(Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức)

Ngày 3 tháng 11 năm 1983, nguyên Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đã ban hành lệnh lấy tháng 11 hàng năm là thời gian để nhắc nhở dân chúng về bệnh tiểu đường cũng như khích lệ mọi nguời cố gắng loại bỏ căn bệnh hiểm nghèo này. Hiện nay, tại Mỹ có 16 triệu trường hợp tiểu đường trong đó trên 10 triệu được xác định đang mang bệnh, trên 5 triệu chưa biết là có bệnh hay không.
Trong khi đó thì LiênHiệpQuốc cũng dành ngày 14 tháng 11 mỗi năm để các quốc gia thành viên cùng nhau tìm cách ngăn chặn sự bành trướng của bệnh tiểu đường. Ðây là ngày sinh của khoa học gia Gia Nã Ðại Frederick Banting, nguời đã chứng minh rằng insulin do tụy tạng sản xuất, vào năm 1922. Năm nay, chủ đề của ngày tiểu đường thế giới là «Kiểm soát đường huyết tốt để sống vui sống khỏe». Trên thế giới hiện nay có trên 200 triệu người bị tiểu đường và bệnh là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ tư trong số những bệnh không truyền nhiễm.
Bệnh tiểu đường đang có chiều hướng gia tăng tại mọi quốc gia, vì dinh dưỡng được cải thiện, dân chúng ăn uống thoải mái hơn nhưng lại ít vận động cơ thể. Ngoài ra, còn rất nhiều người không hiểu rõ về bệnh cũng như các biến chứng do bệnh gây ra.
Vài hiểu biết căn bản về bệnh Tiểu Ðường


1- Thực phẩm căn bản của con người là carbohydrate, chất đạm và chất béo. Carbohydrate có hai thành phần chính : đường (sugars) như fructose, glucose, lactose và tinh bột (starches). Ðường lưu hành trong máu và là nguồn năng lượng quan trọng cho các tế bào. Glucose không phải là đường trắng tinh chế mà ta mua ở ngoài chợ.
2- Glucose được hormon insulin từ tụy tạng chuyển vào tế bào để tạo ra năng lượng cho các hoạt động của cơ thể.
3- Khi không được dùng, glucose sẽ bị loại đồng loạt ra khỏi cơ thể, trong nước tiểu. Thế là ta bị bệnh Tiểu Ðường
4- Tiểu Ðường hoặc ‘Ðái Tháo Ðường’ là bệnh mạn tính, không chữa dứt được.
5- Bệnh gây ra do cơ tụy tạng không sản xuất đủ insulin hoặc do cơ thể không sử dụng được insulin.


6- Insulin là hormon do tụy tạng sản xuất, có nhiệm vụ đưa đường glucose từ máu vào tế bào để chuyển ra năng lượng. Thiếu insulin, glucose sẽ lưu hành tràn ngập trong máu, đưa đến cao đường huyết. Glucose sẽ bị loại ra khỏi cơ thể qua nước tiểu. Tên ‘Tiểu Ðường’ hoặc ‘Ðái Tháo Ðường’ từ đó mà có.
Ðể thải glucose, thận cần động viên nhiều nước từ các tế bào và bệnh nhân đi tiểu nhiều. Cơ thể sẽ thiếu nước và bệnh nhân sẽ uống nhiều nước (một trong mấy dấu hiệu chính của bệnh).
Cơ thể lấy năng lượng từ chất béo trong người, bệnh nhân mất cân (dấu hiệu chính), nên ăn nhiều (dấu hiệu chính). Ăn nhiều mà nhiều người vẫn gầy.
7- Có hai loại Tiểu Ðường chính :
a- Loại I thường thấy ở trẻ em và lớp người dưới 30 tuổi, có tính cách thừa kế, đôi khi do môi trường (virus). Trong loại này, tụy tạng không sản xuất insulin và người bệnh cần được điều trị lâu dài bằng insulin.
b- Loại II thường thấy ở người trên 40 tuổi, người mập phì, trong gia đình có người bị tiểu đường. Bệnh nhân có một ít insulin nhưng cơ thể không dùng được. Ðiều trị bằng dinh dưỡng hợp lý, vận động cơ thể, thuốc viên hoặc insulin.
8- Ngoài ra, còn tiểu đường tạm thời khi có thai, tăng chức năng tuyến thượng thận, suy thận, cường tuyến giáp, viêm hoặc cắt bỏ tụy tang, căng thẳng tâm thần, tác dụng phụ của dược phẩm (corticosteroids, thuốc chống trầm cảm, thuốc lợi tiểu …)…
9- Dấu hiệu bệnh:
Với loại I, bệnh nhân không có insulin, nên dấu hiệu có thể xuất hiện ngay từ khi mới bị bệnh. Với loại II, bệnh nhân có một ít insulin, glucose được sử dụng một phần nào, nên nhiều khi dấu hiệu không rõ ràng. Bệnh được tình cờ tìm ra khi đi kiểm tra tại phòng mạch bác sĩ.
Dấu hiệu thường thấy : Tiểu tiện nhiều, uống nước nhiều, ăn nhiều để bù số năng lượng mất vì glucose tiểu ra ngoài…
10- Tiểu đường gây ra nhiều biến chứng trầm trọng như suy thận, cao huyết áp, bệnh tim, vữa xơ động mạch, khiếm thị vì thoái hóa võng mạc, mất cảm giác ngoại vi, rối loạn cương dương, nhiễm trùng bàn chân…
11- Tiểu đường có thể kiểm soát được bằng ăn uống hợp lý, giảm cân, vận động cơ thể, thuốc viên, thuốc chích insulin, hiểu biết căn bản về bệnh….
12- Bệnh nhân cần thử nghiệm đường huyết tại nhà thường xuyên và ghi kết quả, để theo dõi tình trạng bệnh và thay đổi liều lượng thuốc cũng như chế độ dinh dưỡng.
13- Các nhà chuyên y khoa học đề nghị là, mỗi 3 năm, mọi người nên thử nghiệm coi xem có bị bệnh tiểu đường hay không. Những ai có nhiều nguy cơ bị tiểu đường (tuổi ngoài 40, mập phì, có thân nhân bị tiểu đường…) nên thử nghiệm thường xuyên hơn.
Một số ngộ nhận với bệnh Tiểu Đường
Ở đời, sự việc nào cũng có một số điều ngộ nhận, ngay cả trong vấn đề bệnh tật. Nguyên do của ngộ nhận là không có hiểu biết hoặc tiếp nhận nguồn tin tức không được chính xác. Với bệnh Tiểu Ðường, nhiều người cũng có những hiểu nhầm cần được làm sáng tỏ. Như là :
1-Tiểu đường có thể lây lan – Tiểu đường là một bệnh về nội tiết, gây ra do tụy tạng không sản xuất được insulin hoặc insulin có ít và không có tác dụng. Vì vậy, bệnh không lây lan nhưng bệnh có thể thừa kế (inherit) nếu trong gia đình có người bị tiểu đường.
2-Như vậy thì khi bố mẹ bị tiểu đường là con cái cũng bị bệnh – Không hoàn toàn đúng hẳn. Khi trong gia đình có người bị tiểu đường, thì con  cháu có nhiều nguy cơ hơn để dễ dàng mắc bệnh chứ không phải đương nhiên bị bệnh. Ngoài ra, nếu con cháu áp dụng các phương thức phòng tránh bệnh như giảm cân khi mập phì, dinh dưỡng hợp lý, vận dộng cơ thể… thì rủi ro mắc bệnh giảm.
3-Tôi nghe nói có nhiều loại thuốc chữa dứt được bệnh tiểu đường – Cho tới nay chưa có phương thức nào chữa dứt được bệnh tiểu đường mà chỉ có thể kiểm soát mức độ đường huyết và tránh được các biến chứng của bệnh. Nhờ đó mà người bệnh có thể sống đời sống bình thường.
4-Ăn nhiều đường sẽ bị bệnh tiểu đường – Ðây là một ngộ nhận có từ thuở xa xưa : ăn nhiều đường, đái ra đường, kiến bu kín chung quanh bãi nước tiểu. Khi đó, người ta gọi tiểu đường là bệnh ‘nước tiểu mật ong’. Thực ra, tiêu thụ quá nhiều đường tinh chế không trực tiếp gây ra bệnh tiểu đường, nhưng có thể đưa tới mập phì, vì đường có nhiều calori mà không có chất dinh dưỡng. Căn cứ theo thống kê thì 80% người mập kiểu trái táo, với bụng bự, sẽ có nhiều nguy cơ bị bệnh tiểu đường loại II hơn là người cân nặng bình thường.
5-Vậy thì tôi không được ăn đường hay sao? – Bệnh nhân vẫn có thể ăn đường nhưng số lượng đường tiêu thụ phải bao gồm trong tổng số carbohydrate dùng trong ngày. Ngoài ra, bệnh nhân cũng nên dùng đường chung với các món ăn khác, nhất là với thực phẩm có chất xơ, để glucose vào máu từ từ, chứ không tăng vọt. Xin nói thêm là, đường cũng ‘cứu’ người bị tiểu đường. Ðó là khi đường huyết đột nhiên xuống quá thấp, đặc biệt là khi đang trị bệnh bằng thuốc viên hạ đường hoặc insulin. Ðể tránh ngất xỉu, chóng mặt…, bệnh nhân phải tức thì ăn một chút đường, như một cục kẹo, một ly nước trái cây để máu có đủ glucose.
6-Có người nói đường hóa học độc lắm, lại có người nói nấu chè với đường hóa học ăn rất ngon – Ngoại trừ đối với phụ nữ có thai, đường hóa học rất an toàn nếu dùng đúng số lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Với một số người, đường này có thể gây ra vài phản ứng nhẹ như chóng mặt, nhức đầu, tiêu chẩy, no hơi… Nếu dùng quá nhiều, đường lại cho vị đắng. Dùng đường này để nấu chè thì e rằng không tốt vì ta sẽ tiêu thụ quá nhiều hóa chất, tích tụ lại sẽ có hại, đồng thời giá cả cũng đắt hơn đường tinh chế.
7-Bị tiểu đường là tôi phải bớt ăn cơm, ăn bánh mì – Nói ‘bớt ăn’ cơm gạo thì cũng không đúng lắm, mà phải ăn cơm, bánh mì… cân bằng với các loại thực phẩm khác, theo tỷ lệ 50% carbohydrate, 30% chất béo và 20% chất đạm. Cơm, mì..là nguồn năng lượng quý báu cho cơ thể mà ta không được loại bỏ. Có người đề nghị chế độ ít carbohydrate, nhưng lại tăng chất đạm và chất béo. Theo chế độ này lâu ngày, bệnh nhân có nguy cơ bị bệnh tim, bệnh thận nhiều hơn. Vì thế, cân bằng các loại thực phẩm là điều cần làm.
Ăn gạo lức, còn cám thì đường glucose vào máu chậm hơn là khi ăn gạo trắng tinh, hết cám.
8-Tôi ăn rất nhiều trái cây vì nghe nói trái cây tốt cho người bị tiểu đường.
Trái cây là món ăn tốt cho mọi người, dù bị tiểu đường hay không. Trái cây không có cholesterol, có nhiều chất xơ và sau khi ăn, các loại đường trong trái cây chuyển vào máu từ từ nên không gây ra cao đường huyết đột ngột. Tuy nhiên, nếu tiêu thụ nhiều trái cây quá thì cũng là điều không nên vì ta sẽ bỏ qua các thực phẩm cần thiết khác. Ðồng thời, ăn nhiều trái cây cũng mang vào cơ thể nhiều chất ngọt, và đường huyết sẽ tăng.
9-Có người nói tôi tuyệt đối không được uống rượu, có đúng không? –
Nói là tuyệt đối không uống rượu thì cũng quá khắt khe với thứ nước ‘Tinh Thần’ này và cũng gây ‘buồn buồn’ cho người bệnh. Theo các nhà chuyên môn dinh dưỡng, người tiểu đường vẫn có thể thưởng thức một lượng rượu vừa phải (một lon la-de, một ly rượu vang..) trong bữa ăn. Nhưng nên nhớ rằng rượu cũng có một ít carbohydrate, cho nên nếu uống rượu thả cửa thì đường huyết sẽ lên cao.
Hơn nữa, khi đang chữa bệnh bằng insulin mà uống nhiều rượu vào lúc đói bụng thì đường huyết sẽ xuống quá thấp, vì rượu làm giảm khả năng cơ thể lấy glucose từ kho dự trữ.
10- Tôi chỉ hơi bị tiểu đường từ nhiều năm nay – Thực ra, không có chuyện ‘hơi bị tiểu đường’ mà chỉ có bệnh tiểu đường hoặc không có. Bị tiểu đường khi đường huyết thử hai lần khi đói cao hơn 126mg/dl hoặc cao hơn 200mg/dl thử hai lần bất cứ lúc nào trong ngày.
Ðề nghị quý vị «hơi bị» tiểu đường đi bác sĩ để được xét nghiệm, xác định cho rõ ràng, kẻo rồi quá trễ…
11-Tôi uống thuốc hạ đường huyết đều đặn là đủ, đâu có cần giữ gìn ăn uống.
Thuốc chỉ là một thành phần trong việc điều trị bệnh tiểu đường. Các thành phần khác như ăn uống cân bằng, hợp lý, có nếp sống lành mạnh, thường xuyên vận động cơ thể… cũng rất quan trọng để giúp thuốc tác dụng hữu hiệu hơn.
12-Bệnh nhân tiểu đường phải ăn theo một chế độ riêng biệt
Các nhà dinh dưỡng đều đồng ý rằng, bệnh nhân tiểu đường có thể dùng cùng các loại thực phẩm như mọi người nhưng với số lượng vừa phải, thích hợp với mức độ đường huyết và liều lượng các thuốc hạ đường huyết đang dùng. Và họ cũng không cần tốn tiền mua những sản phẩm được gọi là « dành riêng cho bệnh tiểu đường ».
13-Trẻ em bị tiểu đường, lớn lên sẽ hết -Trẻ em bị bệnh tiểu đường thường là do tụy tạng không sản xuất được insulin và được xếp vào loại I, phụ thuộc vào insulin.
Trong trường hợp này, các tế bào tụy tạng sản xuất insulin bị hủy hoại, không tái tạo được, cho nên các em tiếp tục mang bệnh và cần insulin cho tới tuổi trưởng thành. Hy vọng một ngày gần đây, khoa học có thể ghép tế bào tụy tạng để cơ quan này tự sản xuất insulin.
14- Trẻ em không mắc bệnh tiểu đường loại II – Trước đây thì nhận xét này có lẽ đúng chứ bây giờ không đúng nữa. Trong những năm gần đây, số trẻ em mắc tiểu đường loại II ngày một gia tăng vì các em ăn uống hơi buông thả, lại ít vận động cơ thể nên các em bị bệnh mập phì nhiều hơn. Và mập phì là một trong mấy rủi ro đưa tới tiểu đường loại II.
15-Phụ nữ bị bệnh tiểu đường, không thể có thai được – Cách đây vài thập niên, nhận xét này có thể là đúng vì phương thức trị liệu bệnh tiểu đường còn kém công hiệu và sự hiểu biết về bệnh còn ít ỏi. Bây giờ nhờ có nhiều tiến bộ trong việc điều trị, chăm sóc, phụ nữ bị tiểu đường vẫn có thể có thai, vẫn sanh con mạnh khỏe. Tuy nhiên, họ cần lưu ý nhiều hơn trong việc kiểm soát đường huyết và tránh ăn uống buông thả, tùy theo ý thích.
16-Bệnh nhân tiểu đường dễ đau ốm, cảm cúm –
Mang bệnh tiểu đường thì người đó cũng có thể gặp các rủi ro như người không bệnh.
Cho nên nếu không cẩn thận, giữ gìn sức khỏe thì cũng dễ dàng mắc bệnh như ai.
Còn như nếu muốn phòng tránh bệnh, như bệnh cúm, thì phải chích ngừa hoặc đừng hít phải virus cúm. Hơn nữa, nếu chẳng may bị cúm thì đường huyết sẽ lên cao ngay.
17-Có người nói rằng mắc bệnh tiểu đường sẽ không được lái xe hơi
Nếu đường huyết được kiểm soát thì bệnh nhân tiểu đường lái xe cũng an toàn như mọi người. Có nhiều dư luận muốn giới hạn bệnh nhân chữa bằng insulin không được lái xe, vì e ngại đường huyết xuống quá thấp, bệnh nhân có thể gây tai nạn vì chóng mặt, mất định hướng
18-Các căng thẳng của đời sống không có ảnh hưởng gì tới bệnh tiểu đường
Có ảnh hưởng chứ, vì khoa học đã chứng minh rằng những hoàn cảnh khó khăn, những cơn khủng hoảng tinh thần đều làm đường huyết lên cao.
19-Bệnh nhân tiểu đường có thể ăn thả cửa các món ăn ‘không có đường’ sugar-free
Sugar-free không có nghĩa là không có calori. Nếu ăn thả cửa các món ăn này thì sẽ dễ dàng bị mập phì, và nguy cơ mắc bệnh tiểu đường lên cao. Cho nên, bệnh nhân cần lưu ý tới số lượng calori trong thực phẩm để tránh mập và giữ mức đường huyết bình thường.
20-Một số người khỏe mạnh bình thường mặc dù đường huyết cao, vậy thì họ đâu có phải bị bệnh tiểu đường. – Một vài rối loạn cơ thể như căng thẳng tinh thần, bệnh nhiễm hoặc một vài loại dược phẩm có thể làm đường huyết tạm thời lên cao ở một số người không bị tiểu đường. Nhưng cao đường huyết không phải là chuyện bình thường, cần phải được bác sĩ thử nghiệm kỹ càng hơn.
21-Bị tiểu đường lâu năm là biết rõ khi nào đường huyết tăng, cần gì phải thử máu cho mất công – Ðồng ý là khi đường lên cao, triệu chứng như khát nước, tiểu nhiều sẽ xuất hiện và ta biết ngay. Nhưng, muốn biết glucose cao thấp bao nhiêu để có thể gia giảm thuốc thì chỉ có thử máu mới biết. Hơn nữa, đôi khi các dấu hiệu chỉ xuất hiện khi đường huyết rất cao, và như vậy thì biến chứng của bệnh đã quá trầm trọng rồi.
Cho nên, cần tự thử đường huyết nhiều lần trong ngày. Ðo đường trong nước tiểu không chính xác lắm vì đôi khi thận chỉ thải glucose khi đường huyết cao hơn 180mg/dl.
22-Khi phải tăng liều lượng insulin thì chắc là bệnh trở nên trầm trọng lắm
Khác với nhiều dược phẩm, insulin không có một liều lượng nhất định cho mọi người bệnh. Insulin cần được gia giảm thường xuyên tùy theo kết quả thử đường huyết. Ðường huyết thay đổi tùy theo chế độ ăn uống, vận động cơ thể, thời gian trong ngày.
Người bệnh đều được hướng dẫn cách tự thử đường huyết và thay đổi số lượng insulin cho thích hợp. Ngoài ra, để tránh đường huyết xuống thấp, insulin được bắt đầu với liều lượng nhỏ, rồi tăng dần tùy theo kết quả thử glucose trong máu.
Kết luận
Tiểu đường là bệnh nghiêm trọng, thường thấy, điều trị tốn kém nhưng có thể kiểm soát được Ðó là ăn uống hợp lý, hoạt động cơ thể, giảm cân nếu quá cao, dùng thuốc theo chỉ dẫn, thử đường huyết tại gia… Ngoài ra, cũng nên tìm hiểu cặn kẽ về bệnh, phân biệt sự thật với huyền thoại, ngộ nhận… để an tâm trị bệnh, tận hưởng niềm vui cuộc đời…

Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức
 

======

Xem thêm:

Bệnh tiểu đường

(Bác sĩ Phạm Văn Ngà)

LTS: Bác sĩ Phạm Văn Ngà Chuyên khoa bệnh Nội Thuơng. Bác sĩ Ngà tốt nghiệp Y khoa tại đại học Y Khoa Sàigòn, VN; tốt nghiệp Chuyên khoa bệnh Nội Thương tại New York. Bác sĩ Ngà hiện đang hành nghề tư tại San Jose, California.

Ðại cương:
Bệnh tiểu đường là một loại bệnh nội tiết thông thường nhất của mọi lứa tuổi, nhất là những người có tuổi. Ðã có rất nhiều tài liệu, kể cả bằng Việt Ngữ, nói về đề tài này, nhưng vì sự phổ biến và tầm quan trọng của bệnh, thiết tưởng có nói thêm về đề tài bệnh Tiểu Ðường cũng không phải là không có ích lợi. Trong phạm vi bài này, chúng tôi xin nói nhiều hơn về những vấn đề thực tế mà người bệnh cần hiểu và làm để cùng với bác sĩ chữa bệnh cho mình có hiệu quả hơn.

Thế nào là bệnh tiểu đường?

Ðây là một tình trạng đường gia tăng trong máu do cơ thể không sử dụng đường được. Chúng ta phải hiểu “đường” là glucose, một trong 3 thành phần hữu cơ của cơ thể, hai chất kia là chất đạm (protein) và mỡ (lipid). Ðối với dân Mỹ da trắng, bệnh tiểu đường chiếm độ 5% dân số, vào khoảng 16 triệu người mắc bệnh, gồm 8 triệu đàn ông và 7 triệu đàn bà, và độ 100.000 thanh thiếu niên dưới 20 tuổi so với độ 3,5% dân Châu Á bị bệnh này.

Mỗi năm độ 650.000 trường hợp mới chẩn đoán và hơn 170.000 người chết vì bệnh tiểu đường, phần lớn do biến chứng. Người Việt chúng ta có cảm tưởng là khi di cư qua Mỹ, số người Việt mắc bệnh gia tăng nhiều, điều này không chắc đã đúng, có thể ở Mỹ, nhiều người được khám phá mắc bệnh tiểu đường do kết quả khám bệnh định kỳ đã tìm ra những trường hợp khi chưa có triệu chứng hay biến chứng lộ ra ngoài, còn ở Việt Nam, phần lớn bệnh tiểu đường được chẩn đoán sau khi đã có biến chứng như nhiễm trùng lâu lành, đau thận, tê chân tay v.v…

Tại sao có bệnh tiểu đường?

Bệnh này liên quan đến chất Insulin trong cơ thể. Ðây là một kích thích tố được phân tiết ra từ tụy tạng (pancreas) hay còn được gọi là lá mía (có người gọi lầm là lá lách (spleen) là một cơ quan của hệ bạch huyết). Tụy tạng là một cơ quan nằm sâu trong bụng, sau dạ dày và vắt ngang xương sống lưng. Tuỵ tạng vừa là tuyến ngoại tiết tiết ra điều tố vào ruột non để tiêu hoá chất mỡ, vừa là tuyến nội tiết tiết ra Insulin vào máu. Chất Insulin có nhiệm vụ chính trong sự vận chuyển đường vào trong tế bào nhưng không có vai trò gì trong sự biến dưỡng của đường để tạo năng lượng. Vì lý do nào đó, Insulin không được sản xuất hoặc sản xuất không đủ, hoặc dù có được sản xuất ra Insulin bị cơ thể đề kháng không dùng được, chất đường sẽ không vào tế bào được và ứ đọng trong máu và thoát ra nước tiểu để sinh bệnh tiểu đường. Tuy nhiên chỉ khi nào đường huyết cao trên 180mg/dl thì đường mới xuất hiện ở nước tiểu, cho nên nhiều khi có bệnh tiểu đường mà vẫn không có đường trong nước tiểu là thế.

 

Có mấy loại bệnh tiểu đường?

Một cách tổng quát, bệnh tiểu đường được chia làm hai loại chính: bệnh tiểu đường loại 1, do Insulin không được sản xuất ra, và bệnh tiểu đường loại 2, do Insulin sản xuất thiếu hay cơ thể đề kháng với Insulin. Loại 1 hay xảy ra ở tuổi trẻ hơn, có thể bắt đầu từ năm mười tuổi trở lên, chiếm khoảng 10% mỗâi trường hợp, loại 2 thường xảy ra ở tuổi lớn hơn thường trên 50 tuổi, chiếm khoảng gần 90% mọi trường hợp. Về mặt di truyền, bệnh tiểu đường có thể di truyền trong gia đình, nhưng cách di truyền thế nào chưa được xác định. Phần lớn bệnh tiểu đường di truyền thuộc loại 2.

Làm thế nào để chẩn đoán bệnh tiểu đường?

Sự chẩn đoán bệnh tiểu đường dựa vào triệu chứng và thử máu và thử nước tiểu. Thường thường bệnh tiểu đường không có triệu chứng trong khoảng thời gian rất lâu. Trong một ít trường hợp điển hình, người bệnh có thể hay khát nước, uống nước nhiều, đi tiểu nhiều và ăn nhiều mà vẫn ốm đi. Những triệu chứng này thực sự không phải là triệu chứng riêng cho bệnh tiểu đường. Một số trường hợp khác thì bệnh nhân hay bị mệt mỏi, suy yếu và sụt cân, mắt mờ, tê tay chân, hoặc da khô và ngứa ngáy. Phần lớn bệnh được khám phá là do thử máu định kỳ hàng năm thấy mức đường cao. Bình thường mức đường huyết lúc đói từ 60 đến 110mg/dl, khi mức đường huyết trên 126mg/dl được xem là có bệnh tiểu đường. Trong khoảng từ 110mg/dl đến 126mg/dl là nghi ngờ có bệnh tiểu đường, cần phải làm một thử nghiệm uống đường 75gm đường và đo đường huyết sau hai giờ. Nếu đường huyết trên 200mg/dl là có bệnh. Trong khoảng gần 10 năm qua, người ta hay đo lượng Huyết sắc tố AlC (hemoblobin AlC) để thẩm định mức đường huyết trong 3 tháng qua. Ðây là một thử nghiệm rất có giá trị để kiểm soát bệnh tiểu đường trong 3 tháng qua có ổn định hay không. Thử nước tiểu không giúp cho bệnh nhân nhiều vì chúng ta dùng máy đo đường từ đầu ngón tay chính xác và tiện dụng hơn. Tuy nhiên thử nước tiểu có thể cho biết thận có bị tổn thương hay không qua chất đạm (protein) trong nước tiểu. Ngoài khám bệnh hàng năm, người ta nên truy tầm bệnh tiểu đường trong những trường hợp sau này: mập phì, có nhiều người trong gia đình mắc bệnh tiểu đường, sinh con trên 9lbs (trên 4kg), áp huyết cao, cao mỡ cholesterol, hay phụ nữ có thai ở tuổi lớn hơn 25 hoặc đường huyết cao khi mang thai và sau đó trở lại bình thường sau khi sanh.

Tại sao bệnh tiểu đường nguy hiểm?

Bệnh tiểu đường, nghe tên bệnh không thôi thì tưởng như không có gì quan trọng, nhưng thực tế nó đưa đến nhiều biến chứng rất phức tạp nguy hiểm và khó chữa.

Những trường hợp biến chứng cấp tính như đường huyết gia tăng quá cao thường trên 400-500mg/dl lên đến trên 1000mg/dl, có thể làm bệnh nhân hôn mê và suy hô hấp do cơ thể bị khô nước do tiểu quá nhiều, do nhiễm độc chất acetone và làm máu bị acid hoá. Phần lớn các trường hợp này xảy ra vì bệnh nhân lơ là trong vấn đề trị bệnh không dùng đủ thuốc chữa bệnh, hoặc đi kèm với những trường hợp nhiễm trùng, bị căng thẳng (stress) như đi mổ chẳng hạn.

Những trường hợp biến chứng kinh niên trong bệnh tiểu đường thì rất nhiều và trầm trọng. Những biến chứng đó có thể là: biến chứng mắt, quan trọng nhất là bệnh võng mạc đưa đến mù loà, và mù do tiểu đường là nguyên nhân chính của các bệnh mù không bẩm sinh. Những bệnh mắt khác có thể là bệnh mắt cườm, liệt có vận nhãn. Biến chứng thận có thể đưa đến suy thận mãn tính, cuối cùng phải chạy thận nhân tạo và biến chứng thận do tiểu đường là nguyên nhân hàng đầu của tất cả các bệnh thận phải lọc thận nhân tạo. Biến chứng thần kinh ngoại biên làm tê và đau bàn tay bàn chân, có khi làm chân mất cảm giác và nhiều khi chân bị thương tổn mà bệnh nhân không hề hay biết, đưa đến nhiễm trùng trầm trọng, và nhiễm trùng vốn cũng là một biến chứng quan trọng của bệnh tiểu đường. Bệnh nhân hay bị nhiễm trùng và lâu lành do sức đề kháng bị suy giảm.

Phối hợp với hai biến chứng trên, biến chứng bệnh mạch máu làm nghẽn tắc mạch máu ngoại biên ở tay chân rất dễ đưa đến chân tay bị hoại tử phải cắt bỏ chân tay. Những biến chứng khác như bất lực, bệnh trầm cảm, loét chân …. Nói chung biến chứng kinh niên của bệnh tiểu đường rất trầm trọng, và một khi đã xảy ra những biến chứng này cứ từ từ tiến tới không ngăn cản được dù bệnh nhân đang sống ở trên nước Mỹ này, làm bệnh nhân không chết thì cũng bị tàn phế.

Cho nên, phòng bệnh hơn chữa bệnh, người bệnh phải luôn luôn cố gắng giữ mức đường ở mức bình thường càng lâu càng tốt bằng cách dùng thuốc men đầy đủ và theo sự hướng dẫn của bác sĩ của mình và không những về thuốc men, còn cả sinh hoạt hàng ngày và ăn uống cẩn thận, vận động thể dục thể thao.

Ðể kiểm soát biến chứng của bệnh tiểu đường, nên có một chương trình khám định kỳ hàng năm, khám chân và móng tay để tránh nhiễm trùng – khám răng nướu một hai lần mỗi năm – khám mắt với bác sĩ nhãn khoa (ophthalmologist) mỗi năm một lần.

Sự trị liệu bằng thuốc trong bệnh tiểu đường có thể chia làm hai loại chính:

• Dùng Insulin chích dưới da thường dùng trong bệnh tiểu đường loại một và một phần trong bệnh tiểu đường loại 2 phối hợp với thuốc uống. Khi dùng thuốc chích, điều quan trọng phải luôn luôn ghi nhớ là: phải chích dưới da chứ không phải chích vào bắp thịt bằng cách nghiêng mũi kim 45 độ với mặt da. Chích vào da bụng thuốc ngấm nhanh hơn da đùi và chậm hơn nhất là ở da tay. Phải nhớ sát trùng kỹ trước khi chích bằng rượu 75%, và phải chích thay đổi chỗ mỗi ngày.

• Các loại thuốc uống thường áp dụng cho bệnh tiểu đường loại 2, gồm những thuốc có cơ chế trị liệu khác nhau: có thuốc làm tăng sản xuất Insulin như Glyburide, Diabeta… có loại làm tăng biến chứng chất đường và giảm mức sản xuất đường trong gan như Glucophage… Có những loại thuốc mới hơn như Avandia làm tăng mức đường thấm vào tế bào hay Acabose làm giảm hấp thụ chất đường qua đường ruột. Nhiều trường hợp bệnh nặng, phải phối hợp hai ba thứ thuốc uống mới làm giảm đường huyết, và cũng có khi không thành công cần phải chích thêm Insulin mới có kết quả. Thuốc uống nếu dùng theo sự chỉ dẫn của bác sĩ tương đối an toàn. Ðôi khi thuốc có thể làm giảm đường huyết trầm trọng, nhất là sau khi uống thuốc, bệnh nhân không ăn uống gì cả, hoặc gia tăng vận động hơn thường, hoặc bị ói mửa, tiêu chảy. Những trường hợp này cần theo dõi mức đường huyết trước khi uống thuốc.

Dù dùng thuốc chích Insulin, hoặc thuốc uống các loại, người bệnh nhớ phải kiểm soát mức đường huyết luôn luôn. Trên thị trường có nhiều loại máy đo đường huyết (glucometer), loại nào cũng tốt cả. Những máy này được Medi-Cal và Medicare trả tiền vừa cho máy, vừa cho giấy thử. Có thể đo đường huyết mỗi ngày hay cách nhiều ngày, thường có thể đo một buổi khác nhau, ghi lại trong sổ và đưa cho bác sĩ mỗi khi tái khám sẽ được một bảng tổng kết về mức đường huyết ở thời điểm khác nhau trong ngày, và dựa vào đó, bác sĩ sẽ biết thuốc chích hay uống đã có kết quả tốt cho người bệnh cả ngày đêm. Cách đo như thế vừa có hiệu quả, vừa đỡ ngán và đỡ đau tay.

Khi bắt đầu dùng thuốc chữa bệnh tiểu đường cũng như một vài bệnh kinh niên khác như cao áp huyết, hay cao mỡ cholesterol, thế nào người bệnh cũng nghe lời bàn ra, nào là uống thuốc chữa bệnh tiểu đường là nó bắt uống luôn đó, nào là uống thuốc nó hại thận đâấy v.v… Ðó chỉ là những lời bàn ngang ngược và vô lý, vì nếu không uống thuốc làm sao ổn định bệnh được, và chính không uống thuốc mới làm thận hư vì biến chứng của bệnh tiểu đường. Cái khổ của người Việt Nam là khi bệnh lúc nào chung quanh cũng có nhiều thầy dùi bàn tầm bậy ngay. Nhiều người hay nghe lời, tin bạn hơn bác sĩ, không chữa trị đúng mức, khi trở nặng có hối hận cũng không kịp.

 

Sự vận động trong bệnh tiểu đường:

Ngoài thuốc men, người bệnh nên gia tăng vận động bằng thể dục thể thao. Vận động nhiều hay ít tuỳ vào tình trạng sức khoẻ của từng cá nhân. Vì người bệnh tiểu đường, nhất là loại 2, thường ở người có tuổi, hay kèm theo những bệnh tim mạch, cho nên trước khi bắt đầu vận động, phải được khám tổng quát kỹ lưỡng và tham khảo với bác sĩ gia đình để phác hoạ một chương trình thể dục thể thao thích hợp. Vận động làm gia tăng sức chịu đựng của cơ thể, tăng lưu thông máu, làm giảm đường và mỡ trong máu, làm bớt mập, gia tăng kết quả trị bệnh rất nhiều. Nếu vận động đầy đủ có thể làm giảm bớt sự kiêng cữ ăn uống và làm cuộc sống thoải mái hơn, yêu đời hơn và tránh tư tưởng bệnh hoạn, trầm cảm.

Khi bắt đầu tập thể dục thể thao, phải cố gắng theo đuổi lâu dài, đừng nản chí và nên tập thành thói quen hàng ngày thì càng tốt. Có thể tìm bạn cùng tập với mình cho đỡ chán và thay đổi môn vận động khác nhau mỗi ngày như đi xe đạp, bơi lội, chạy bộ… có mục tiêu nhất định, nhưng phải nhớ là luôn luôn từ từ đi đến mục đích của mình đề ra, không nên gấp gáp có hại cho sức khoẻ.

Thường thường mỗi ngày độ 30 phút, ít nhất 5 ngày một tuần. Một điều quan trọng cần lưu ý là vận động có thể làm giảm đường huyết mạch cho nên khi nào vận động nhiều hơn thường lệ hoặc cảm thấy cơ thể thay đổi như bủn rủn tay chân, toát mồ hôi, hồi hộp… phaœi đo đường huyết ngay vì có thể bị giảm đường huyết. Ðể đề phòng những trường hợp này, khi đi vận động, lúc nào trong túi cũng nên có bánh kẹo hay đường cục để khi có những triệu chứng giảm đường huyết, ăn kẹo bánh để tăng đường huyết qua cơn nguy hiểm.

Cách ăn uống trong bệnh tiểu đường: kết quả chữa bệnh tiểu đường không những căn cứ vào thuốc men, vận động mà còn dựa vào sự giữ gìn ăn uống cho đúng mức. Tiểu đường không đồng nghĩa với cấm ăn chất đường (phải hiểu là glucose trong thức ăn, ngũ cốc). Người bệnh vẫn có quyền ăn đường để tạo năng lượng cần thiết cho đời sống, và năng lượng do đường cung cấp được xem là lành mạnh hơn năng lượng do mỡ và chất đạm. Năng lượng (calory) do đường – mỡ – chất đạm được phân phối như sau:

• Chất mỡ (lipid) đủ để cung cấp độ 30% năng lượng hàng ngày (trung bình 2.000 ca-lo). Nên dùng dầu thực vật như bắp, olive hay Canola, tránh ăn mỡ trong thịt ba chỉ hay heo quay, giảm bớt những thức ăn cho nhiều cholesterol như tôm cua, thịt bò, trứng gà vịt.

• Chất đạm (protein) chiếm 15 đến 20% năng lượng. Tránh đừng ăn nhiều chất đạm gốc thực vật vì cho thêm nhiều chất đường. Nên dùng thịt nạc, gà nạc, bỏ da, cá biển.

• Chất đường (glucose) chiếm 50% năng lượng. Nói chung rau cho ít đường nhất, độ 10% ngũ cốc cho nhiều đường lên đến 50% trái cây tùy loại cho nhiều đường nhiều hay ít nhưng tuyệt đối tránh đường miếng, mật, mứt, sô-cô-la, bánh bông lan, mía, nước ngọt, cà-rem… Người bệnh có thể dùng đường hoá học như chất aspartame, saccchrisn và acesulfame-K không làm gia tăng đường trong máu, nhưng nếu dùng đường hoá học xylitol, mannitol, và sorbitol có thể tăng đường huyết áp chút đỉnh, và dùng nhiều có thể bị đầy hơi. Ngoài ra nên tránh uống rượu và dĩ nhiên bỏ thuốc lá.

Một cách cụ thể thì hàng ngày nếu người bệnh phải dùng trung bình 2.000 ca-lo thì các thành phần trên sẽ được phân phối như sau:

200 gam đường (glucose) chứa trong rau, ngũ cốc, trái cây 100 gam đường (protein) chứa trong các loại thịt cá 80 gam chất mỡ (lipid) chứa trong dầu thực vật và từ thịt cá.

Ðể có một ý niệm bao nhiêu đường trong thức ăn cụ thể hơn, sau đây là sơ lược về mức đường (glucose) trong các loại thực phẩm chính khác nhau mà chúng ta dùng hàng ngày.

• Lượng đường trong một số thức ăn chính:

Nếu lấy cục đường (sugar), mỗi miếng là 5gam, để làm tiêu chuẩn cho dễ hình dung nồng độ đường trong thức ăn, chúng ta có những con số so sánh sau đây:

Ngũ cốc: 5 miếng đường (25gam đường) tương đương:

– 1 chén cơm, bắp (150gam), hoặc đậu (150ml)
– 1 củ khoai tây thường (độ 120gam) hoặc 80 gam khoai chiên
– 2 khoanh bánh mì (50gam)
– 1 bánh sừng bò
– 4 bánh bít quy

Trái cây: 3 miếng đường (15gam) đường tương đương:

– 1 trái lê, táo, đào
– 1 trái cam, 2 trái quýt, 1/4 trái thơm, 1 trái bưởi
– 20 trái dâu
– Nửa trái chuối, một chùm 15 trái nho

Sữa: 2 miếng đường (10 gam đường) tương đương:

– 1 ly sữa lớn (200ml)
– 1 lọ yogurt hoặc sữa tươi
– 2 muỗng canh sữa bột

• Nồng độ đường trong một số thức ăn chính:

(Tính theo % tức là 100 gam thức ăn có bao nhiêu gam đường)

Ngoại trừ ngũ cốc là phần thức ăn chính người ta bắt buộc phải ăn, còn những trái cây và thức ăn cho nồng độ đường trên 10% nên tránh dùng, hay ăn ít thôi. Ðể ý đến gạo chưa nấu nồng độ đường là 80%, khi nấu thành cơm nồng độ đường giảm 30% hay 1/3 trọng lượng mà thôi, và đường nào cũng là đường, nếu ăn cơm thì bớt mì, bớt khoai tây, hay ngược lại. Xin cũng nhắc nhở đây chỉ là con số hướng dẫn để chúng ta hiểu những gì cần ăn và ăn bao nhiêu cho thích hợp, chứ không có nghĩa là mỗi lần ăn cơm lại đem ra cân đo cho đúng bao nhiêu gam cơm bao nhiêu gam rau, thì thật là khôi hài và kỳ cục. Mức đường trong cơ thể còn lên xuống tuỳ thuộc nhiều yếu tố khác nữa mà chúng ta không chủ động kiểm soát được chứ không chỉ do thức ăn.

Nói tóm lại: bệnh tiểu đường là một bệnh nội tiết rất thường xảy ra, có mức gây hại cao vì những biến chứng, cần phải chữa trị lâu dài và bền chí. Vấn đề trị liệu thành công nhiều hay ít tuỳ thuộc vào sự hiểu biết và hợp tác của bệnh nhân rất nhiều.

Bác sĩ thẩm định mức độï nặng nhẹ của từng người bệnh và cho trị liệu khác nhau tuỳ trường hợp. Người bệnh nên luôn luôn tuân theo sự chỉ dẫn của bác sĩ không những về thuốc men, mà còn cả về sự vận động thể dục thể thao và duy trì mức ăn uống cho phù hợp với bệnh của mình. Ngoài ra trừ khi bị bệnh quá nặng, hay đang nằm bệnh viện, với sự kiêng cữ ăn uống cũng nên ở mức vừa phải và phối hợp với thuốc men làm sao để người bệnh đừng quá khác biệt với cuộc sống bình thường, có như thế người bệnh mới tránh được “mặc cảm bệnh hoạn” ảnh hưởng đến cuộc sống của mình.

 

(12.2015)

Share this:
@ 2021 TN InfoWay
Translate »