Hán văn: Phú quí bần tiện hồ quan bát tự, tính tình ứng hồ ngũ hành. Thiện ác, nhân nghĩa lễ trí tín, tâm chi sở chủ; hỷ nộ ai lạc ái ố dục, tính chi sở dục.

Bình giải:
Muốn biết đời người giàu nghèo, sang hèn, thì ta quan sát phân tích nơi bát tự (hay tứ trụ) từ việc phân tích ngũ hành cường nhược ta có thể hiểu được tính tình của con người.
Thiện ác, nhân nghĩa lễ trí tín là biểu lộ tính cách từ trong tâm ra bên ngoài. Hỷ nộ ai lạc ố dục là những biểu hiện tình cảm từ nơi tính cách ra ngoài.
Vậy thông qua bát tự, và thông tin của ngũ hành ta có thể nhận định được tâm tình, tính cách của con người cụ thể hơn.

Mỗi một con người sinh ra đều có bát tự hay còn gọi là tứ trụ (ngày sinh, tháng sinh, năm sinh và giờ sinh. Điều quan trọng nhất là phải có ngày giờ Chính Xác để khi xem độ cao khá chính xác.

Muốn nắm tử bình (bát tự – tứ trụ), phải học Tự trụ nhập môn , nhất là âm dương ngũ hành để hiểu nguyên lý luận lá số.

1. Đọc và học cuốn Trần Viên Viên Tử bình nhập môn

hay

2. Đọc và học cuốn Tử bình nhập môn của Lâm Thế Đức http://thoi-nay.com/tnm/tu-tru-tu-binh-1-lam-the-duc/

Sau đây chiêm nghiệm Bát tự của Càn Long

Bát tự đặc biệt của Càn Long

 

Trong Bát tự có Mộc, liên tục thiêu đốt Hỏa, khiến Canh Kim được tôi luyện. Khi Hỏa quá mãnh liệt, có Tý Thủy và Ngọ Hỏa tương xung, có thể chế ngự nhiệt độ quá nóng. Nếu Kim mạnh biến thành Kim yếu, còn có Tân Kim đến chi viện. Vì vậy "có Mộc sinh Hỏa, Hỏa tôi luyện Kim, Kim sinh Thủy, Thủy lại sinh Mộc" hình thành dòng tuần hoàn liên tục không ngừng nghỉ, Hỏa mãnh liệt có Thủy đến khắc, Canh nhược có Tân bổ sung, toàn bộ Bát tự bổ sung lẫn nhau, trên dưới tương thông.

Càn Long đã xây dựng nên một triều đại thịnh trị nhất trong đời Thanh, ông thường xuyên vi hành xuống Giang Nam, để lại không biết bao nhiêu chuyện tình phong lưu trong dã sử. Đây cũng là một nhược điểm lớn của ông, đó là quá phong lưu háo sắc. Tý Ngọ Mão Dậu là mật mã tứ cực Đào hoa, cũng là mật mã của hoàng đế, điểm thú vị nhất của Bát tự này là có đầy đủ cả bốn nguồn sức mạnh ghê gớm "Tý Ngọ Mão Dậu". Hoàng đế Càn Long rất đào hoa, trong hậu cung có ba ngàn cung nữ cũng chưa thỏa mãn. Trong lịch sử cũng chỉ có duy nhất một vị hoàng đế vi hành xuống Giang Nam để tìm gái đẹp, chính là Càn Long.

Năm – Tháng – Ngày – Giờ

BÁt Tự Càn Long: Tân Mão – Đinh Dậu – Canh Ngọ – Bính Tý

Trong Bát tự của Càn Long không có Thổ, cũng không nên có Thổ, vì Thổ có thể sinh Kim, mệnh này là cường Kim, không cần Ấn. Điều này giải thích tại sao lại có bi kịch giết mẹ. Khi bản thân hoàng đế thân cường quá độ, lại có quá nhiều mẹ, sẽ dẫn tới chuyện cốt nhục tương tàn.

Đường Thái Tông Lý Thế Dân là Bát tự thân cường, vì vậy buộc phải loại bỏ tất cả Tỷ Kiếp bên cạnh, tức phải trừ bỏ anh em mới có thể làm nên nghiệp lớn. Bát tự của hoàng đế Càn Long nếu là của phụ nữ sẽ rất hung. Canh Kim thuộc mệnh cách hình khắc mang sát, nữ giới thuộc mệnh Canh Kim, Hỏa là phu cung (cung chồng), có thể là người phụ nữ xuất sắc. Nhưng toàn bộ Bát tự Đào hoa cực thịnh, nữ giới nhiều Đào hoa, thời xưa coi là thuộc mệnh thấp kém, thường lưu lạc thanh lâu. Mệnh cách mang sát lại nhiều Đào hoa, người phụ nữ này chắc chắn số khổ, cả đời mệt mỏi vì tình cảm, số phận gập ghềnh.

Càng suy ngẫm tôi càng cảm thấy những lời bình luận của người xưa quả thực là chính xác và sâu sắc, thể hiện một trình độ cao siêu. Tứ Trụ này thuộc loại cách cục đặc biệt hiểu theo nghĩa tuyệt vời, là một trong các cách cục đẹp nhất của môn Tử Bình.

Nói chung tuem đã giải thích rất sát với nghĩa của bài luận về vua Càn Long này nên tôi chỉ nói lại nghĩa của lời bình này theo đúng điều mà thongphanthiet yêu cầu.

1 – Mệnh này Thân vượng mà Quan cũng vượng nên tài phải nhược là hợp lý để Quan không thể thắng được Thân.

2 – Thân có 3 can chi (kể cả can ngày) còn nắm lệnh, nó đủ súc thắng Quan Sát cũng có 3 can chi nhưng không nắm lệnh, vì vậy dụng thần vẫn có thể lấy Quan (đại diện cho Quan liêm khiết, chính trực…) Đinh ở trụ tháng, thì dĩ nhiên là quan to mà là Quan quân tử rồi.

3 – Mặc dù Tài Mão đóng ở trụ năm là của cải của ông cha nhược nhưng có Tý Thủy được lệnh không bị thương tổn hóa Kim vượng sinh cho nên nguồn của cải dồi dào.

4 – Tứ trụ này không còn là Quan Sát hỗn tạp bởi vì Sát Bính tử tuyệt ở lệnh tháng mà bị Tý được lệnh không bị thương tổn (vì mặc dù Tý thiên khắc địa xung gần với Ngọ trụ ngày nhưng Bính vượng còn Ngọ tử tuyệt) khắc trực tiếp (cùng trụ). Do vậy Sát đã biến thành Quan giúp vua (từ tiểu nhân thành quân tử).

5 – Quan (Đinh) và Ấn (Kỷ tàng trong Ngọ) tương sinh còn có Kình Dương (Dậu) thì không gì là không quý hiển.

6 – Trụ năm Tân Mão thiên khắc địa xung với trụ tháng Đinh Dậu, trụ ngày Canh Ngọ thiên khắc địa xung với trụ giờ Bính Tý đều gần nhau (lực rất mạnh) mà Tý Ngọ Mão Dậu là chủ về bốn phương tám hướng cho nên ông ta luôn luôn thâu tóm được thiên hạ.

7 – Thân (Canh Kim) vượng được Hỏa (Đinh) đủ mạnh tôi sẽ trở thành vũ khí (kiếm) để cai trị thiên hạ, nó còn đại diện cho người quân tử có nghĩa khí.

Tất cả các thông tin này đã trở thành sự thực bởi vì các can chi ở đây đứng đúng vị trị đẹp nhất có thể có của môn Tử Bình như :

– Đinh là Quan (quân tử) được lệnh đóng đúng trụ tháng chế ngự gần và trực tiếp Nhật can (Canh) và tỷ kiếp (Tân và Dậu) để cho Thân không quá vượng mục đích bảo vệ Tài (Mão Mộc). Đinh coi như không bị thương tổn bởi vì nó chỉ bị Tý khắc cách 2 ngôi.

– Tý được lệnh chế ngự Sát Bính (tiểu nhân) trực tiếp và Ngọ gần, mục đích bảo vệ Thân (tức làm Quan Sát không quá vượng để thắng Thân). Tý không bị thương tổn bởi vì không có Thổ, còn Ngọ gần nhưng ở tử tuyệt.

(Giả dụ chỉ cần Tý vượng chế ngự Quan là Bính thì mọi điều sẽ khác ngay).“

 

Tổng hợp

Share this: