, rất tốt đẹp:
Lộc Tồn, Tử (Tử Vi) cùng Thiên Mã hội,
Ngộ phi thường, mừng buổi phong lưu (QXT)

Nhật Nguyệt sáng sủa gặp Mã đồng cung gọi là Thư Hùng Mã, chủ về giàu có:
Nhật Nguyệt địa, Mã tương hội,
Thư Hùng Mã ắt tài cơ sang giàu

Nhật tại cung Tỵ thì rất sáng sủa tốt đẹp ví như mặt trời ở trên cao tỏa ánh sáng xuống, gặp được Lộc Mã Tràng Sinh, Lộc Tồn (chú ý TTL không đề cập đến Lộc Tồn), Tả Hữu thì rất giàu có trong thời bình, nếu gặp Tướng Ấn Binh Hình và không bị Tuần Triệt xâm phạm thì lập chiến công trong thời loạn
Nhật tại Tỵ cung, Nhật mỹ huy thiên, kiêm lai Lộc Mã Tràng (Tràng Sinh) Tồn (Lộc Tồn) Phụ Bật thế sự thanh bình vi đại phú (thời bình thì rất giàu có), nhược kiêm Tướng Ấn Binh Hình vô lai Tuần Triệt (không bị Tuần Triệt xâm phạm) loạn thế công thành (lập chiến công trong thời loạn) (39, TTL) (chú ý TTL không ghi Lộc Tồn

Nhật, Mộc Dục, Thiên Mã tại cung Tỵ gặp Trường Sinh, Phụ Bật thì phú quí vinh hiển, nếu gặp Tướng Ấn thì phải gặp thời loạn mới thành công:
Nhật, Mộc (Mộc Dục), Mã tại Tỵ cung,
Trường Sinh, Phụ Bật hợp cùng: phú vinh (HC 55)
Bằng gặp Tướng Ấn: binh hùng,
Phải thời loạn thế mới thành công to (HC)

Mệnh Vũ Khúc tọa thủ có Lộc Mã hội họp thì kiếm tiền dễ dàng ở nơi xa quê hương. TTL cho rằng Vũ cần đắc, vượng, miếu. Lộc ở đây là Lộc Tồn và chỉ có cung Dần Thân mới có cách Lộc Mã đồng cung hay xung chiếu mà thôi nên cách này chỉ có Vũ Tướng Dần Thân, Vũ Khúc Thìn Tuất mới có khả năng gặp
Vũ Khúc Lộc Mã giao trì (Lộc Mã xung chiếu nhau), phát tài viễn bộ (viễn quận) (24, TTL)
Tham Liêm đồng cung tại Hợi thì như mây không gặp gió, nghĩa là xấu, không có thời, gặp Tuyệt Linh Tinh hội họp (theo TTL thì đồng cung) thì là người nghèo khó, và nếu gặp Kình Dương Không Hư Mã thì cả đời nếu không chết sớm thì cũng cô đơn bần hàn

Tham Liêm Càn Thượng (cung Hợi, nghĩa là Tham Liêm đồng cung tại Hợi) vân lập vô phong (mây không gặp gió, nghĩa là xấu, không có thời) Tuyệt Linh ưu nhập, vi nhân bần khổ, nãi phùng Dương Nhận (nếu gặp Kình Dương) Kiếp Không Hư Mã chung thân phi yểu tắc cô bần 
 

Thiên Lương tại Tỵ Hợi gặp Thiên Mã đồng cung hay xung chiếu thì là người phiêu lãng, thích ngao du đó đây, chơi bời. Nữ Mệnh có thì dâm đãng, hoa nguyệt bừa bãi, nếu không gặp quí tinh thì nghèo hèn ti tiện
Thiên Lương, Thiên Mã vi nhân phiêu đãng vô nghi
Mệnh ngộ Mã Lương, túng du vô yếm


Thiên Lương ngộ Mã Nữ Mệnh tiện nhi thả dâm
Thiên Lương mà ngộ Mã tinh, Nữ Mệnh hèn hạ, tính tình hoang dâm


Nết dâm số gái yêu kiều, Mệnh cung Thiên Mã Lương chầu không sai 
Buông lòng dục hoang dâm chẳng chán, Mã cùng Lương giao hãm miếu xung 
Thiên Lương, Thiên Mã đồng hành, Yêu kiều gái ấy dấn mình bướm ong


Phiêu bạt (lang thang đây đó) ấy Mã Lương viên hãm, Hoặc Hỏa Linh Không Kiếp không lành
Thiên Mã tại Tỵ là Chiến Mã, gặp Lương Khoa thì rất tốt, là người tài ba lỗi lạc, gặp thời loạn thì hoạnh đạt


Thiên Mã tại Tỵ thị ư Chiến Mã, hạnh ngộ Lương Khoa loạn thế xuất đầu 
Cơ Lương sáng sủa (như Đồng Lương Dần Thân, Cơ Lương Thìn Tuất) gặp Lộc Mã thì rất giàu có. Điền hay Tài cung vậy.

 

Cơ Lương phùng Lộc Mã, phú kham địch quốc (rất giàu có) 

 

Thiên Di có Cơ Mã đồng cung thì là người làm công vụ ở nước ngoài, ở phương xa, hay xa nhà:
Thiên Di Cơ Mã cùng ngồi (đồng cung), Đông trì, Tây vụ pha phôi cõi ngoài (8)
Tử Vi Thất Sát tại cung Tỵ thì ví như vua mang kiếm báu tất nhiên có uy quyền và phú quí, gặp Hỏa Tinh, Tuyệt hội họp thì người khát máu, tàn nhẫn, hay giết người, nhưng lại gặp thêm Bật Khoa Mã Ấn Tràng Sinh, Hồng Loan thì lập được chiến công thần kỳ, là Ðại Tướng


Sát Tử (Tử Vi Thất Sát) Tốn cung (cung Tỵ) Ðế huề bảo kiếm, Hỏa (Hỏa Tinh) Tuyệt nhập xâm, đa sát chi nhân, hạnh ngộ Bật Khoa Mã Ấn Sinh Hồng di lập chiến công vi Ðại Tướng.


Sát Mã chiếu Mệnh Thân Ngọ vị,
Đấng Công Hầu võ lược tôn vinh (làm đến Công Hầu võ nghiệp cao) 

Mã gặp sát tinh Quan Phù hội họp thì đề phòng bị giam cầm, tù tội:
Sát Phù (Quan Phù) Mã gặp nhau phương ấy,
Nỗi nhà Linh vận ấy thêm càng (bị giam vào nhà Linh tức là ở tù))

Mệnh có Phá Quân hay Tham Lang gặp Lộc Mã trai thì chơi bời hoang đàng, đàn bà thì dâm dật, nhưng lại kiếm tiền dễ dàng vì có Lộc Mã:
Phá Quân, Tham Lang phùng Lộc Mã, Nam đa lãng đãng Nữ đa dâm (19, TTL)
Phá Quân gặp Thiên Mã thì như người nước Tề ghét người nước Kim, ý nói không tốt đẹp, hai sao này không nên gặp nhau
Tề tu kiến Kim phu giai do Phá Quân phùng Thiên Mã 
Tề Tử kiến Kim phu giai do Phá Quân phùng Thiên Mã 
Phá Quân gặp Mã, Riêu thì là hạng du đãng:
Phá Quân, Riêu, Mã hợp vào,
Ấy hạng du đãng ai nào muốn thân

Mệnh Thân đồng cung an tại Tỵ Ngọ hoặc Hợi VCD rất sợ gặp Mã Hình Linh Kiếp hội họp ví như hoa nở đã gặp mưa gió vùi dập nên rất xấu xa, nếu giàu sang thì chết sớm, nghèo hèn thì sống thọ
Mệnh Thân đồng tọa như Hỏa cung hoặc lâm Hợi địa đồng cung VCD khủng kiến Mã Hình Linh Kiếp thủ chung hoa khai ngộ vũ, mãn thế phi bần tắc yểu (23)

Mệnh ở Tỵ Hợi có Kiếp Không Tướng Mã tọa thủ đồng cung, có Khoa thì trong lúc loạn lạc gặp được đúng vua nên lập được sự nghiệp lớn lao
Không Kiếp hà hiềm Tỵ Hợi, Tướng Mã đồng cư chi hội Khoa Tinh, loạn thế phùng quân chi cách (TTL)

THIÊN MÃ TẠI CÁC CUNG

Cung Điền, Tài
Thiên Mã nên ở Điền Tài thì rất tốt đẹp, lúc phát thì điền tài vào nhanh như ngựa chạy:
Thiên Mã yếu thủ ư Điền Tài (18, B63)
Mã thủ viên Điền Tài hội họp,
Tướng (Thiên Tướng) lợi cung Thê Thiếp lạ dường (Thiên Mã tại Điền Tài hay cung Thê có Thiên Tướng thì tốt lạ thường) (B115)
Cơ Lương gặp Lộc Mã tại Điền Tài thì có nhiều tiền bac, tài sản như Thạch Sùng
Của cải ví Thach Sùng kim cốc,
Ở Điền Tài Lộc Mã Cơ Lương 

Cung Quan
Cung Quan có Mã gặp Khốc Hình Quyền Lộc thì phát về võ nghiệp, làm quan văn thì đến nhất phẩm:
Mã ngộ Khốc nhi phùng Hình Quyền Lộc tại Quan cung võ tất thăng ban đệ nhất, văn hội chuyên đạt Tam Công (9)

Cung Di
Thiên Di có Lộc Mã thì giàu có lớn, ra ngoài buôn bán tiền vào như nước, tiền tài vào như ngựa chạy. Thực chất đây là cách Lộc Mã giao trì tại Mệnh:
Lộc Mã Thiên Di sinh tài hữu lực (14, B63)
Cách Lộc Mã Thiên Di dễ được,
Số sinh tài có sức ghê thay (B115)
Tài buôn bán nhiều bề giỏi dắn,
Mã Mệnh cung, Tồn (Lộc Tồn) tại Thiên Di

Cung Tử Tức
Cung Tử Tức có Thiên Mã gặp Không (Tuần Triệt) thêm Tả Hữu thì có con sanh đôi
Tử cung Thiên Mã phùng không, gặp sao Phụ Bật một vùng sanh đôi (20)

Cung Phối
Phu Thê an tại Dần Thân Tỵ Hợi có Thiên Mã tọa thủ thì đi xa mà nên duyên vợ chồng và thường là người giàu có, phú quí song toàn:
Thiên Mã Tứ Sinh Thê cung phú quí hoàng dương phong tặng (22)
Cung Thê có Mã gặp Triệt, Tuần thì vợ bỏ chồng trốn đi nơi xa, theo Quản Xuân Thịnh thì Mã Hình gặp Tuần, Triệt mới có nghĩa này:
Triệt Tuần ngộ Mã hành Thê vị,
Vợ bỏ chồng đào tị tha hương (NMB, VT)
Người nội trợ phương xa lộn bỏ,
Vì Thê cung Mã ngộ Triệt, Tuần (B109)
Triệt Tuần ngộ Mã, Hình Thê vị,
Vợ bỏ chồng đào tị tha phương (QXT)

Cung Thê có Thái Âm phùng Khúc Lộc Ân Mã Đồng thì lấy vợ giàu có. Thiết tưởng Thái Âm cần sáng sủa nghĩa là rơi vào trường hợp Thái Âm tại Thân, Dậu, Tuất, Tị. Có nhiều sự khác biệt về câu phú này và cho rằng Thái Âm gặp Đức, Ân Quang, Mã, Đồng (QXT) hoặc Quang Ân Mã hoặc Mã, Đức (Thiên Đức) Ân nhưng Mã gặp các sao Thiên Đức hoặc Tứ Đức là điều không thể xảy ra
Vợ giàu của cải vô ngần, Thái Âm phùng Khúc Lộc Ân Mã Đồng (Thiên Đồng) 
Vợ giầu của cải muôn vàn,

Thái Âm ngộ Đức, Ân Quang, Mã, Đồng
Vợ giàu có của vô ngần,
Thái Dương ngộ đắc Quang Ân Mã đồng 
Thái Âm, Thiên Mã, Đức, (Thiên Đức) Ân,
Cửa nhà hào phu của nhân vợ giầu (nhờ vợ mà giàu có) 

Cung hạn
Thiên Mã nhập hạn ca
Thiên Mã lâm hạn tối vi lương
Tử, Phủ, Lộc Tồn ngộ phi thường
Quan hạn (phí) phùng chi, ưng hiển đạt
Sĩ nhân ngộ thử, phó khoa trường
Thiên Mã thủ hạn bất đắc trú,
Hựu phạ Kiếp Không lai tương ngộ,


Cánh kiêm Thái Tuế tọa cung trung (thêm Thái Tuế nhập hạn)
Hạn đáo lỳ nhân (kỳ nhân) tầm tử lộ (chết đường) 
Hạn có Thiên Mã gặp Hình Hỏa thì họa rất nguy hiểm, Thái Vân Trình ghi rằng Mã gặp Hình:
Hình họa kỵ phần Thiên Mã 
Hình Hỏa kị phần Thiên Mã 


Hạn gặp Khốc Hư Tang Mã thì hung, hại người, tốn của, lo lắng buồn phiền
Khốc Hư Tang Mã chẳng lành, hại người hại của dễ sinh lo lường (8)
Hạn gặp Tang Môn Mã Kình Dương tại Hợi thì đề phòng súc vật bị dịch chết:
Tang Môn Mã Nhận (Kình Dương) Hợi cung, Hạn phùng năm ấy bò trâu chẳng lành 
Hạn gặp Khoa, Quyền, Lộc Mã thì như rồng gặp mây, may mắn về tiền tài công danh:
Khoa, Quyền, Lộc Mã vận này, mừng rằng số ấy đến ngày hiển vinh 
Hạn Khôi Việt, Khoa Quyền Lộc Mã,
Áng công danh đã thỏa nguyện xưa (công danh thành đạt toại nguyện) 
Hạn gặp Thiên Mã gặp Không thì nhiều lo âu, gặp Tả Hữu thì nhiều công việc
Lo âu ấy Mã Không quản vận,


Nhiều việc thì Tả Hữu lưu niên 
Hạn có Hỏa Linh gặp Mã thì đề phòng hỏa hoạn, cháy nhà
Hỏa Linh ngộ Mã oan gia, đề phòng hỏa hoạn mới là khỏi tai 

Hỏa ngộ Mã phải oan gia, Lánh nợ lửa cháy mới hòa khỏi tai

 

Luận thêm về Thiên Mã theo kinh nghiệm của phái Thiên Lương:
Có thể người học Tử vi tìm rất nhiều mà không đạt. Đó là trường hợp mà chúng tôi gặp phải. Có những lá số mà Mệnh rất tầm thường, ấy thế mà đương số lại thành đạt lớn, không biết vì đâu, trong khi điểm mọi cách khá về Mệnh, Thân mà không thấy sao Thiên Mã có tại Mạng, phải chăng vì thế mà đương số được tốt? Nhưng lấy gì chứng thực? Có hai lá số tương trợ nhau, cùng có Thiên Mã nhưng lại chỉ có 1 đương số thành đạt.

Một là số khác có Thiên Mã tại mệnh, ở Hợi: thế là Mã cùng đường, theo tất cả các sách cổ. Thế nhưng đương số này cũng thành đạt nữa. Cho nên tất phải có một cái gì đặc biệt về sao Thiên Mã, một sao rất quan trọng trong việc giải đoán Mệnh Thân, nhưng những nguyên tắc chưa được nêu ra đầy đủ.

Chúng tôi xin trình bầy sau đây kinh nghiệm của cụ Thiên lương về sao Thiên Mã tại Mệnh, Thân. Kinh nghiệm này, chúng tôi đã kiểm chứng trong một số lá số có trong tay, thấy rằng đúng.

Cách an sao Thiên Mã

Chúng ta an sao Thiên Mã theo hàng chi của tuổi
Tuổi Dần Ngọ Tuất, Thiên Mã tại Thân
Tuổi Tị, Dậu, Sửu, Thiên Mã tại Hợi
Tuổi Thân Tý Thìn, Thiên Mã tại Dần
Tuổi Hợi, Mão, Mùi, Thiên Mã tại Tỵ

Nhưng vậy tùy từng bộ ba tam hợp tuổi mà an Thiên Mã. Để cho dễ nhớ, chúng ta có từng bộ ba tam hợp tuổi, mỗi bộ ba có một Chi đứng đầu, thì Thiên Mã ở cung đối diện của Chi ấy. Thí dụ: các tuổi Dần Ngọ Tuất (có Dần đứng đầu), vậy Thiên Mã ở cung đối diện với Dần, tức là cung Thân.

Những cách thông thường về Thiên Mã

Các sách cổ giải đoán về Mã thường ghi những điểm như sau:
1-Mã thuộc Hỏa, vạy là Mã tốt ở Tị, Dần và hãm ở Hợi (Thủy) Mã mà ở Hợi là hỏng, là Mã cùng đồ (ngựa hết đường chạy, ngựa ở biển thì liệt bại).

Gặp Mã ở Hợi thì thất bại. Như thế chẳng lẽ cứ 3 tuổi Tị, Dậu, Sửu là đương nhiên mất sao Thiên Mã và chịu họa hại vì 3 tuổi này. Mã đóng tại Hợi. Không lẽ giản dị như vậy?
2-Mã tại Mệnh, ứng vào sự mau lẹ hay di chuyển, hay thay đổi.
Mã còn ứng vào công danh, tài lộc và phúc thọ. Thông minh và làm nên cũng là nhờ Thiên mã.
3-Tại Dần Thân, đồng cung với Tử Phủ, là Phù du Mã (ngựa vua chúa): tài giỏi, uy quyền, giầu sang, phúc thọ.
4-Thêm Nhật, Nguyệt sáng sủa là Thư hùng mã: tài ba, giầu sang, vinh hiển.
5- Gặp Lộc tồn đồng cung: công danh tốt, tài lộc tốt
6-Gặp Lộc tồn xung chiếu (Lộc Mã giao trì): công danh và tài lộc tốt đẹp.
7-Mã đồng cung Hỏa, hay Linh (chiến mã): Công danh tốt đẹp về binh nghiệp.
8-Mã khốc khách hội họp (ngựa có nhạc hay, có người cưỡi giỏi) người có tài năng, có công danh về binh nghiệp.
9-Mã Hình đồng cung: gặp tai họa
10- Mã Đà đồng cung: chiết túc mã, ngựa què. Công danh gãy đổ (kinh nghiệm của cụ Ba La: người tuổi Âm, Kình ở trước lộc tồn, Đà ở sau Lộc tồn, nhưng theo chiều nghịch).
11- Mã Tuyệt đồng cung là cùng đồ Mã. Mã tại Hợi cũng là cùng đồ Mã: hỏng, suy bại, gặp tai họa.

Đi tìm ảnh hưởng của Mã

Cũng như đối với mọi sao quan trọng, cụ Thiên lương đã luận về Thiên Mã bằng cách lấy hành của cung Mệnh, hành của sao Thiên Mã và hành Mệnh của đương số mà so sánh với nhau rồi quyết định sự hay dở. Đó là giai đoạn đầu để tìm kinh nghiệm. Giải đoạn sau là kiểm chứng, áp dụng các kết quả của những suy luận vào những lá số có Thiên mã tại Mệnh, Thân để tìm xem có đúng không.

Nhưng trước hết, xin ghi rằng Thiên Mã đây là tại Mệnh và Thân. Thiên mã ở Quan lộc hay Tài bạch cũng có ảnh hưởng vào mệnh (vì hai cung này chiếu mệnh), nhưng ảnh hưởng kém hơn Thiên Mã tại Mệnh. Nếu Thiên Mã ở cung Thiên Di, thì lại không kể vào mệnh là vì Mã tại Thiên Di là xung chiếu chứ không phải hợp chiếu.

Thiên Mã tại cung Dần

Thiên Mã hỏa, ở cung Dần Mộc là được Mộc sinh Hỏa, Thiên Mã mạnh và tốt. Nhưng cái mạnh và tốt này không phải cho bất cứ mạng nào.

Như người mạng Kim, thì càng bị Hỏa khắc, không lợi. Người mạng Thủy cũng không được lợi lộc gì, vì cái Thủy đó không thắng nổi cái Hỏa đương vượng của Mã. Mã hỏa ở đây có thể lợi cho người mạng Hỏa và càng hợp với người mạng Mộc. Người ta thường cho rằng mạng Mộc mà gặp Hỏa, thì bị hỏa đốt cháy, nhưng mạng là Mộc, cung Mạng lại ở Dần tức là tại Mộc thì không e ngại gì, tài năng nhờ chỗ Mã được nuôi dưỡng (do Mộc) mà càng vượng lên.

Vậy Mã tại Dần:

-Rất tốt cho người mạng Mộc
-Lợi cho người mạng Hỏa
-Không lợi gì cho người mạng Kim, Thổ và Thủy.

Thiên Mã tại cung Tỵ

Thiên Mã đứng đây cũng tốt vì là Hỏa ở cung Hỏa. Mã ở đây là con ngựa chiến. Mã là Hỏa, cung là Hỏa, thì người Mộc gặp Mã và cung Mạng tại đây, tuyệt nhiên là không tốt (hai cái Hỏa đốt cháy thân xác). Người mạng Kim, không được tốt, vì hai cái hỏa đều khắc Kim. Người mạng Thủy, cũng không được hưởng gì, vì Thủy yếu, không thể ngự được cái Hỏa của Mã (nếu kể như trường hợp Mã gây họa hại), còn bình thường, Mã không gây họa hại vì người Thủy cũng không được hưởng.
Chỉ có người Hỏa được hưởng cái tốt của Mã tại Tị.

Thiên Mã tại cung Thân

Thiên Mã là Hỏa, ở tại cung Thân là Kim, ấy là Thiên Mã đã kém. Thiên Mã không bị khắc là Thiên Mã mạnh, và tốt nhưng Thiên Mã lại khắc Kim.

Nếu là người mạng Mộc, thì mạng này vừa bị Hỏa đốt, vừa bị cung khắc, không được lợi lạc gì. Người mạng Thủy đỡ được chút đỉnh, nhờ cung Kim sinh Thủy, và cái mạng Thủy của mình còn khá mạnh để chế ngự lại Mã. Người mạng Kim là ăn nhất về con Mã tại cung Kim, nhưng vì Mã Hỏa khắc Kim mạng, cho nên mình tuy được hưởng Mã mà có tài năng, nghị lực, nhưng mình lại bị khắc, thì sức khỏe của mình cũng phải bị hao tổn.


Vậy Mã tại Thân:
-Tốt cho người Kim

-Khá cho người Thủy
-Không lợi gì cho người Mộc và Hỏa

Thiên Mã tại cung Hợi

Thiên Mã là Hỏa, ở cung Hợi Thủy, thì Hỏa phải bế khắc (ấy là Mã cùng đồ, Mã đến biển là hết đường chạy).

Người Hỏa mà gặp Mã ở cung hợi thì chẳng được lợi lạc chi. Người Kim gặp Mã ở cung Hợi cũng vậy, có khi còn mệt hơn, là vì mạng mình bị sinh xuất, còn bị hỏa của Mã khắc. Nhưng người Thủy lại khác: xét ra người Thủy lại có mạng ở Thủy, thì cái Thủy này rất mạnh, có thể chế ngự được những cái họa hại của Mã mà thắng được Mã, tức là có tài ba để thắng. Người Mộc nhờ có cung Thủy sinh Mộc, mà được lợi phần nào.
Vậy Mã tại Hợi:
-Tốt cho người Thủy
-Khá cho người Mộc
-Không lợi gì cho người Hỏa và Kim

Còn người mạng Thổ
Vậy tóm lại, Mã ở cung có hành nào, thì người nào mạng có hành đó là được hưởng.
Mã tại cung Mộc (Dần) người mạng Mộc hưởng
Mã tại cung Hỏa (Tị) người mạng Hỏa hưởng
Mã tại cung Kim (thân) người mạng Kim hưởng
Mã tại cung Thủy (Hợi) người mạng Thủy hưởng
Thế còn người mạng Thổ? Xin thưa rằng người mạng Thổ cũng hưởng được Thiên Mã ở cung Thủy (tại Hợi)

Một thí dụ
Lá số Khổng Minh, Mã ở Hợi Thủy (cung Quan). Khổng Minh mạng Mộc, cho nên không được hưởng trọn con Mã này. Nhưng Thủy dưỡng cho Mộc, nên Khổng Minh cũng chỉ được hưởng Mã một phần.

Mã ngộ Triệt và Mã ngộ Tuần
Mã gặp Triệt trấn ngay cung thì hỏng cả

Mã ngộ Tuần còn đỡ hơn.
Sau đây là kinh nghiệm đặc biệt về Mã ngộ Tuần. Sao Tuần ở những vị trí Tí Sửu Dần Mão, Thìn Tị, Ngọ Mùi, Thân Dậu, Tuất Hợi, và có thể được coi là sao đánh dấu một giai đoạn để chuyển sang giai đoạn khác.

Do đấy, nếu sao Thiên mã ngộ Tuần, chúng ta đoán thêm như sau:

1-Thiên Mã tại Hợi (Thủy) gặp Tuần ngay tại đó người mạng Mộc cũng được hưởng (thông mình, lanh lợi, học hành, công danh, tài lộc) nhưng hưởng chậm, phải gặp nhiều khó khăn lúc đầu và phải có tranh đấu cố gắng nhiều.
2-Thiên Mã tại Dần (Mộc) gặp Tuần tại đó: người mạng Hỏa cũng được hưởng nhưng chậm và có những khó khăn lúc đầu, phải cố gắng nhiều mới đạt được.
3-Thiên Mã tại Tị (Hỏa) gặp Tuần tại đó: người mạng Kim cũng được hưởng, nhưng chậm, gặp khó lúc đầu và phải cố gắng nhiều mới đạt được
4-Thiên Mã tại Thân (Kim) gặp Tuần tại đó: Người mạng Thủy và Thổ cũng được hưởng, nhưng chậm gặp khó lúc đầu và phải cố gắng nhiều mới đạt được.
Thí dụ tuổi Kỷ tị, mạng Mộc, Thiên Mã tị Hợi, gặp Tuần tại Tuất Hợi, cung Mạng cũng tại Hợi: người này cũng được hưởng Thiên Mã, nhưng hưởng chậm, lúc đầu gặp khó, phải cố gắng nhiều sau mới thành đạt.

Theo Tử vi

Share this: