Thành Cát Tư Hãn là nhân vật đặc biệt trong lịch sử. Ông đã biến những kẻ du mục trên thảo nguyên Mông Cổ thành người thống lĩnh thế giới.

Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, Thành Cát Tư Hãn đã chỉ huy 32 chiến dịch lớn với 65 trận đánh, chinh phục được 31 triệu km2 đất đai, nhiều hơn bất cứ nhân vật nào trong lịch sử.


Bản đồ thể hiện những cuộc chiến mà đích thân Thành Cát Tư Hãn tham gia. (Ảnh từ wikipedia.org).

Trong những trận đánh của Thành Cát Tư Hãn, trận lớn nhất chính là trận Dã Hồ Lĩnh. Trận đánh này giúp quân Mông Cổ đánh bại quân chủ lực nước Kim (một nước lớn ở phía bắc Trung Quốc, từng đánh bại Bắc Tống). Đây là bước ngoặt quan trọng giúp quân Mông Cổ mở đường tiến vào Nam Tống.

Xuất thân

Theo Nguyên sử, cha của ông đã bị các đối thủ Tatar đầu độc chết khi ông mới chỉ 9 tuổi. Lớn lên, Thành Cát Tư Hãn phải đi săn bắn và hái lượm để kiếm ăn. Thậm chí, ông và người vợ trẻ còn bị bắt cóc, phải sống như nô lệ trước khi trốn thoát.

Bất chấp những khó khăn đó, ở tuổi đôi mươi, ông đã khẳng định được vị thế của mình. Chỉ từ năm 1206 đến 1209, Thành Cát Tư Hãn không những đã thống nhất được người Mông Cổ, mà còn thống nhất được hầu hết bộ lạc sinh sống ở miền Mạc Bắc.


Bia kỷ niệm Thành Cát Tư Hãn tại Hohhot (Hô Hòa Hạo Đặc), Nội Mông Cổ, Trung Quốc. (Ảnh từ wikipedia.org).

Quân Mông Cổ dù không đông, nhưng bằng tài cưỡi ngựa, bắn cung, chiến đấu dũng mãnh, lại có sự chỉ huy của Thành Cát Tư Hãn, đánh đâu thắng đấy, lập nên một đế quốc rộng lớn bậc nhất trong lịch sử.

Tiến đánh đại Kim

Theo nhiều nhà sử học, trận đánh lớn, kinh điển nhất trong cuộc đời binh nghiệp của vị Đại Hãn Mông Cổ chính là Dã Hổ Lĩnh. Đây là trận đánh giúp Thiết Mộc Chân chinh phục được nước Kim, đồng thời, mở toang cánh cửa để tiến quân vào nước Tống, tạo tiền đề để cháu ông là Hốt Tất Liệt thu phục hoàn toàn Trung Quốc sau này.

Sau khi hoàn tất việc thống nhất Mông Cổ, tham vọng tiếp theo của Thành Cát Tư Hãn chính là bành trướng ra bên ngoài và nước Kim lúc bấy giờ là một vật cản. Chưa kể, trước đây, Đại Kim luôn thúc ép Mông Cổ, bắt họ phải cống nộp nặng nề. Do đó, tấn công đất nước của bộ tộc Nữ Chân này chính là mũi tên trúng 2 đích của ông.

Trận chiến lịch sử này diễn ra từ tháng 3 đến tháng 10 năm 1211 tại Dã Hồ Lĩnh, gần phía tây bắc huyện Vạn Toàn, Trương Gia Khẩu, tỉnh Hà Bắc ngày nay. Sau trận Dã Hồ Lĩnh, quân nhà Kim nhanh chóng suy yếu và tàn lụi.


Lăng của Thành Cát Tư Hãn tại Ordos (Ngạc Nhĩ Đa Tư), Nội Mông Cổ, Trung Quốc. (Ảnh từ wikipedia.org).

Để tạo ra nguyên cớ chiến tranh, năm 1210, Thành Cát Tư Hãn sỉ nhục Hoàng Nhan Vĩnh Tế bằng cách công khai nói rằng hoàng đế triều Kim hèn nhát và không đủ tư cách thiên tử: “Hoàng đế phải là người nhà trời như ta mới phải”.

Hoàng Nhan Vĩnh Tế biết tin vô cùng giận dữ và ra lệnh xử tử sứ giả người Mông Cổ. Căng thẳng giữa hai bên bắt đầu leo thang.

Trước đây nước Kim đã xây dựng một tuyến phòng ngự kiên cố dài đến 300 km để ngăn quân Mông Cổ. Nhiều học giả ví đây như là “Vạn Lý Trường Thành của nhà Kim”. Khi quân Mông Cổ tiến sang, quân sư của nước Kim là Độc Cát Tư Trung dẫn 75 vạn quân đến phòng tuyến này ngăn quân Mông Cổ.

Quân Mông Cổ dưới sự chỉ huy của Thành Cát Tư Hãn vẫn tiến vào nước Kim. Đến tháng 6.1211, quân Mông Cổ vượt qua phòng tuyến Ô Sa Bảo, Độc Cát Tư Trung bị tử trận. Quân Mông Cổ nghỉ ngơi 1 tháng rồi tiến đến Dã Hồ Lĩnh.

Rút kinh nghiệm thua trận do dàn quân chia nhỏ để giữ các thành, quân nước Kim thay đổi chiến thuật tập trung quân đông lại để đối phó với quân Mông Cổ.

Trận Dã Hồ Lĩnh

Quân sư mới của nước Kim là Hoàn Nhan Thừa Dụ thống lĩnh quân nước Kim, lệnh cho dân ở Hằng Châu, Xương Châu, Phủ Châu di chuyển về Dã Hồ Lĩnh. Mục tiêu của ông ta là tận dụng địa hình núi non của Dã Hồ Lĩnh để ngăn bước kị binh Mông Cổ.

Quân Kim cũng tập trung 45 vạn quân chủ lực tại Dã Hồ Lĩnh, chia làm 2 cánh, cánh chính gồm 30 vạn quân trực tiếp đối mặt với quân Mông Cổ, cánh thứ 2 gồm 15 vạn quân sẵn sàng tiếp ứng.


Chân dung của Thành Cát Tư Hãn. Tranh vẽ trên lụa, lưu trữ tại Bảo tàng Cố cung Quốc lập tại Đài Loan. (Ảnh từ wikipedia.org).

Quân Mông Cổ chỉ có 9 vạn quân, so với quân Kim thì ít hơn rất nhiều. Tấn công vào Dã Hồ Lĩnh là trận đánh lớn nhất tính đến thời điểm đó của quân Mông Cổ.

Lúc này viên tướng thiện chiến của Mông Cổ là Mộc Hoa Lê liền hiến kế rằng trước tiên cần dùng quân cảm tử tấn công sâu vào trung quân đối phương, khiến quân Kim rối loạn. Sau đó các cánh quân khác mới chia đường tấn công.

Thành Cát Tư Hãn liền sai Mộc Hoa Lê dẫn đội quân Bát Lỗ Doanh tấn công vào trung quân. Dã Hồ Lĩnh núi non hiểm trở khiến quân Mông Cổ không sao phát huy được sức mạnh kỵ binh, nhiều nơi phải dắt bộ ngựa. Tuy nhiên quân Mông Cổ vẫn tiến đánh thẳng vào khu trại chính của Hoàn Nhan Thừa Dụ, khiến quân Kim hoảng loạn. Lúc này quân Mông Công mới chia các cánh tấn công thẳng vào.

Trước khí thế của quân Mông Cổ, quân Kim đại bại, 15 vạn quân thuộc cánh thứ 2 đến tiếp ứng nhưng trước tình thế quân Kim hoảng loạn thì cánh quân này cũng bỏ chạy.

Quân Kim đại bại, tướng Hoàn Nhan Cửu Cân cùng 30 vạn quân bị tử trận, xác quân Kim trải dài hàng trăm dặm.

Quân Kim tập trung toàn bộ quân chủ lực, cũng như quân tinh nhuệ cho trận đánh này, vì thế khi mất đi đội quân chủ lực, nước Kim không còn đủ sức đương đầu với Mông Cổ. Các trận đánh sau này quân Kim dễ dàng bị đánh bại, nước Kim rơi vào tay Mông Cổ.

Theo Khám phá

============  Đọc thêm : Nhà Kim xuất hiện. Khiết Đan (Đại Liêu – 907/916-1125), vương triều mất tích

Nhà Liêu hay triều Liêu (907/916-1125), còn gọi là nước Khiết Đan, vận nước kéo dài từ năm 907 đến năm 1218, dài 331 năm, đối kháng kéo dài với triều Tống ở phía nam.

Ngày 27 tháng 2 năm 907, thủ lĩnh tộc Khiết Đan là Gia Luật A Bảo Cơ xưng là "Thiên hoàng đế", đến ngày 17 tháng 3 năm 916 thì Gia Luật A Bảo Cơ đăng cơ, xưng là "Đại Thánh Đại Minh Thiên hoàng đế", quốc hiệu là "Khiết Đan".

Khiết Đan – vương triều mất tích

Một vương triều bị mất tích, một giai đoạn lịch sử ngủ vùi, một dân tộc bị tiêu vong. Khiết Đan thần bí và xa vời như văn tự của họ.
Ngày 21-6-1922, Kervan, nhà truyền giáo Bỉ, tới huyện Batingue Nội Mông (Trung Quốc) giảng đạo. Ông được tín đồ dẫn tới xem một ngôi một cổ bị bọn trộm đào tanh bành. Ông phát hiện một tấm bia đá khắc chi chít ký hiệu tựa như văn tự rất kỳ lạ mà dân địa phương gọi là thiên thư (sách trời).

Sự bí ẩn của thiên thư

Theo khảo chứng, đây là mộ của một người Khiết Đan qua đời khoảng 900 năm trước. Những ký hiệu kỳ lạ kia trong sách trời có phải là chữ viết của người Khiết Đan xưa không?

Người lính Khiết Đan thời Gia Luật Hồng Cơ

Sử sách ghi tộc người Khiết Đan dựng nên nước Liêu năm 907, từng sáng tạo nên chữ viết Khiết Đan. Nhưng khoảng 900 năm về trước, chữ viết Khiết Đan đã thất truyền, người đời sau dẫu có nhìn thấy cũng không thể đọc được. Các chuyên gia suy đoán: Sách trời chính là văn tự Khiết Đan đã chôn vùi nhiều trăm năm. Từ đó về sau, trong cương vực của nước Liêu rộng mênh mông, người ta thi thoảng lại thăm dò, khai quật, phát lộ được nhiều văn tự và văn vật lịch sử của tộc người Khiết Đan.

Năm 1986, tại thành phố Thông Liêu thuộc khu tự trị Nội Mông, người ta phát hiện một ngôi mộ cổ hợp táng công chúa và phò mã Khiết Đan. Đây là ngôi mộ có nhiều văn vật tùy táng có giá trị nhất cho tới ngày nay. Hình thức chôn cất cùng các đồ tùy táng cho thấy người Khiết Đan chịu ảnh hưởng khá nhiều văn hóa của người Hán vùng Trung Nguyên.

Tuy hài cốt trong mộ đã tiêu tan, nhưng qua tấm lưới đan bằng sợi bạc cực mảnh và lá vàng mỏng rộng đắp mặt tử thi cho thấy nhân thân cao sang của chủ nhân ngôi mộ sinh thời. Những đồ tùy táng từ vàng bạc, ngọc ngà, đá quý cho tới đồ dùng sinh hoạt bằng gốm, gỗ quý đều được chế tác cực kỳ tinh xảo, thể hiện trình độ thủ công mỹ nghệ đương thời thật siêu việt.

Vương triều Khiết Đan

Khiết Đan (Qidan) nguyên nghĩa là “Thép gió”, hàm ý cực kỳ rắn chắc, bền vững. Đây là một dân tộc thượng võ, dũng mãnh. Từ hơn 1.400 năm trước, Khiết Đan là dân tộc miền Bắc Trung Quốc đã xuất hiện trong Ngụy thư. Họ binh hùng tướng mạnh, kiêu dũng thiện chiến. Một thủ lĩnh bộ lạc tên là Yelii Abaoji (Gia Luật A Bao Cơ) thống nhất các bộ lạc Khiết Đan. Năm 916, ông dựng nên nước Khiết Đan, tới năm 947 đổi quốc hiệu là Đại Liêu.

Trong thời kỳ cường thịnh nhất, vương triều Đại Liêu từng chiếm một nửa giang sơn Trung Quốc. Cương vực của họ rộng mênh mông: Bắc tới tận hồ Baikal, ngoài Đại Hưng An; Đông sát Sakhalin; Tây vượt dãy Altai; Nam tới Hà Bắc và phía Bắc tỉnh Sơn Tây ngày nay. Có thể nói họ là bá vương một cõi.

Vương triều Khiết Đan quốc hiệu Đại Liêu hùng cứ tại miền Bắc Trung Quốc kéo dài hơn 200 năm, với triều Bắc Tống hình thành cục diện đối địch. Trong thời kỳ này, con đường tơ lụa thông thương từ Trung Quốc sang phương Tây bị cắt đứt, dẫn tới các quốc gia vùng lục địa Á Âu tưởng nhầm là toàn bộ đất nước Trung Quốc đều đã nằm dưới sự thống trị của tộc người Khiết Đan. Thế là Khiết Đan bỗng trở thành từ đại diện cho Trung Quốc.

Marco Polo lần đầu tiên viết trong cuốn du ký của mình giới thiệu phương Đông với thế giới phương Tây, đã lấy Khiết Đan đặt tên cho Trung Quốc. Tới tận ngày nay, các nước nói tiếng Slave vẫn gọi Trung Quốc là Khiết Đan (Kitan hay Kitai).

Dân tộc Khiết Đan tạo nên một vương quốc quân sự hùng mạnh và một nền văn hóa rực rỡ. Chùa Liêu và tháp Liêu thể hiện trình độ văn minh của họ. Tới nay, các chùa và tháp cổ được bảo tồn tại phía bờ Bắc sông Hoàng Hà. Các công trình đều nguy nga hùng vĩ, qua ngàn năm vẫn trơ gan trước băng tuyết gió mưa.

Tháp Thích Ca tại huyện Ứng, tỉnh Sơn Tây là kiến trúc kiểu tháp kết cấu gỗ xưa nhất, cao nhất trên toàn thế giới, từng trải qua mấy trận động đất mà vẫn không bị hư hỏng. Một dân tộc sáng tạo nên nền văn minh rực rỡ như vậy thì nhất định phải có một cơ sở kinh tế và một sức mạnh kỹ thuật hùng hậu.

Cũng có thể thấy rõ vương triều Khiết Đan tiếp thu mọi điều hay dở. Ngoài việc thu nhận một số lượng rất đông nhân tài Hán tộc Trung Nguyên ra, họ còn thông qua buôn bán với triều Tống mà thu nhận, học hỏi nhiều kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Khiết Đan rõ ràng là đã khai sáng một thời đại phồn hoa tại miền Bắc Trung Quốc.

Đại Liêu diệt vong

Theo ghi chép thì Đại Liêu đối đầu với Bắc Tống hơn 160 năm. Cuối cùng, nước tiêu diệt Đại Liêu lại là tộc người Nữ Chân (Niizhen) từng phụ thuộc tộc người Khiết Đan.

Thủ lĩnh của tộc người Nữ Chân là Wanyan Aguda (Hoàn Nhan A Cốt Đả) dẫn đại quân công thành cướp đất Đại Liêu. Khi đất chiếm đã đủ rộng, dân đinh đã tương đối nhiều, A Cốt Đả liền dựng nên nhà Kim năm 1115. Mười năm sau, nhà Kim thay thế vương triều Khiết Đan.

Một bộ phận người Khiết Đan may mắn sống sót tập hợp các thành viên hoàng gia di tản về phía Tây, dựng nên triều Tây Liêu tại vùng Tân Cương. Họ lập nước Ha Lạt Khiết Đan (Hala Qidan). Đế quốc này một thời cường thịnh nhưng cuối cùng lại bị đại quân của Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan) tiêu diệt. Về sau, thế lực tàn dư Khiết Đan dạt tới miền Nam Iran ngày nay và dựng nên vương triều Qierman. Không lâu sau, vương triều này cũng tàn lụi.

Trong lãnh thổ Trung Quốc, từ khi có vương triều Khiết Đan (916) đến khi có vương triều Nguyên (1271), chỉ hơn 300 năm đã liên tiếp xuất hiện các triều Đại Liêu, Bắc Tống, Tây Hạ, Kim, Nam Tống và Nguyên… Đây là một thời kỳ hết sức đặc biệt bởi kẻ thống trị giành được thiên hạ lần lượt thuộc về các dân tộc khác nhau.

Vì vậy, sự hưng suy của vương triều cũng dẫn tới địa vị của cả dân tộc. Nền văn hóa tương quan cũng xảy ra sự chuyển đổi. Triều Kim của người Nữ Chân sau khi dành được thiên hạ của người Khiết Đan từng hạ lệnh thanh trừng triệt để đám người Khiết Đan phản kháng. Sử sách cho thấy có một đợt tàn sát hàng loạt kéo dài tới hơn một tháng ròng. Rất có thể là nền văn hóa Khiết Đan cũng bị loại bỏ trong thời kỳ này.

Triều Kim khi mới tạo dựng vẫn chưa có chữ viết riêng của dân tộc mình, phải mượn chữ Hán để cải thành chữ Kim. Hoàng đế Kim chính thức hạ chiếu loại bỏ hẳn chữ Khiết Đan và có thể vì lẽ đó mà chữ viết Khiết Đan bị thất truyền.

Hậu duệ của người Khiết Đan

Khiết Đan là một dân tộc lớn nhưng lại không có tên trong số 56 dân tộc Trung Quốc ngày nay. Khi người ta chăm chú lần tìm chứng cứ về tộc người Khiết Đan, thì tộc người Dawr cư trú tại vùng tiếp giáp giữa Đại Hưng An, Nộn Giang và đồng cỏ Hulunbeier đặc biệt thu hút sự chú ý của mọi người.

Truyền thuyết vùng này kể rằng hồi gần ngàn năm về trước, một đơn vị quân đội Khiết Đan được điều động tới đây xây thành đắp lũy phòng ngự biên ải. Họ định cư luôn tại đây. Người chỉ huy cao nhất dẫn đầu toán quân biên phòng này tên là Sagil Dihan, chính là tổ tiên của tộc người Dawr, một cộng đồng người dân tộc thiểu số Dawr của Trung Quốc hiện nay.

So sánh phương thức sản xuất, sinh hoạt, tập tục, tôn giáo, ngôn ngữ, lịch sử giữa tộc người Khiết Đan và Dawr, các học giả đã tìm thấy một lượng lớn chứng cứ cho thấy Dawr là dân tộc kế thừa nhiều nhất truyền thống của người Khiết Đan. Nhưng đây chỉ mới là những chứng cứ gián tiếp, mang tính tham khảo chứ chưa thể khẳng định.

Các nhà khoa học quyết định nghiên cứu kỹ thuật ADN để vén sự bí ẩn. Họ lấy và đối chiếu ADN xương ống tay được cho là thuộc tử thi của một người đàn bà Khiết Đan thu được tại vùng Lạc Sơn, tỉnh Tứ Xuyên; răng và xương hộp sọ của người Khiết Đan xưa phát hiện được khi khai quật một ngôi mộ cổ tại Xích Phong thuộc khu tự trị Nội Mông và mẫu máu của người Dawr. Cuối cùng, họ rút ra được kết luận: Tộc người Dawr có quan hệ di truyền gần nhất với tộc người Khiết Đan. Họ là hậu duệ của người Khiết Đan.

Các nhà sử học cuối cùng đã tìm ra được điều cần tìm về tộc người Khiết Đan. Người Mông Cổ dưới sự lãnh đạo của Thành Cát Tư Hãn thiết lập nên đế quốc Mông Cổ vắt ngang qua đại lục Âu Á, chinh phạt khắp nơi, hao người nên liên tiếp bắt lính để bù vào. Thanh niên trai tráng thiện chiến Khiết Đan buộc phải ra trận, phân tán khắp nơi, có vùng duy trì được cộng đồng người tương đối đông, ví như cộng đồng tộc người Dawr. Cũng có nhóm người nhanh chóng bị dân cư địa phương đồng hóa, tức là những hậu duệ người Khiết Đan mai danh ẩn tích.

Nhà Kim hay triều Kim (1115-1234) là một triều đại do người Nữ Chân gây dựng. Người Nữ Chân nguyên là phiên thuộc của triều Liêu, thủ lĩnh Hoàn Nhan A Cốt Đả sau khi thống nhất các bộ lạc Nữ Chân, vào năm 1115 dựng nước đặt đô tại Hội Ninh phủ (nay thuộc A Thành, Hắc Long Giang), quốc hiệu là Đại Kim. Sau khi triều Kim lập quốc, cùng Bắc Tống định "Liên minh trên biển" nhằm giáp công Liêu, đến năm 1125 thì Kim diệt Liêu. Bắc Tống tiến đánh Liêu hai lần song đều thua, Kim thấy vậy liền xé bỏ hẹn ước với Bắc Tống, hai lần nam hạ Trung Nguyên, đến năm 1127 thì tiêu diệt Bắc Tống. Khi dời đô đến Trung Đô (nay thuộc Bắc Kinh), lãnh thổ Kim bao trùm Hoa Bắc, cùng khu vực Hoa Trung ở phía bắc Tần Lĩnh-Hoài Hà, khiến cho Tây Hạ cùng các bộ lạc Mạc Bắc như Tháp Tháp Nhi, Khắc Liệt phải thần phục, Nam Tống phải nhận là nước cháu (Tống gọi Kim là nước chú), xưng bá tại Đông Á.

Bản đồ mô tả việc Kim diệt Liêu và Bắc Tống

Tổng hợp

 

 

 

Share this: