Hơn 2 thập kỷ qua, các tổ chức đã cho thấy một sự thay đổi cơ bản trong phong cách quản lý. Vai trò của tổ chức đã trở nên hướng tới khách hàng hơn. Điều này đã dấn đến các cá nhân có nhiều quyền tự chủ hơn, thậm chí ở mức khá thấp trong các tổ chức. Điều này tạo ra nền văn hóa tổ chức ít độc đoán hơn với một vài cấp quản lý. Bản chất của các tổ chức này đã cho phép phát triển kỹ năng xã hội.

Trí tuệ cảm xúc (hay còn gọi  trí thông minh cảm xúc) có thể viết tắt là EI (Emotional Intelligence)  hay thường dùng chữ EQ (Emotional Quotient).

Các nhà tâm lý học Salovey và Mayer ban đầu đặt ra thuật ngữ “Trí tuệ cảm xác” vào năm 1990. Tuy nhiên Daniel Goleman phổ biến nó vào năm 1995 trong tiêu đề của cuốn sách bán chạy nhất của ông, “Emotional Intelligence: Why it can Matter More than IQ.” [Cuốn sách của Daniel Goleman tái bản thứ 10 – 2018 – sách đọc: Emotional Intelligence, 10th Edition]

 

“Sự hiểu biết về cảm xúc riêng của mỗi người, sự đồng cảm với cảm xúc của người khác và các qui tắc của cảm xúc theo một cách nâng cao đời sống”

Điều gì đã khiến cuốn sách này phổ biến, chính là:

Thứ nhất Trí tuệ cảm xúc có thể quan trọng hơn với sự thành công cá nhân hơn chỉ số IQ.
Thứ 2 Không giống IQ, trí tuệ cảm xúc có thể được cải thiện.
Hai tuyên bố gây được tiếng vang với mọi người và biến các ý tưởng của trí tuệ cảm xúc là một chủ đề nóng cho bất cứ ai có liên quan tới sự phát triển cá nhân.

Trong khi cuốn sách đầu tiên của Goleman làm một trường hợp thuyết phục cho tầm quan trọng của lý thuyết trí tuệ cảm xúc (EQ-Emotional Quotient), không có định nghĩa thực tế áp dụng nó vào các tình huống quản lý. Trong cuốn sách này ông đã xác định 5 khía cạnh của EQ:

1) Biết được cảm xúc của bạn
2) Quản lý cảm xúc của riêng bạn
3) Tạo động lực cho bản thân
4) Nhận biết và hiểu được cảm xúc người khác
5) Quản lý các mối quan hệ
(Ví dụ: Quản lýcảm xúc người khác)


Trong nghiên cứu với trí tuệ quản xúc, cuốn sách thứ 2 của mình, ông khám phá hiệu xuất làm việc của chúng ta liên quan tới cách chúng ta xử lý với những người khác và điều khiển chính chúng ta.

Từ năm 1995, nhiều cuốn sách kinh doanh viết về trí tuệ cảm xúc tại nơi làm việc và hầu hết các tác giả đã sử dụng mô hình Goleman. Trong khi có một số thỏa thuận chung giữa Goleman và các tác giả và các nhà nghiên cứu khác:

Có một số bất đồng khá cơ bản. Đây không phải điều đáng ngạc nhiên trong một khu vực tương đối non nớt về tâm lý học, là một lĩnh vực có rất nhiều uy tín và lợi ích tài chính liên kết với nó.

Để trở thành một nhà quản lý thành công bạn cần có sự hiểu biết tốt về trí tuệ cảm xúc, làm thế nào để phát triển EI của riêng bạn và làm thế nào để sử dụng nó đạt được mục tiêu của bạn.

 

5 lĩnh vực của mô hình EQ của Goleman đã trở thành tiêu chuẩn trên thực tế để sử dụng trí tuệ cảm xúc nơi làm việc. 

 

1) Năng lực cá nhân

Khu vực năng lực này có liên quan tới 3 trong 5 khía cạnh của Golman, được chia thành 2 góc phần tư: Tự nhận thức và tự quản lý.

Tự nhận thức – có nghĩa bạn hiểu cảm xúc của mình và đánh giá chính xác trạng thái cảm xúc của riêng bạn. Có 3 thành phần trong góc phần tư này: tự nhận thức, tự đánh giá chính xác, và sự tự tin. Tự đánh giá bao gồm hiểu rõ điểm mạnh và điểm yếu của riêng bạn. Đó cũng là về việc sẵn sàng khám phá chúng, cũng như suy nghĩ về chúng và thảo luận với người khác. Sự tự tin là khả năng biết chắc chắn bản thân vì vậy bạn được an toàn và tự tin trong bất kỳ tình huống nào.

Tự quản lý – xây dựng dựa trên sự hiểu biết đã đạt được với sự tự nhận thức và liên quan đến việc kiểm soát cảm xúc của bạn. Có thể được gọi là tự kiểm soát – nói cách khác làm thế nào bạn điều chỉnh để duy trì trạng thái cân bằng khi đối mặt với bất kỳ vấn đề hay sự khiêu khích nào bạn đối mặt. Nó nhìn nhận bạn mức độ tận tâm và đáng tin cậy của bạn, cũng như cách bạn tạo động lực cho bản thân, bao gồm cả việc bạn cam kết và sự lạc quan.

2) Năng lực xã hội

Khu vực năng lực xã hội này có liên quan tới 2 lĩnh vực còn lại của Goleman: nhận thức xã hội và kỹ năng xã hội. Chúng xem xét cách làm thế nào bạn quản lý các mối quan hệ với người khác, bao gồm cảm xúc của họ.

3) Nhận thức xã hội – bao gồm việc mở rộng nhận thức của bạn để chứa đựng cảm xúc người xung quanh. Bạn có thể cảm thông với người khác và nhận thức về cách bạn ảnh hưởng tới họ. Gồm khả năng đọc môi trường cảm xúc và mối quan hệ quyền lực bạn gặp phải với vai trò của mình.

4) Quản lý mối quan hệ –  có nghĩa là sử dụng nhận thức về cảm xúc của chính bạn và những người khác để xây dựng mối quan hệ mạnh mẽ. Bao gồm việc xác định, phân tích và quản lý các mối quan hệ với những người bên trong và bên ngoài nhóm, cũng như sự phát triển của họ thông qua phản hồi và sự huấn luyện. Nó cũng kết hợp khả năng giao tiếp, thuyết phục và dẫn dắt người khác, bằng cách trực tiếp và trung thực chứ không xa lánh mọi người.

Trước khi khám phá các mô hình khác nhau được sử dụng để đo lường EQ, cần tìm hiểu thêm về nguồn gốc và hạn chế của khu vực tâm lý này.

3 Điểm chính

 

 

 

 

 

 

  •  
  • 1) Mô hình Goleman được sử dụng rộng rãi nhất khi thảo luận về EQ trong bối cảnh nơi làm việc. 
  • 2) Mô hình này mô tả EQ trong giới hạn 5 khía cạnh được chia thành 4 phần.
  • 3) Hai trong số các khía cạnh liên quan đến năng lực cá nhân và hai có liên quan đến năng lực xã hội.

Lợi ích của trí thông minh cảm xúc (EQ)


Trong bối cảnh công sở, trí thông minh giúp trang bị ba bộ kỹ năng quan trọng: Hiệu suất làm việc nổi bật, năng lực lãnh đạo xuất sắc và khả năng tạo ra các điều kiện cho hạnh phúc.

a. Hiệu suất làm việc nổi bật
Các nghiên cứu đã cho thấy năng lực cảm xúc quan trọng gấp đôi chuyên môn và kiến thức thuần túy trong việc tạo ra sự hoàn hảo.

Theo một nghiên cứu thì 6 năng lực đứng đầu giúp phân biệt những người làm việc hiệu suất cao với những người làm việc bình thường trong khu vực kỹ thuật là:

1)Khát khao đạt được thành tựu và tiêu chuẩn thành tựu cao
2)Khả năng gây ảnh hưởng
3)Tư duy khái niệm
4)Khả năng phân tích
5)Chủ động chấp nhận thử thách
6)Tự tin

Trong 6 năng lực này, chỉ có hai năng lực (Khả năng phân tích và tư duy khái niệm) là những năng lực thuộc về trí thông minh thuần túy.

4 năng lực kia, kể cả hai năng lực đứng đầu là năng lực thuộc về trí thông minh cảm xúc (EQ)

Trí thông minh cảm xúc cao có thể giúp cho bất kỳ ai trở nên xuất sắc trong công việc, thậm chí cả kỹ sư.

b. Năng lực lãnh đạo xuất sắc
Daniel Goleman đã nêu ra một phân tích cho thấy năng lực cảm xúc chiếm từ 80 đến 100% những năng lực đặc trưng của những nhà lãnh đạo xuất sắc.

Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi chuyên gia lãnh đạo Wallace Bachman cho thấy:

Những Trung tá Hải quân Mỹ nổi bật thường “Tích cực hơn, cởi mở hơn, biểu cảm hơn, ấn tượng hơn, ấm áp hơn, hòa đồng hơn(bao gồm cả cười nhiều hơn), thân thiện hơn, dân chủ hơn, hợp tác hơn, dễ thương hơn, ở cạnh vui hơn, khen nhiều hơn, đáng tin cậy hơn và thậm chí nhẹ nhàng hơn những người chỉ ở mức trung bình”

Khi nghĩ về những lãnh đạo trong quân đội, tôi nghĩ họ là những người cứng rắn thích hét vang quân lệnh và muốn được tuân lệnh, vì vậy, tôi thấy thật thú vị khi biết trong môi trường quân đội, thứ phân biệt nhà lãnh đạo tốt nhất với những người chỉ ở mức trung bình cũng là trí thông minh cảm xúc.

Những trung tá quân đội giỏi nhất về cơ bản à những người tốt và ở cạnh rất vui. Một điều khá hài hước là tên nghiên cứu của Bachman là “Người tốt về đích trước

c. Khả năng tạo ra các điều kiện cho hạnh phúc
Có lẽ điều quan trọng nhất là trí thông minh cảm xúc (EQ) đem lại các kỹ năng giúp chúng ta tạo ra các điều kiện cho hạnh phúc lâu dài của mình.

Matthieu Ricard – Người được mệnh danh là người hạnh phúc nhất thế giới khi một nghiên cứu đo chỉ số não bộ, chỉ số của ông vượt qua ngưỡng đo được của máy.

Ông định nghĩa hạnh phúc là “Một cảm giác viên mãn sâu sắc xuất phát từ một cái tâm lành mạnh tuyệt vời… không phải là một cảm giác vui vẻ đơn thuần, một cảm xúc thoáng qua, hay một tâm trạng, mà là trạng thái hiện hữu trọn vẹn”

Và trạng thái hiện hữu trọn vẹn đó là “Sự cân bằng cảm xúc sâu sắc được đạt đến thông qua việc am hiểu tinh tế cách hoạt động của tâm”.

Theo kinh nghiệm của Mathieu, hạnh phúc là một kỹ năng có thể rèn luyện được. Việc rèn luyện đó bắt đầu bằng sự nhận thức sâu sắc tâm trí, cảm xúc và kinh nghiệm của chúng ta về hiện tượng.

Sau đó, nó sẽ tạo điều kiện cho những phương pháp giúp tối đa hóa hạnh phúc bên trong của chúng ta ở một mức độ sâu rồi cuối cùng tạo ra hạnh phúc lâu dài.

3. Làm sao để tăng cường trí thông minh cảm xúc (EQ)?

6 bước cơ bản giúp tăng cường trí thông minh cảm xúc (EQ)

1)Thiền định: Không chỉ là phương pháp để rèn luyện trí thông minh cảm xúc tốt nhất. Thiền định còn đem lại rất nhiều lợi ích cho sức khỏe và trí tuệ.

Một nghiên cứu của ĐH Harvard tại Bệnh viện tổng hợp Massachusetts đã cho ra kết quả đáng kinh ngạc về hiệu quả hữu hình của thiền định lên cấu trúc não người. Chỉ sau 8 tuần tập luyện thiền định, kết quả chụp MRI cho thấy chất xám trong não những tình nguyện viên đã tăng lên rõ rệt. Những người thành công trên thế giới cũng thiền định, bạn có thể tìm hiểu nhiều bài báo nói về Steve Jobs thiền định.v.v.

2) Biến sự tự lừa dối thành tự nhận thức bản thân

Chỉ số cảm xúc EQ bao gồm hai phần: nhận thức (cách chúng ta nhìn chính mình) và danh tiếng (cách những người khác nhìn chúng ta). Đối với hầu hết mọi người, sự khác biệt lớn giữa nhận thức và danh tiếng có thể khiến họ bỏ qua những phản hồi và đóng góp.

Nhận thức là tìm ra cái nhìn thực tế về điểm mạnh và điểm yếu của bản thân và những điểm mạnh, điểm yếu đó như thế nào so với người khác. Ví dụ, hầu hết mọi người đều đánh giá EQ của họ cao, nhưng chỉ số ít trong đó mới được đánh giá là có trí thông minh cảm xúc cao. Những phản hồi chính xác sẽ là công cụ giúp chúng ta tìm ra những điểm mù liên quan đến EQ, từ đó biến sự tự lừa dối thành sự tự nhận thức.


3. Nhìn nhận trên quan điểm của người khác

Không dễ dàng gì khi đứng trên quan điểm của người khác để nhìn nhận sự vật, sự việc, đặc biệt là khi chúng ta không có cách nào phân biệt rõ đâu là đúng, đâu là sai. Hãy thử tiếp cận theo một cách khác, đó là đánh giá và thừa nhận những điểm mạnh, điểm yếu cũng như niềm tin của các thành viên trong nhóm. Các cuộc thảo luận nhóm ngắn gọn nhưng thường xuyên sẽ dẫn đến sự hiểu biết thấu đáo hơn giữa các thành viên và làm thế nào để thúc đẩy ảnh hưởng đến người khác.

4. Khen ngợi để giải quyết

Những người thành công trong sự nghiệp có khuynh hướng khen ngợi để giải quyết. Những người được khen ngợi sẽ thường hợp tác hơn, thân thiện, tin tưởng và không ích kỷ. Việc chủ động, thường xuyên chia sẻ kiến thức và các nguồn lực mà không mong đợi nhận lại điều gì sẽ giúp cả bạn và đối phương cùng phát triển. Khen đúng và khen cụ thể.

5. Kiểm soát nóng giận

Niềm đam mê và sự nhiệt tình mãnh liệt có thể dễ dàng vượt qua giới hạn và áp lực khiến bạn căng thẳng và tức giận. Không ai thích một đứa trẻ khóc lóc. Và trong giới kinh doanh, những người dễ dàng thất vọng hoặc nản chí khi gặp vấn đề phát sinh bất ngờ được cho là không xứng đáng.

Bạn hãy suy nghĩ về những tình huống có thể kích thích cảm giác giận dữ hoặc thất vọng của mình. Ví dụ, nếu bạn thức dậy với một loạt email phiền toái, đừng phản hồi ngay lập tức, hãy dành thời gian để bình tĩnh lại. Tương tự như vậy, nếu ai đó đưa ra bình luận khó chịu về bạn trong cuộc họp, hãy kiểm soát cảm xúc và bình tĩnh lại.

Bạn không thể ngay lập tức biến từ Woody Allen thành Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhưng bạn có thể tránh những tình huống căng thẳng bằng cách tìm ra yếu tố gây ra nó. Điều này sẽ giúp bạn nhận thức được cảm xúc của mình và cả cảm xúc của người khác.

6. Hãy khiêm tốn

Đôi khi bạn có thể cảm thấy mình đang bị quản lý bởi một đứa trẻ 6 tuổi. Nhưng nếu bạn thường xuyên nghĩ “Tôi bị bao vây bởi những kẻ ngốc”, thì có thể hành vi tự tin của bạn sẽ bị coi là kiêu ngạo và không có khả năng nhận ra sai lầm.

Muốn thăng tiến trong một tổ chức đòi hỏi sự tự tin nhất định. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo vĩ đại lại là những người vô cùng khiêm tốn. Họ có sự cân bằng giữa sự quyết đoán và sự khiêm tốn, thể hiện khả năng tiếp nhận thông tin phản hồi và khả năng thừa nhận sai lầm của mình. Khi gặp khó khăn, các thành viên trong nhóm mong đợi sự tự tin từ nhà lãnh đạo, nhưng cũng mong muốn nhận được sự hỗ trợ và giảng dạy khiêm tốn để cải thiện tình hình.

(Tổng hợp và theo Nhà quản lý)

Share this: