Trên đường tìm Mệnh Vô Chính Diệu

Chúng tôi có nhiều lá số Mệnh Vô Chính Diệu trong tay, chúng tôi cũng được nhiều vị thân hữu cho xem những lá số Mệnh Vô chính Diệu, và, xin thú thật càng xem càng như lạc vào rừng.

 

Có những vị Mệnh Vô Chính Diệu mà thật khá, có những vị Mệnh Vô Chính Diệu nhưng thật kém. Nhưng cứ theo các sách thì Mệnh Vô Chính Diệu, cần đắc Tam Không mới “phú quý khả kỳ” – Nhưng theo các lá số, có vị mệnh Vô Chính Diệu không đắc Không nào, mà được rất khá, lại có vị đắc Tam Không, nhưng lại bị dở.

Xem ra thì sách nói qúa thiếu xót, cho nên khó mà đúng được. Theo các sách thì Mệnh Vô Chính Diệu, cần có TUẦN, TRIỆT án ngữ và cần thêm THIÊN KHÔNG, ĐỊA KHÔNG hoặc không có những “Không” đó , cũng phải có nhiều sao tốt hội họp mới được, nghĩa là mới khá và mới sống lâu. Những cách đại cương đó, áp dụng vào các lá số, khi đúng, khi sai. Tất nhiên, cách Mệnh Vô Chính Diệu, không phải chỉ đơn thuần được giải đoán như thế, là vì theo thiển nghĩ của chúng tôi, ngoài sự kiện Mệnh không có chính diệu, ngoài các sao Không, còn có các chính tinh chiếu, các hung tinh, các trung tinh tốt khác, còn sự kiện hành của Mệnh .v.v…. tất cả những sự kiện đó còn ràng buộc với nhau để tạo nên sự tốt xấu.

Trong mục tiêu đi tìm ý nghĩa của Mệnh Vô Chính Diệu, chúng tôi đã cần đến nhiều vị. Có vị lão thành bảo rằng Tam Không phải là Tuần Không, Triệt Không và Địa Không. Sở dĩ phải kể cả Triệt là vì danh xưng của sao đó là Triệt lộ Không vong. Có vị lại cho rằng Tam Không phải là Tuần Không, Địa Không và Thiên Không, còn Triệt là Triệt lộ chứ không phải là Triệt Không, vả lại danh xưng Thiên Không đã sẵn đó để được kể là một Không. Có những lần, chúng tôi có ghi về kinh nghiệm của cụ Ba La, nói rằng Mệnh Vô Chính Diệu mà có TUẦN, TRIỆT đóng ở đó, thì dù có gặp các sao tốt như Lộc Tồn, Tam Hóa, Tả Hữu vẫn phải kể là bị giảm đi, bởi vì TUẦN & TRIỆT làm giảm những cái xấu, nhưng cũng chiết giảm những cái tốt. Cho nên Mệnh Vô Chính Diệu mà được những sao tốt thì phí đi chứ không hay.

1- Mệnh vô chính diệu có Âm-Dương tịnh minh chiếu – Lá số Khổng Minh

Tức là Mệnh không có chính tinh thì phải được Thái Dương, Thái Âm cùng sáng sủa chiếu đến. Mệnh tuy vô chính diệu mà không cần có Không nào được Nhật Nguyệt chiếu là đắc cách.

Lá số Khổng Minh không có “Không” nào tại Mệnh, có Tuần và Địa Không xung chiếu, hợp chiếu có Thái Dương ở Mão, Thái Âm ở Hợi. Nhờ hai ngôi Nhật Nguyệt đó mà Khổng Minh cực kỳ thông minh tài giỏi, và cũng có công danh lớn (còn những sự kiện khác, hạn hành xấu, tốt, thọ hay yểu …. Là do những yếu tố khác).

Còn đây là một lá số khác cũng được cách tương tự, có Nhật Nguyệt tịnh minh chiếu vào cung Mệnh. Đương số là một sinh viên du học có nhiều triển vọng. Có Tuần tại Mệnh giảm bớt cách tốt, nhưng được thế cũng đủ đẹp, đâu phải đạt tới như mạng số của Khổng Minh.

– Ngoại trừ một vài trường hợp cá biệt có thêm các cách quý khác thì hay vô cùng.
Như lá số Đức Trần Hưng Đạo, tuổi Mậu Tý sinh ngày 30 tháng 12 giờ Ngọ.

Mạng Hỏa, Vô chính diệu, có Tuần, được Nhật Nguyệt tịnh minh chiếu nên thông minh, danh vị xứng đáng, Hồng Việt, Tả Hữu Khoa Quyền (văn võ song toàn, đức độ, chính minh quân tử (Song Long, Quan Phúc chiếu mệnh) không có hung tinh ở cung Mạng, chỉ nhờ Nhật Nguyệt chiếu. Tuần thu hút Nhật Nguyệt tịnh minh, lại thêm nhiều trung tinh tốt.

* Vài điều ghi chú thêm :

Tuy rằng gặp trường hợp Mệnh Vô Chính Diệu thì phải xét theo các trường hợp trên mà đoán, nhưng vẫn KHÔNG ĐƯỢC QUÊN : vòng Thái Tuế, vòng Lộc Tồn, vòng Tràng Sinh. Phải nắm vững vòng Thái Tuế mà suy đi, tức là đoán theo vị trí Mệnh tính theo vòng Thái Tuế (Kinh nghiệm về vòng Thái Tuế – Tử Vi Nghiệm Lý Tập 1 của cụ Thiên Lương).

2.Lá số Lê Thái Tổ

Đây là 1 cái mệnh đặc biệt, tuy vô chính diệu nhưng qủa là đắc chính diệu. Kim mệnh âm nam đắc Bạch Hổ Dậu cung cùng Phi Liêm, Phượng Các, Giải Thần đủ tư cách một nhà đại ái quốc, đại anh hùng cứu quốc, cắn răng chiến đấu, hăm hở dũng mãnh vô cùng.

Đối cung Cự Cơ, Lộc Tồn, Hóa-Lộc là cả một cái thế cai trị độc đóan thực dân bóc lột vững như thành đồng vách sắt. Nhưng nhìn vào cái thế cờ, Thái tổ tuy là yếu, vẫn ở cái thế lợi là Kim khắc Mộc với bộ Tứ hóa, mỗi vị trí đều có cái đắc dụng riêng như Khoa ở Ách (Tử tướng ngộ hình đắc Khoa khả giải), Kỵ ở quan ( Nhật Nguyệt đắc địa, Thanh Long, đắc địa Hóa Kỵ).

Trong 10 năm tranh đấu, tám năm ở cung Ngọ bị khắc nhập cả thời gian lẫn không gian rất nên nguy khốn vô cùng. May là người vô chính diệu gặp hạn Sát Phá Tham đắc địa nhưng đều bị kiềm chế hết thảy (Thất Sát ngộ Triệt, Phá Quân ngộ Tuần, Tham Lang ngộ Thiên Không) nên cứ cù cưa và phải chịu đựng sự gian lao, chờ cơ hội thuận lợi.

Phải chờ qua Đại vận ở Tỵ cung và cũng phải đến 2 năm sau mới thành công và ở ngôi được 6 năm đến năm 49 tuổi là băng hà.

Tam Hóa liên châu ở Thìn phài công nhận là quý, là tấm bào quốc huân chương cho người được cái hãnh diện mang nó đang đứng ở chỗ thanh thiên bạch nhật, ở Ách cùng với Khoa giáp Quyền Lộc đã cứu Vương bao nhiêu lần, nhất là trận bị bao vây ở Chí Linh tháng tư năm Mậu Tuất hết lối thoát, nhờ có ông Lê Lai đổi áo Vương mới trốn được.

Thiên Đồng là phúc tinh đóng ở Phúc đức là đúng cách, nhưng tại sao lại bị Tuần làm giảm cả bộ Tướng Ấn. Nó là một uẩn khúc của Thái Tổ nhà Lê sau 10 năm chinh chiến, không muốn kéo dài cuộc can-qua, sai sứ sang Tàu cầu phong, nhưng vua nhà Minh không chịu, cứ bắt phải để con cháu nhà Trần làm vua nuớc nam mới được. Năm lần bảy lược sự quy lụy đó đủ giáng cho thấy là Thiên Đồng, Tướng ấn bị Tuần là thứ cách.

Có phải là cái nghiệp của những nhà khai sáng cho mỗi triều đại, sau khi đã bình định xong đất nước cứ hay làm hại công thần, những người đã cùng mình vào sanh ra tử nằm gai đếm mật, để đưa mình lên 1 địa vị tôt đỉnh cao sang.

Vua Lê lợi cũng không thoát khỏi cái nghi ngờ qùang siên ấy, nên đã giết oan hại ông Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo chỉ vì sự gièm pha của phường mua rối. Có lẽ đó cũng là luật bù trừ của cán cân công lý thiêng liêng nên ngài phải chịu mất sớm một năm trước khi đến cõi thọ.

Share this: