Nếu có Việt Học chuyên nghiên cứu DNA, nhân chủng học, lịch sử, nguồn gốc Việt Nam, văn hóa Việt Nam.v.v..từ đó phát huy văn hóa điểm mạnh của người Việt. Các nhà nghiên cứu tử vi cũng dày công chia sẻ kinh nghiệm, gạt lọc những gì sai, giữ lại chính xác của khoa tử vi để luận đoán và giúp con người (biết người, biết ta) trong cư xử và hiểu biết hành động, phát huy tài năng..v.v.

Tử vi  như ngành tâm lý học , cần nghiên cứu và chiêm nghiệm, tâm lý học nghiên cứu tâm tính, hành vi con người từ đó đưa ra những lời khuyện làm ổn định tinh thần (gạt bỏ những tư duy sai lầm giữ trong đầu óc nhiều năm qua những phương pháp hay bài trắc nghiệm ngành Tâm lý học). Bên tử vi gần đây có phái Thiên Lương chia sẻ học thuật và kinh nghiệm giúp người đi sau nghiên cứu hiểu rõ hơn về khoa tử vi (thời xưa).

Người Việt Nam có văn hóa "giấu nghề" có từ đời xưa -vì cuộc sống- từ đó dẫn tới thất truyền hay vì chiến tranh hay tam sao thất bản, thêm thắc vào trong câu chuyện làm người sau nghiên cứu tử vi đi lạc hướng và đoán không còn chính xác nữa.

2 cuốn chính thư của Hoàng Bính người Tống đã đem "2 cuốn bí kiếp Tử vi" dâng cho vua Trần, khi vào Đại Việt "tỵ nạn" không biết 2 cuốn này hiện nay ở đâu ? Ở thư viện Anh quốc hay ở tại Việt Nam ? v.v.

Có 14 chính tinh trong tử vi đẩu số do Trần Đoàn tiên sinh sáng tạo. Sao Tử vi có những vị trị đứng 1 mình . Riêng có 1 cặp – tử vi đi chung với 1 sao khác – có 5 nhóm (cặp) hay 5 tính chất sau:

1/ TỬ VI THIÊN PHỦ

Hai sao Tử vi Thiên phủ chỉ cùng cung tại Dần Thân, đều được coi là vị trí cực tốt, tạo thành “Tử Phủ đồng cung cách”.

Mệnh được cách này tất có khả năng lãnh đạo, kiến thức, mưu trí, tài năng xuất chúng, phản ứng mẫn tiệp, xử thế hòa hợp mà vẫn giữ khoảng cách với mọi ngườị Ngoài ra lại có tinh thần trách nhiệm cao độ, nhiệt tâm phục vụ công ích, bất chấp trở ngại khó khăn .

Nhưng vì Tử vi và Thiên Phủ là hai lãnh tụ của hai chùm sao khác nhau, khi cùng cung ví như hai hổ cùng ở một rừng tất phải có xung đột; nên sự tốt đẹp không được hoàn hảo . Tử Vi có tính động trong khi Thiên Phủ thiên về tĩnh . Tử Vi có tính khai phá, Thiên Phủ có tính bảo thủ. Tử Vi đại diện ước vọng cao vời, Thiên Phủ đại diện mục đích thực tế. Hai sao hợp lại, mâu thuẫn không thể nào tránh được .

Nên người có Tử phủ đồng cung thường mang ước vọng quá cao vời, dễ trở thành uổng công phí sức . Vì tự phụ thông minh, họ bướng bỉnh chỉ hành động theo ý riêng . Khi gặp thất bại lại đổi chiều hướng quá sớm, nên kết quả khó được như ý . Nói chung, nếu các phụ tinh không được tốt đẹp để giúp họ gặp nhiều may mắn, người có Tử Phủ đồng cung rất dễ trở thành kẻ có tài , sống đời bất đắc chí .

2/ TỬ VI THIÊN TƯỚNG

Chỉ đồng cung tại Thìn Tuất, tạo thành cách “Tử Tướng đồng cung” . Hai cung này mệnh danh là Thiên la Địa võng, ám chỉ sự khó khăn, khó nhọc, bị nhiều trói buộc phải vượt qua mới thành công được .

Tử Vi nhiều năng lực, đòi hơn người khác. Thiên Tướng có khuynh hướng phục vụ tha nhân, hành sự suy tính cẩn trọng . Tử Vi mang quí cách , Thiên Tướng hòa hợp với người . Hai sao hợp lại biểu lộ thành cá tính bên ngoài thân thiết ôn hòa, dễ được người kính mộ, nhưng lại không hợp với những nghề như thầy giáo, thầy thuốc v.v. . .

Ưu điểm : Chịu khó nghiên cứu học hỏi, phong thái tao nhã, nhiệt tâm phục vụ công ích, hành động cẩn trọng, có khả năng hòa giải, biết tiến thủ tùy lúc .

Khuyết điểm : Tâm tính bất chợt , ý muốn vượt hơn khả năng, trọng hư danh hơn thực chất . Cá tínhh bướng bỉnh, dễ hành động sai lầm rồi hối hận . Khả năng phán đoán thị phi không mấy xuất sắc . Hay vì lợi nhỏ mà mất lợi lớn .

3/ TỬ VI PHÁ QUÂN

Chỉ cùng cung tại Sửu Mùi, tạo thành “Tử Phá Mộ cung cách” .

Nếu đứng riêng đặc điểm của Tử Vi là tính khai phá, của Phá Quân là bất chấp hậu quả. Nhưng khi đứng chung Tử Vi bị Phá Quân lấn át, ngược lại Phá Quân cũng kính trọng khí độ của Tử vi . Hậu quả là hai bên cùng tự chế mà sinh ra mâu thuẫn .

Hai cung Sửu Mùi là Âm Thổ, đồng thời là Mộ địa, biểu tương sự cẩn trọng, nhiều suy tính . Vì thế mà có khả năng giữ mọi sự ở trạng thái bình hòa, giảm thiểu những biến động do khuynh hướng của Phá Quân gây ra .

Tử Vi có khuyết điểm là suy nghĩ quá nhiều, cô độc, trái tim dễ xúc động . Phá Quân dũng mãnh, cố chấp . Hai sao cộng lại, hay khởi sự bất chợt (do ảnh hưởng của Phá Quân) rồi khi lâm sự lại do dự, nhiều khi sắp thành công lại để cho thất bại (vì ảnh hưởng của Tử Vi ngăn chận đường lối tàn nhẫn của Phá Quân) .

Ưu điểm : Phong cách đặc biệt khác người . Kiến văn quảng bác, hành sự cẩn trọng, khả năng phán đoán cao, chịu khó học hỏi , có khả năng tự học tự biết không cần người giảng dạy . Tiến thủ có suy tính, coi thường những thành bại ở đời .

Khuyết điểm: Cố chấp, nhưng khi lâm sự lại hay thối nhượng . Đời sống bất định, ở tuổi thanh niên thiếu phương hướng để cuốn theo chiều gió, sống đời sôi nổi theo khuynh hướng Phá Quân . Đến tuổi 30, 40 thường đổi tính, trở thành gần Tử Vi mà xa cách Phá Quân (4) .

4/ TỬ VI THAM LANG

Chỉ cùng cung ở Mão Dậu, tạo thành “Tử Tham Mão Dậu cách”.

Xét vòng Trường sinh của 4 hành Kim, Mộc , Thủy, Hỏa trên địa bàn (tức lá số Tử Vi) thì Mão Dậu là hai cung thuộc vị trí “Mộc Dục”, biểu tượng những ham muốn tầm thường, nên còn gọi là “Đào hoa” cung .

Tử Vi vốn đã có khí phái phong lưu, Tham Lang lại là sao của lòng tham vật dục , nên trường hợp thông thường là đời sống buông thả. Nhưng chú ý ! Vì khuynh hướng của hai sao quá tương phản nên liên tục khắc chế nhau, mà tùy hoàn cảnh kết cuộc có thể hoàn toàn trái ngược .

Đó là lý do tại sao Tử Tham Mão Dậu cũng là cách của nhiều bậc chân tu, coi thường mọi thú vui của đời sống .

Ưu điểm : Đa tài đa nghệ, học hỏi rất nhanh, kiến thức phong phú, ngôn ngữ có phong cách nho nhã, thân thiết với nhiều người, xử sự khéo léọ Nếu sống đời buông thả thì đáng gọi là tay chơi . Nếu sống đời ẩn dật lại đáng gọi là bậc chân tu .

Khuyết điểm : Thiếu tính nhẫn nại, thiếu khả năng chịu đựng thất bại, nhiều chủ kiến, (thường) tham lam hưởng thụ, dễ đổi thay ý kiến, quan điểm. Sống vô kỷ luật , qui củ, gây ra những hoàn cảnh phức tạp tự mình không giải quyết nổi, thường vì tình mà khổ lụy, đời sống thành bại khó lường .


5/ TỬ VI THẤT SÁT

Chỉ cùng cung tại Tỵ Hợi, tạo thành cách “Thất Sát ngưỡng đẩu” .Cung Mệnh an tại Tỵ Hợi, Sát tọa thủ đồng cung, nên được hưởng phú qúy song toàn. Cung Mệnh an tại Tỵ, Hợi có Tử, Sát nếu thêm Quyền hay chiếu, tọa thủ đồng cung, nên rất rực rỡ tốt đẹp. Có cách này chắc chắn là rất qúy hiển lại thêm uy danh lừng lẫy

Tử Vi có tính cách lãnh đạo, Thất Sát có phong cách hùng dũng, thích đảm đương việc khó nhọc . Hai sao cộng lại hơn Tử Vi đơn thủ ở chỗ chịu khó hơn, hơn Thất Sát đơn thủ ở chỗ cẩn trọng hơn . Người có Tử vi và Thất sát ở  cùng cung thì không chịu nhượng bộ người khác.

Hai sao cùng cung ở Tỵ Hợi là nơi ngụ của sao Thiên Mã (Dần Thân Tỵ Hợi thường được gọi là tứ mã địa) , tức vị trí của biến động , thay đổi . Nên thường có những gặp gỡ, duyên nghiệp phức tạp, thành bại khó lường . Cá nhân sẽ có nhiều cơ hội đi lại, biết nhiều chuyện thiên hạ, nhiều sức sống , được hưởng nhiều thú lạ trên đời .

Tử Vi phong cách uy nghiêm , Thất Sát tính khí cương cường . Nên cá nhân có khả năng lãnh đạo . Dù trải nhiều thay đổi nhưng con đường đã định thường đi đến nơi đến chốn. Thất Sát cố chấp, Tử Vi nhiều suy nghĩ, nên bổ túc khuyết điểm cho nhau, có thể là người vô cùng hợp lý .

Ưu điểm : Trí dũng kiêm toàn , độc lập hành sự, có khả năng chịu đựng lao khổ, có tinh thần trách nhiệm, biết sửa những sai lầm của mình . Có chí lớn hơn đời, ân oán phân minh, không sợ nghịch cảnh, quả cảm dũng mãnh .

Khuyết điểm : Tâm tính sôi nổi bất thường. Mơ ước quá cao, suy tính không trọn vẹn vấn đề nên dễ làm hỏng việc . Lâm sự độc đoán, không chịu nghe lời thật mất lòng. Cẩn trọng dễ tin lời nịnh hay dối của kẻ xấu xa. Cần kế hoạch chu toàn lâu dài . Tử vi nên tránh gặp Tuần hay triệut. Tử Vi gặp Tuần hay Triệt thì trong đời thường gặp tai nạn, dù có chí lớn cũng không thể mưu thành đại sự được.  Tử Vi, Thất Sát gặp Tuần hay Triệt thì mưu sự bất thành, chỉ có hư danh và gặp những vận rủi trong cuộc đời Nếu có cách này , nên tu tâm dưỡng tánh và thay đổi Vận Mệnh bằng cách Lập Mệnh Học thei học Liễu Phàm .
 

Sau đây là chi tiết TỬ VI và THẤT SÁT, 2 sao cùng tọa Tỵ Hợi [Biểu tượng của quyền lực]

Tử Sát tọa tỵ hợi có 2 tính chất quyền uy / chuyên quyền.

Tử Sát đồng cung ở tỵ hợi / đối cung là Thiên Phủ / tam hợp hội cung là Vũ Tham và Liêm Phá.Thất Sát đồng cung: Sát ví như kiếm báu, đi với Tử – Vi làm cho Tử – Vi thêm uy lực (tăng thêm tài lộc).

Tử Vi là đế tinh, Thất Sát là tướng tinh đồng cung, biểu hiện một khí thế không gì so sánh được, người "nhiều khai sáng lực và tư tưởng độc đáo" nói chung, Tử Sát có thể được coi như là một [biểu tượng của quyền lực], như vậy Tử Vi không nên Hóa Quyền, Nếu không, chủ nhân quyền lực quá cao, biểu hiện một phong thái quá quắt (chuyên quyền, độc tài) khiến người khác khó chịu.

rất cần được Cát diệu hội chiếu.

Như có Phụ Bật, Xương Khúc, Lộc, Mã đồng hội, khiến Thất Sát dũng cảm có đất dụng võ, nói [hóa Sát vi Quyền] tức là loại cách cục này.

nếu không có Cát diệu hội chiếu, giống như anh hùng phải vào rừng làm giặc, khó tránh biểu hiện bá đạo (cậy mạnh) làm càn, chủ nhân "hoạnh phát hoạnh phá".

Nữ mệnh Tử Sát, về mặt hôn nhân không đáng ngại nhiều, tuy nhiên nếu Sát tinh chiếu hội: chủ cô độc.

Tổ hợp tinh hệ này kết cấu "thuần tính vật chất", hội hợp tinh diệu cường liệt (cực đoan), vì vậy cát hung thường thường xen lẫn.

Phải suy luận Tử Sát ở cả hai bản chất hết sức cực đoan, có thể phân rõ ra Quyền Uy hoặc chuyên quyền, (ngang ngược, cậy thế, lạm quyền độc tài).

quyền uy phát triển đúng hướng (đường chánh) dễ dàng xuất nhập vào chỗ cao nhất: cuộc sống dễ thỏa lòng, tuy bế tắc cũng không hung hiểm;

chuyên quyền: dễ đi vào đường rẽ. (đường bất chánh) dễ lên mà cũng dễ vấp ngã, tai họa bệnh hoạn cũng nhiều.

nhưng, người Tử Sát tại Mệnh thông thường tính chất không cực đoan ngang ngược như vậy, như thế hai tính chất chỉ để so sánh mà thôi.

Các trường hợp sau đều là Tử Vi quyền uy.

Tử Vi hóa Quyền, có Lục cát, không có Hình Sát.

Tử-vi hóa Khoa có Phụ tá,

Vũ, Tham hóa Lộc.

Liêm, Phá hóa Lộc,

Các trường hợp sau đều là Tử Vi chuyên quyền

Tử Sát không có Phụ tá, có Hình Sát.

Vũ hóa Quyền,

Tử Vi hóa Quyền.

Tử Vi quyền uy.

Tử Vi hóa Quyền (can Nhâm), (thì Vũ sẽ hóa Kị tại Tài cung)

cần Lục cát, và không Hình Sát. thì mới có thể bỏ tính chuyên quyền.

Tử Vi không hóa Quyền,

có Phụ tá hội, dù hội Hỏa Linh cũng chẳng là chuyên quyền: tính chất là Tử Vi uy quyền,

Tử-vi hóa Khoa (can Ất),

chỉ cần có một hoặc hai Phụ tá hội hiệp, tức sẽ là quyền uy chứ không là chuyên quyền. Đồng hội là văn diệu, chủ nho nhã, tiền nhân chỉ rõ là [nho tướng phong lưu]. Bấy giờ kiến Hỏa Linh cũng hóa làm khí chất tường hòa. tốt lành, rồi sau cách cục [Hỏa Tham] [Linh Tham] mới thích dụng. nếu không có Phụ tá hội hiệp: hoạnh phát sau dễ dàng hoạnh phá.

Phủ hóa Khoa (cần nhất can Canh hóa Khoa).

không sát diệu đồng chiếu, có thể giải được tính chuyên quyền, thậm chí nếu không thể chuyển hóa thành quyền uy, cũng bớt được nhiều hung hãn, cuộc sống nhiều gặp gở do đó cũng nhiều thuận cảnh.

Vũ Tham (tại Sửu Mùi),

Tham hóa Lộc (can Mậu) tốt nhất, Vũ hóa Lộc (can Kỉ) cũng tốt. vì Vũ Hóa Lộc khiến Tử Sát nhiều vất vả, chẳng bằng Tham Hóa Lộc chủ hưởng thụ.

Liêm Phá (tại Mão Dậu).

Liêm hóa Lộc (can Giáp) tốt hơn Phá hóa Lộc (vì Liêm hóa Lộc thì Phá sẽ hóa Quyền và Vũ hóa Khoa tại Tài cung),

Phá Hóa Lộc (can Quí) vất vả hơn Vũ Hóa Lộc (vì Tham sẽ hóa Kị tại Tài cung)

Tử Vi chuyên quyền

Tử Sát không có Phụ tá hội hợp, tuyệt đối không nên kiến Tứ Sát đồng cung hoặc hội chiếu, ắt: nhân sinh gặp nhiều phiền toái.

Vũ hóa Quyền (can Canh),

thêm sát diệu ắt ảnh hưởng Tử Sát chuyên quyền. Tuy Phủ hóa Khoa cũng khó điều hòa (Do đó can nhâm Phủ không nên Hóa Khoa).

Tử Sát nếu tự mình không có tính chuyên quyền, cũng không nên hội với tinh diệu khác hóa Quyền. Tham hóa Quyền ảnh hưởng ít hơn Phá hóa Quyền. do có Liêm hóa Lộc điều hòa, không phải xấu.

Tử Sát thủ mệnh

Tử Sát thủ mệnh, tài bạch cung "Vũ Tham", nếu kiến Hỏa Linh: chủ hoạnh phát hoạnh phá, bạo phát bạo bại. phát rồi phải tự mình giữ gìn, sau đó mới có thể phát triển tốt đẹp.

Tử Sát mà Tử vi hóa Quyền: ắt trọn đời tài lực không đủ để lo sự nghiệp.

Tử Sát thủ mệnh: nặng tinh thần trách nhiệm, người tuổi Quý: sự nghiệp cung là Liêm Phá mà Phá hóa Lộc: chủ gánh thêm nhiều trách nhiệm (ngoài trách nhiệm chính), việc gì cũng phải tự mình gánh vác.

Tử Sát tại mệnh cung, lấy "Cự Nhật" là điểm mấu chốt. Cự Nhật tại dần thân cung là tốt, nhưng vẫn xét tinh diệu cát hung mà định.

Nữ mệnh Tử Sát hôn nhân phần nhiều không như ý. nếu mệnh cung, phu thê cung kiến Sát tinh, lại bất thiện khắc chế, Rất dễ liên tục thay đổi cảm xúc..

Tử Sát thủ mệnh, lấy đại hạn Thiên tướng, "Vũ Tham" làm điểm mấu chốt của mệnh vận.

Tử Sát lưu niên vận hạn 12 cung.

Cung Mão Dậu: Liêm Phá.

Tử vi quyền uy đến: ắt có thể thiết lập uy quyền.

Tử vi chuyên quyền đến:tuy gặp cát hóa, ở vận hạn gặp lưu niên không cát lợi, ngay lập tức sanh bế tắc hoặc phá bại, hội [Hỏa Tham] [Linh Tham] thành bại thường thường rất nhanh, trong 10 năm đại vận có thể phát sinh liên tục nhiều lần

Như Liêm Phá thấy Sát Kị Hình cùng họp, hoặc là Hình Kị giáp Thiên Tướng xung, củng hợp,

Tử vi quyền uy đến: phải chịu áp lực cạnh tranh, bấy giờ phải cân nhắc tình huống mà xác đính cơ tiến thóai.

Tử vi chuyên quyền đến: tuyệt không nên kích động thị phi, nếu không sẽ liên quan đến một cơn đại phong ba.

Như nguyên cục Liêm hóa Kị xung đại vận Vũ hóa Kị, hoặc nguyên cục Vũ hóa Kị xung vận hạn Tham Hóa Kị, lại xung lưu niên Liêm Hóa Kị, lại thấy Kình Đà diệt xung, lại thấy Hình Hao, vô Lộc giải cứu hoặc "Lộc khinh đào hoa trọng", ắt là năm nguy hiểm, thông thường vì thất bại mà muốn quyên sinh, nhất là phụ nữ.

Cung Tị Hợi: Thiên Phủ.

Nếu Thiên Phủ kiến Không là Không khố, vậy Tử Sát bất kể tính chất gì đều không nên chuyển đến, ngay cả lưu niên cũng nhiều phá bại,

Tử vi chuyên quyền đến: càng chủ bạo bại.

Như Thiên Phủ hội Lộc là kho đầy, lại ít Sát hợp,

Tử vi quyền uy đến: thì chủ thuận toại bình hòa,

Tử vi chuyên quyền đến: phải lo thủ để trì doanh (giữ cho đầy đặn).

Phủ hóa Khoa đắc Lộc, lại thấy Quang Quý,Thai Cáo, Thai Tọa.

Tử vi quyền uy đến: chủ được vinh quang khác thường.

Do khí chất không hòa được với nhau, Do vậy, nguyên tắc chung của Tử Sát chuyển đến lưu niên Thiên Phủ, phải mạnh dạn "không làm" (can thiệp vào) là thích hợp nhất.

Cung Tí Ngọ: Đồng Âm.

Tử Sát chuyển đến: nói chung là tốt. Tử Sát chủ nhọc nhằn, gặp Đồng Âm ắt được yên bình.

Tử vi quyền uy đến: vận trình này được hưởng thụ, duy Đồng không nên Hóa Kị, chủ muốn tĩnh mà không thể tĩnh, thường thường sức khỏe không tốt, cần chú ý, tim, huyết quản có bệnh.

Nguyên cục Âm hóa Kị, như xung hội đại hạn Cơ hóa Kị, thì Tử Sát không nên gặp, nếu gặp: chỉ nên tĩnh thủ (giữ yên) không nên động (thay đổi), thời gian này gặp nhiều phỉ báng oán hờn, hoặc bị kẻ dưới chiếm đoạt tài vật.

Cung Sửu Mùi: Vũ Tham.

Nếu gặp Cát hóa, Cát diệu,

Tử vi quyền uy đến: vận thế thịnh vượng, phát lâu dài. chỉ cần không thấy Sát Kị, buôn bán bình thường.

Tử vi chuyên quyền đến: không bền tuy là lưu niên, cũng chủ nhiều cạnh tranh thị phi phiền toái. Hỏa Tham thành cách cũng chủ phải lo hảo rồi sau đắc tài.

Như nhiều Sát Kị Hình,

Tử vi quyền uy đến: bị nhiều cạnh tranh, thu hoạch không thỏa mãn;

Tử vi chuyên quyền đến: ắt nhiều khuynh bại, có Đà đồng cung: phong cách tự thân mình cũng khiêu khích thị phi chống đối.

Cung Dần Thân: Cự Nhật.

Tử vi chuyên quyền đến không thích Thái Dương quá vượng, vì vậy vận đến cung dần Cự Nhật: thị phi, khó khăn, đến cung thân lại là tốt.

Tử vi quyền uy thì ngược lại, thích cung dần mà không thích cung thân, dần cung phát sinh lực lớn hơn.

Cự Nhật có Sát Kị Hình chiếu,

Tử vi quyền uy đến: hình khắt lục thân, bất lợi khi hợp tác với người khác;

Tử vi chuyên quyền đến: phải phòng quan phi từ tụng

Tử vi quyền uy đến: Cự hóa Lộc là mệnh lệnh vì thế tốt hơn Thái Dương hóa Lộc.

Tử vi chuyên quyền đến: Thái Dương hóa Lộc là thanh vọng vì thế tốt hơn Cự hóa Lộc, đại khái dể rõ….

Cung Mão Dậu: Thiên Tướng.

Nếu Hình Kị giáp

Tử vi chuyên quyền đến: là vận trình chịu nhiều áp lực cùng bế tắc. xấu nhất là bấy giờ Phá hóa Lộc đến xung, biểu hiện cơ hội nhiều, bế tắc cũng nhiều, thương thường thất bại khi gần đến thành công.

Tử vi quyền uy đến: cũng nhiều phát triển lực, vận trình: thường có tính đột phá. ở lưu niên cũng chủ: cát lợi, nhưng nhiều vất vả oán hờn.

Nếu Tài Ấm giáp.

Tử vi chuyên quyền đến: nên an phân giữ mình, thì tự nhiên tiến bộ, nếu dụng hết tâm cơ, chỉ chiêu thị phi, là nguyên nhân phá bại ở hậu vận

Thiên Tướng đắc Lộc thì bị Kình Đà giáp, nếu không Cát diệu phù trợ, Tử Sát đều nên tĩnh không nên động, động ắt bị tổn thất.

cung Thìn Tuất: Cơ Lương,

Tử vi quyền uy đến: có lợi.

Tử vi chuyên quyền đến: thường bất lợi lục thân, cuộc sống cô lập.

thấy Cát hóa, Cát diệu,

Tử vi quyền uy đến: chủ tự lập,

Tử vi chuyên quyền đến: có thể lạc lối.

Như Sát Kị Hình Hao đồng hội,

Tử vi chuyên quyền đến: dễ chuyển biến đưa người tới chổ tuyệt vọng lưu ly..

Lương hóa Lộc,

Tử vi chuyên quyền đến: bất lợi, dễ phát triển bằng thủ đoạn gian trá;

Cơ hóa Quyền, thấy thêm Cát diệu,

quyền uy đến: ắt mừng, không gì mà không lợi.

Cơ hóa Kị, bất luận bản chất Tử Sát đều không nên gặp.

Tử vi quyền uy đến: Có thể coi là một cơ hội để rèn luyện đời sống /

Tử vi chuyên quyền đến: Thường là do ảnh hưởng tâm lý, mà hành động bừa bãi gây nên tai họa.

1. Tử Sát tọa tị hợi quyền uy / chuyên quyền ***

2. Liêm Phá tọa mão dậu phụng công / tư lợi

3. Thiên phủ tọa tị hợi tường hòa / quyền thuật

4. Đồng Âm tọa tí ngọ tích cực / tiêu cực

5. Vũ Tham tọa sửu mùi dục vọng / dã tâm

6. Dương Cự tọa dần thân đắc trợ / cô lập

7. Thiên tướng tọa mão dậu chính trực / tuần tư

8. Cơ Lương tọa thìn tuất tiêm khắc / minh đoạn

*** 1 thí dụ để tiện nghiên cứu:

người tuổi Nhâm

Đồng Âm tọa mệnh ở (tí cung) + Kình đồng cung, hội Lương hóa Lộc (Thìn cung)

Tử Sát đóng giao hữu cung (Nô tại Tị),.

Tử Sát Giao hữu cung (nô), có Tử Vi hóa Quyền, hội Vũ hóa Kị (tại Sửu) + Linh đồng cung, tính chất thuộc về Tử vi chuyên quyền.

Đến đại vận Ất Tị,

Nô cung đại vận (vô chính diệu tại Tuất) mượn Thìn cung [Cơ Lương] hội Đà La nguyên cục (tại Tuất). (hạn đại vận can Ất thì: Cơ hóa Lộc, Lương hóa Quyền, hội Cự Nhật cùng Tá tinh.

Mệnh cung nguyên cục [Đồng Âm] thì Âm hóa Kỵ,

Trong vận hạn này, tự mình gây nên phiền lụy, không chỉ chiếm đoạt tài vật mà còn đoạt luôn khách hàng của người hợp tác. Đây là do nguyên cục của cung Nô có khí chuyên quyền của [Tử Sát], đến [Cơ Lương] mà phát sinh.

(Dẫn theo blog Trần Nhật Thành)

và Tổng hợp)

Share this: