Đảo Borneo:

Đảo Borneo, hòn đảo lớn nhất Đông Nam Á thuộc lãnh thổ các quốc gia Brunei, Malaysia và Indonesia là nơi sinh sống của dân tộc Dayak – một cộng đồng người có nền văn hóa cổ xưa và độc đáo. Với diện tích khoảng 287.000 dặm vuông, Borneo là hòn đảo lớn thứ ba trên thế giới tại Đông Nam Á. Borneo được chia thành bốn khu vực chính trị riêng biệt: Kalimantan thuộc Indonesia, Sabah và Sarawak thuộc Malaysia, một khu vực nhỏ còn lại thuộc chủ quyền của Brunei. 

Nằm ở phía đông nam bán đảo Mã Lai và phía tây nam của Philippines, đảo Borneo chủ yếu là đồi núi, và những khu vực rừng mưa dày đặc. Đỉnh cao nhất ở Borneo là đỉnh Kinabalu với độ cao 13.455 feet. Đảo Borneo có khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, lượng mưa trung bình năm khoảng 3000 mm – 5000 mm. Do lượng mưa lớn nên hệ động thực vật trên đảo rất phong phú vào hạng bậc nhất trên thế giới. Borneo là ngôi nhà của gần khoảng 15.000 loài thực vật có hoa, 221 loài động vật có vú trên cạn, 420 loài chim cư trú, và 440 loài cá nước ngọt.

Hòn đảo còn sở hữu một trong những rừng mưa nhiệt đới lâu đời nhất trên thế giới (130 triệu năm tuổi).  Borneo là một trong hai nơi duy nhất trên trái đất, loài đười ươi có nguy cơ tuyệt chủng sinh sống. Đười ươi là một trong các loài linh trưởng thông minh nhất; nó có thể làm thuốc, công cụ thủ công, và thậm chí là tặng quà.

Tuy nhiên, do ô nhiễm môi trường nên số lượng đười ươi đang giảm dần. Trung tâm Phục hồi chức năng Sepilok Orangutan ở Đông Sabah là địa điểm nổi tiếng để ngắm nhìn tận mắt loài vật thông minh này ở Borneo. Ngoài ra, tại Trung tâm Phục hồi động vật hoang dã ở Kuching, bạn cũng có thể ngắm nhìn những con đười ươi bán hoang dã ở cả nơi cư trú và trong thời gian cho ăn. Ngoài ra, cũng có thể bắt gặp loài động vật quý hiếm sống hoang dã dọc bờ sông Kinabatangan.

Chính thức mở vào năm 2006, Trung tâm khám phá rừng mưa nhiệt đới ở Sabah là một trung tâm giáo dục môi trường nổi tiếng thế giới.

Sabah tự hào sở hữu những bãi lặn hàng đầu thế giới. So với việc lặn ở những nơi như đảo Perhentian, Malaysia, thì việc lặn ở Borneo chắc chắn không phải hề rẻ, nhưng bù lại bạn được khám phá thế giới dưới biển vô cùng phong phú.Với độ cao 13.435 feet, đỉnh Kinabalu ở Sabah là ngọn núi cao nhất Malaysia, cao thứ ba Đông Nam Á và là một trong những đỉnh núi cao nhất thế giới – có thể leo lên được không cần thiết bị kỹ thuật hỗ trợ. Chinh phục đỉnh Kinabalu không chỉ yều cầu sức chịu đựng tốt mà còn phải có đam mê. Mỗi năm, có khoảng 40.000 người tới leo núi nhưng không phải ai cũng có thể đặt chân lên đến đỉnh.Sông Kinabatangan luôn là địa điểm tham quan ưa thích của khách du lịch khi tới Borneo, Malaysia. Đây là con sông dài thứ hai ở Malaysia và được xem là nơi tốt nhất đế nhìn tận mắt thế giới động vật hoang dã ở Borneo. Dòng sông là nơi trú ẩn của các loài động vật quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng. 

Theo nghiên cứu lịch sử, Dayak là nhóm cư dân bản địa Borneo lâu đời. Tổ tiên của họ đã di cư từ lục địa châu Á ra đảo từ hơn 3.000 năm trước.

1. Xã hội Dayak bắt đầu khởi sắc khi nghề luyện kim được truyền đến hòn đảo này cách nay khoảng 2.450 năm, tương ứng với thời kỳ Hùng Vương ở Việt Nam.

 

Cộng đồng Dayak gồm hàng trăm sắc tộc khác nhau cư trú rải rác khắp đảo Borneo bao gồm hơn 200 nhóm bộ tộc nhỏ khác như bộ tộc Dayak Ngaju, Dayak Iban, Dayak Baritos, Dayak Kayan, Dayak Benuaqs, Dayak Embaloh (Maloh)… Mỗi bộ tộc nhỏ lại có một ngôn ngữ, một nền văn hóa, luật lệ, phong tục khác nhau và dễ phân biệt. Họ nói hàng trăm phương ngữ khác nhau nhưng tất cả đều thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Austronesien).

2. Ở Việt Nam có nhiều dân tộc sử dụng ngữ hệ này, như dân tộc Chăm, Êđê, Gia Rai, Ra Glai và Churu.

Người Dayak bắt đầu có mặt trên đảo khoảng 3.000 năm trước và sở hữu một trong những ngôn ngữ cổ nhất hành tinh. Xã hội Dayak bắt đầu khởi sắc khi nghề luyện kim được truyền đến hòn đảo Borneo cách nay khoảng 2.450 năm. Hai tộc người Dayak lớn là Bakumpai và Bukit cư trú chủ yếu ở miền Nam đảo Borneo.

Phần lớn người Dayak sống bằng nghề làm ruộng lúa nước ven sông, làm rẫy, trồng cọ trên những ngọn đồi thấp… Họ cũng làm các nghề thủ công, nghề gốm, nghề dệt thổ cẩm, nghề đúc, săn bắt, chài lưới.

Tôn giáo của người Dayak là đạo Kaharingan, một dạng Hindu giáo đã bản địa hóa theo thuyết đa thần ở Borneo.

3. Họ đặc biệt tôn thờ hình tượng rồng và chim thần, hai linh vật trong truyền thuyết về sự ra đời của dân tộc Dayak. Đặc điểm này khá giống với các cư dân Việt cổ thời Hùng Vương, những người coi mình là “con Rồng, cháu Tiên” và tôn vinh hình tượng chim lạc như biểu tượng của đất nước.

4. Người Dayak cũng có nhiều phong tục dân gian giống người Việt cổ như tục dựng cây nêu, cưới hỏi, cải táng, tín ngưỡng phồn thực.

5. Một phong tục tương đồng của người Việt cổ và người Dayak, ít thấy có ở các dân tộc khác trong khu vực, đó là tục xăm mình.

Với người Dayak, hình xăm thể hiện mối liên hệ với các linh hồn, thần linh hoặc tổ tiên và nhằm xua đuổi bệnh tật, tai họa, đồng thời cũng là nghi lễ đánh dấu sự trưởng thành, nhận biết đẳng cấp, địa vị trong bộ tộc hoặc phân biệt bạn với thù.

6. Cách ăn mặc của người Dayak cũng có đặc điểm rất giống với các cư dân Hùng Vương, đó là việc họ sử dụng loại mũ được trang trí bằng những chiếc lông chim dài, giống như những hình người trên hoa văn trống đồng Đông Sơn.

Những thanh niên trước khi trở thành một chiến binh phải trải qua nghi lễ xăm mình tại ngôi nhà truyền thống, sau đó họ sẽ được đi săn. Theo truyền thống, xăm mình của người Dayak được tiến hành dưới dạng một nghi lễ long trọng trước sự có mặt của đông đảo các thành viên trong bộ tộc.

Trong buổi lễ, nghệ sĩ xăm mình bắt đầu bằng việc giết gà, chim rồi rắc máu của nó để hiến tế linh hồn tổ tiên. Thông thường, người phụ nữ trong bộ tộc đảm nhiệm công việc xăm mình. Việc xăm mình kéo dài từ 6 – 8 giờ và rất đau đớn.

Trang phục của phụ nữ Dayak thay đổi tùy theo vùng, nhưng đều là những bộ váy làm từ thổ cẩm được trang hoàng bằng những hoa văn rực rỡ. Họ đeo cả những chiếc mũ trang trí cầu kỳ vào những dịp đặc biệt.

7.Phụ nữ Dayak thường căng dái tai mình bằng những chiếc vòng kim loại nặng. Đây là cách làm đẹp tương tự các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên của Việt Nam như Ê đê, Bana, M'nông, Mạ, Stiêng…

Theo truyền thống, nhiều thế hệ người Dayak cùng sinh sống trong những căn nhà sàn có chiều dài hơn 50m, có sức chứa từ 30 – 40 gia đình và được chạm khắc hoa văn tỉ mỉ. Những ngôi nhà dài cũng là nơi người Dayak tụ họp, bày lễ vật dâng cúng, đánh trống khua chiêng, nhảy múa trong các lễ hội truyền thống. Màu sắc ở các hình vẽ, hoa văn chạm khắc trong ngôi nhà này có ý nghĩa riêng của nó. Đáng tiếc rằng các ngôi nhà này đang biến mất dần theo nhịp sống hiện đại.

Người Dayak có một tập tục được cả thế giới biết đến, đó là tục săn đầu người giữa các bộ tộc (đến 1970 thì tục này đã bỏ). Đây là cách để bảo vệ lãnh địa sinh sống và khẳng định sức mạnh của các chiến binh và bộ tộc. Vũ khí chính trong các cuộc săn đầu người là giáo và khiên. Những chiếc sọ người sẽ được cất giữ trong nhà và sử dụng trong nhiều nghi lễ khác nhau. Ít ai biết rằng dân tộc Cơ tu ở khu vực miền Trung Việt Nam cũng từng có một tục săn đầu người tương tự. Điều này được ghi nhận bởi các học giả Pháp, theo đó, săn máu và lấy đầu người của làng khác là một nhiệm vụ trọng đại để tế thần linh nhằm cầu xin mùa màng tươi tốt, không bị dịch bệnh và tai ương.

Vũ khí quan trọng nhất của các chiến binh Dayak là thanh đao mandaus (mandau) bằng kim loại có cán làm bằng sừng hươu và chiếc khiên thameo bằng gỗ bọc da hươu. Khi ra trận, họ mang những chiếc mặt nạ quỷ và hò hét để kẻ thù sợ hãi.


Vũ khí quan trọng nhất của các chiến binh Dayak là thanh đao mandaus.

Ở tộc người Dayak Iban, họ tin rằng linh hồn nằm ở đầu. Do vậy, lấy đầu của kẻ thù có nghĩa là lấy được linh hồn, tài năng và sức mạnh của nạn nhân. Tài năng và sức mạnh đó đảm bảo sự thành công trong trồng trọt và sinh sản của bộ tộc. 

Về mặt nghệ thuật, người Dayak nổi tiếng với vũ điệu ngajat, lấy cảm hứng từ cuộc chiến của các chiến binh. Họ cũng sáng tạo ra nhiều loại nhạc cụ truyền thống khác nhau.

(Theo Khám phá)

Share this: