Chương 7
NHẬT NGUYÊN CỦA TỨ TRỤ và 10 THẦN
NHẬT NGUYÊN

Can ngày cường vượng
Can ngày suy nhược
Thâm cứu
10 THẦN

Ứng dụng của VS của Can Ngày : tìm Dụng thần
Một ví dụ quan trọng trong lý luận tìm DT
Can ngày (là TA, là Thân, là Nhật nguyên, là Mệnh chủ) và các Can-Chi khác tương tác
tạo thành một hệ thống, đó là cơ sở của khoa đoán mệnh TỬ BÌNH. Do đó ta sẽ lần lượt
nghiên cứu kỹ vai trò cuả Can Ngày, và các cơ sở này (10 thần).
I- NHẬT NGUYÊN
Can Ngày là chủ của cả đời người, là mảnh đất cát hung họa phúc của cả cuộc đời. Do
đó sự sinh, vượng, hưu tù, suy, nhược của nó quan hệ đến vận mệnh tiền đồ suốt cả
cuộc đời .
– Nếu sinh vượng : giống như thân thể khoẻ mạnh, có thể thắng của cải, đề
kháng sự sát hại, bảo vệ được lục thân, thông minh, tháo vát, nuôi dưỡng được gia
đình, gặp việc phần nhiều biến hung thành cát.
– Nếu suy nhược, hưu tù : giống như người yếu, bệnh nhiều, tinh thần bạc
nhược, không thể lấy thân che của; chắc chắn là xấu nhiều tốt ít, việc gì cũng không
thành.
– Nếu trung hoà là quý, mạnh thì tốt, yếu thì xấu.
– Nhưng nếu Vượng quá hoặc yếu quá : xấu nhiều hơn.
Ðã đành nguyên lý là như vậy, nhưng muốn xác định thế nào là Thân vượng hay Thân nhược không phải
việc dễ dàng !
Cách xác định Sự mạnh yếu của CAN ngày (TA) :
Then chốt của phương pháp dự đoán mệnh theo tứ trụ là phải xác định được nhật chủ
(Can ngày) vượng hay nhược, rôì nhờ đó ta mới xác định được DT, hỷ thần, kỵ thần.
Ðược 3 yếu tố này, nhất là DT, ta mới có thể kết hợp với vận trình để phán xét các vận

là tốt, xấu, hay bình thường ; tức là những điểm chính yếu (mạch chính) của một mệnh,
trước khi đi vào chi tiết rườm rà.
Khi đã nắm được mạch chính rồi thì bạn có thể giải đoán mệnh mà không sợ sai; còn nếu không nắm
vững được VS thì vận lúc nào tốt, lúc nào xấu cũng không biết; dù bạn có nói đúng cũng chỉ là may mắn
"chó ngáp táp phải ruồi" mà thôi . OK ?
1) Can ngày cường vượng , tức là :
– được lệnh : can ngày vượng khi chi tháng rơi vào TS, MD, QD, LQ, ÐV.
Có sách dùng VTHT : lấy hành của LT (chi tháng) so với hành CAN ngày.
Được lệnh còn gọi là được thời, đắc thời;
– được đất (đắc địa) : nếu Can Ngày
Q1-ch7-nhatnguyen 1 02/01/2005
* được các chi năm, tháng, giờ đến sinh (được lộc);
* can ngày (+) gặp được các chi còn lại (aa,jj,hh) TS ;
* can ngày gặp lộc, KD : khí gốc can tàng trong chi ngày là tỉ hay kiếp ;
* can ngày gặp mộ kho (can dương thì có gốc, can âm vô khí là không có
gốc);
– được sinh : được ấn thụ (trên Can, Chi) đến sinh;
– được trợ giúp : gặp tỉ kiếp trên Can.
Được sinh, được trợ giúp (phù) còn gọi là được thế;
các từ được thời, được thế, đắc địa nghe giống như đi hành quân. Mà quả vậy, mệnh lý chẳng qua là một
trận chiến giữa các "phe phái ngũ hành" mà thôi.
2) Can ngày suy nhược , tức là :
– mất lệnh : hưu tù ở chi tháng;
– mất đất : hưu tù ở các chi năm, ngày, giờ.
– không có trợ giúp : suy nhược, lại không có tỉ, kiếp, củng lộc, kình dương;
– không được sinh : không gặp ấn thụ

– bị khắc vô sinh : quan sát nặng quá;
– suy nhược : thực thương nhiều quá, can ngày bị hao tổn ;
đã vậy, nếu can ngày còn bị hình , xung , khắc , phá thì càng yếu thêm.
3) Thâm cứu cách xác định sự VS của CAN NGÀY :
(để tiện trình bày, tôi dùng những chữ viết tắt : VV – Vượng; RV : rất vượng; QV : quá vượng;
TV : thân vượng; TN : Thân nhược; BHợp : Bán hợp; BHội : Bán Hội; ĐS : được sinh; ĐĐ : đắc
điạ; ĐG : được trợ giúp)
1- Nếu được lệnh :
1.1- nếu ÐS hay ÐÐ hay ÐG (được 1 trong 3) thì : VV ;
1.2- nếu được 2 cái trong 3 thì : RV ;
1.3- nếu được cả 3 thì : QV ;
2- Nếu không được lệnh :
2.1- nếu được 2 cái trở lên, những cái đó lại mạnh, giúp ích nhiêù
: VV hoặc RV ;
2.2- nếu được 1 trong 3 cái, nhưng THC hoặc THộiC là ấn cục hay tỉ cục
: VV ;
2.3- nếu chỉ được 2 cái , mà :
nếu 2 cái đó lực rất mạnh thì vẫn được xem là VV;
nếu có 1 ÐÐ mà trong đó thành phần TS, lộc, KD, mộ kho chiếm ít còn
thành phần địa chi khắc thân, làm hao tán, tiết khí thân nhiêù : can
ngày sẽ rơi vào tình trạng nửa nhược nửa vượng (cân bằng nhau),
không dễ quyết định V/S , do đó rất khó tìm DT, và vì thế vận nào tốt
hay xấu cũng khó mà đoán được.
Trong trường hợp đó :
2.3.1- nếu ngũ hành hợp hoá của thiên can hoặc ngũ hành hợp hoá của địa
chi sinh, trợ giúp thân : VV ;
Q1-ch7-nhatnguyen 2 02/01/2005
nếu ngũ hành hợp hoá của thiên can hoặc ngũ hành hợp hoá của địa
chi khắc chế , làm hao tán, tiết khí thân : TN ;
2.3.2- nếu BHợp cục hay BHội cục của địa chi là hành, sinh, trợ giúp ngũ hành
của thân : VV ;

nếu ngược lại : TN ;
2.3.3- nếu những khí khắc mình, làm hao tán, tiết khí mình ở vào nhược địa
(không ÐL), còn những khí sinh, trợ giúp mình ở vào vượng địa
: VV ;
nếu ngược lại : TN ;
2.3.4- nếu những can chi khắc mình, làm hao tán, tiết khí mình gặp xung,
hoặc bị chế phục, hoặc bị hợp mất, hoặc cách xa : VV ;
nếu ngược lại : TN ;
2.3.5- Ðối với thành phần các can chi "được sinh" , hay "được trợ giúp" nhiêù
hay ít cũng lý giải tương tự , ví dụ :
Can ngày Giáp "không được lệnh", nhưng "đắc địa" ở chi hợi, tý;
a) 4T có can Nhâm, Quý sinh cho Giáp là "được sinh";
Nhưng nếu các can chi khác gây bất lợi cho can ngày lại sinh cho nhau
nhiều hơn, và cái sinh cho can ngày lại ít hơn , thì ta phải so sánh mức độ
giữa bên sinh và bên khắc mới có thể kết luận là Thân nhược hay Thân
vượng.
b) 4T có các can Giáp (tỷ kiên), Ất (kiếp tài) là "được trợ giúp";
Ðể xem mức độ trợ giúp là bao nhiêu, ta phải xem nó bị hợp mất hay hợp
tăng , tức là cũng xem sự tăng, giảm để kết luận là Thân nhược hay Thân
vượng.
– Ví dụ về hợp mất : Can ngày Giáp, 4T có Ất và Canh; Ất – Canh hợp hoá Kim,
quay lại khắc Giáp mộc; chẳng những đã làm mất đi Ất mộc là cái trợ giúp mình, mà còn đẻ
ra cái khắc hại mình !
– Ví dụ về hợp tăng : Can ngày Canh, 4T có Ất ; Canh kim khắc Ất mộc nên lý ra
Canh bị tổn khí; nhưng vì Ất – Canh hợp hoá Kim, Kim của can ngày từ chỗ bị hao khí nay
trở thành được tăng cường;
Khi đã biết xác định thế nào là Thân vượng, thì lẽ tất nhiên, ngược lại là Thân nhược.
Nắm vững TN hay TV là khâu đầu tiên có tính then chốt nhất trong việc đoán mệnh.
Bạn phải nhất thiết nhớ kỹ. Nên đọc đi đọc lại mục này nhiều lần, và thực tập trên những 4T cụ thể.
Sự phức tạp của vấn đề là ở chỗ ngoài sự phán đoán can ngày đối với lệnh tháng ra, còn phụ
thuộc sự phán đoán tổng hợp về sức mạnh yếu , xa gần, sinh khắc, xung hợp, nhiều ít, tăng
giảm… của các can chi khác có chuẩn xác hay không.

Bản lĩnh đoán mệnh cao hay thấp, đoán việc đúng hay sai đêù dựa vào cơ sở này.
Q1-ch7-nhatnguyen 3 02/01/2005
II- 10 THẦN
Cách sắp xếp
Sinh khắc của 10 thần
vượng suy của 10 thần
chức năng của 10 thần
người và việc mà 10 thần đại biểu
tâm tính thể hiện qua 10 thần
Mỗi người có ngày giờ sinh ở trạng thái khác nhau của vũ trụ, nên được hưởng khí âm
dương bẩm sinh trong đục, vượng suy khác nhau, do đó có họa phúc, phú quý …tóm lại
là số mệnh khác nhau.
Phương pháp 4T lấy sự Vượng suy của can ngày sinh làm trung tâm ; những can chi
khác sẽ sinh khắc, phù trợ hay hạn chế can ngày theo sự sinh khắc chế hoá của ngũ
hành, cấu thành 1 hệ thống tượng trưng cho các đặc điểm của nhân sinh như Phú quý,
phúc hoạ … , và thông qua đó thể hiện trạng thái được chung kết lại của người đó trong
vũ trụ.
1) Cách sắp xếp 10 THẦN
Các CAN đọc theo thứ tự từ 1 đến 10, CAN số lẻ là dương (+), CAN số chẵn là âm (-);
bảng 10 can – âm dương – ngũ hành
số tt 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
CAN Giáp ất bính đinh mậu kỷ canh tân nhâm quý
+/- + – + – + – + – + –
hành mộc mộc hoả hoả thổ thổ kim kim thuỷ thuỷ

Nguyên tắc xác định 10 thần là phối Can ngày và các Can khác, dù là can các trụ, can
đại vận, can tiểu vận, can lưu niên, hay can tàng trong các địa chi của Tứ Trụ, đại vận .
Tất cả đều xoay quanh tương quan gữa TA (can ngày) và các CAN khác, xét về quan hệ
Âm Dương Chính,Thiên và ngũ hành sinh, khắc (khi nói sinh khắc là theo ngũ hành,
khi nói âm dương là theo 10 can; phải dùng cả hai mới định được 10 thần) :
– Dương phối với âm, hay âm phối với dương là Chính, vì đúng đạo âm dương;
– Dương phối với dương, hay âm phối với âm là Thiên, hay Phiến (không Chính), vì trái
đạo âm dương; để giản dị, chúng ta không dùng chữ Phiến.
Cùng ngũ hành với TA là chị em : Kiếp tài là Chính, Tỷ kiên (*) là Thiên; Cả hai gọi
tắt là Tỷ Kiếp (trong bốc phệ thì dùng từ Huynh đệ).
Tỷ kiếp phù trợ, giúp đỡ ta;
(*) ngang vai với TA, do đó có sách dịch là « ngang vai » ; nhưng tôi dùng từ Tỷ kiên, lý do là vì
mọi chữ đều là Hán Việt, bổng không rơi vào 1 chữ toàn Việt, lại rất khó cho việc gọi tắt).
Sinh TA là cha mẹ, ấn thụ : Chính ấn và Thiên ấn; Thiên ấn còn gọi là Kiêu thần,
hay Kiêu (trong bốc phệ thì dùng từ Phụ mẫu);
Cha mẹ sinh ta, làm cho ta thêm mạnh lên.
Q1-ch7-nhatnguyen 4 02/01/2005
TA sinh là Con cháu : Thương quan là Chính ; Thực thần là Thiên; Cả hai gọi tắt
là Thương Thực (Trong bốc phệ thì dùng từ Tử tôn);
Con cái làm hao mòn ta (làm ta bị tiết khí);
Khắc TA là Chính quan và Thiên quan ; Thiên quan còn gọi là Thất sát ;
Cả hai gọi tắt là Quan Sát (Trong bốc phệ thì dùng từ Quan quỉ) ;
Quan Sát cữơng chế ta, làm khổ ta, gây hoạ cho ta ;
TA khắc là Chính tài, Thiên Tài ; Cả hai gọi tắt là Tài.
(Trong bốc phệ thì dùng từ Thê tài);
Vợ ta hay Tiền tài đem lại khoái lạc, tiện nghi cho ta ; nhưng cũng làm hao tổn
tâm lực của ta.
Tổng kết lại trong một bảng để dễ nhớ khi lập bảng số, ta có các bảng sau đây
(xem trang bên).
Chúng ta đã biết :
Ngũ hành qui về tạng phủ thì cho ta biết về sức khỏe, bệnh tật ;
Can chi năm sinh nạp âm (nói nạp âm nghiã là theo 60 hoa giáp) cho ta đại mệnh, tức cũng là
một ngũ hành nào đó (ví dụ tích lịch hoả, đại hải thuỷ v..v..), nó cũng cho ta biết khái quát về mệnh của

một người, nghiã là giàu sang nghèo hèn, sức khỏe, bệnh tật, tính tình, nghề nghiệp, hôn nhân, tuy
không đầy đủ (bạn có thể tham khảo Tam Thế Diễn Cầm) ;
Thiên can , điạ chi cũng qui về nội ngũ hành hay ngoại ngũ hành , và cho ta biết những khiá cạnh
tương tự về nhân thể (nội ngũ hành : lục phủ ngũ tạng; ngoại ngũ hành : đầu, chân tay, v..v..);
Mỗi hành với các hành khác luôn luôn có những tương quan như sau : sinh ta, ta sinh ;
khắc ta, ta khắc, và ngang hoà với ta. Nếu kể 5 hành thì có tới 5 x 5 = 25 lần, rất phiền
phức. Do đó từ đời nhà Hán, Đổng trọng Thư đã nhân cách hoá thành :
sinh ta là phụ mẫu ;
ta sinh là tử tôn ;
khắc ta là quan quỉ ;
ta khắc là thê tài ;
ngang hoà với ta là huynh đệ ;
đó là khái niệm lục thân dùng trong Bốc Dịch (Bát quái).
dù cho hành nào cũng vậy, hiệu quả (vai trò) cuả lục thân cũng như nhau ; ví dụ :
hoả sinh thổ thì đối với thổ, hoả là phụ mẫu ;
kim sinh thuỷ thì đối với thuỷ, kim là phụ mẫu ;
phụ mẫu cũng có vai trò như nhau, nhưng thay vì 25 tổ hợp ta chỉ còn 5 ; Và trong
4T, vì Can có âm-dương nên có 5 x 2 = 10 thần, với cùng ý nghiã cuả lục thân.
10 thần là một cách nhìn khác của tương tác về ngũ hành , âm dương giữa can ngày và
các can khác, mỗi thần có chức năng riêng biệt , nó nhấn mạnh về đương sự, về người
thân (lục thân), về sự việc, nghề nghiệp, tính cách của người đó, và do đó chúng mới là
cơ sở cho khoa đoán mệnh Tử Bình. Ðó là trọng tâm của chương này, Vì thế, ta xét 10
thần cũng tương tự như xét ngũ hành, qua các mặt sinh, khắc, hợp :
Q1-ch7-nhatnguyen 5 02/01/2005
1) Cách sắp xếp 1 :
BẢNG SẮP XẾP 10 THẦN
(còn gọi là ÂM DƯƠNG THÔNG BIẾN BIỂU)
Lấy Can ngày trên 1 hàng của cột 1, phối với 1 Can khác trên 1 cột cuả hàng đầu bảng,
tìm tên Thần ở giao điểm của hàng và cột.
Can khác >
Can ngày v Giáp + ất – Bính + Đinh – mậu + kỷ – Canh + Tân – Nhâm + Quý –
Tỷ kiếp thực thương thiên Chính thiên chính Thiên chính
Giáp + Kiên tài thần quan tài tài quan quan ấn ấn
kiếp Tỷ thương thực Chính Thiên chính thiên Chính thiên
ất – tài kiên quan thần tài tài quan quan ấn ấn
thiên chính Tỷ kiếp thực thương Thiên chính thiên chính
Bính + ấn ấn kiên tài thần quan tài tài quan quan
chính thiên kiếp Tỷ thương thực Chính thiên chính thiên
Đinh – ấn ấn tài kiên quan thần tài tài quan quan
thiên chính Thiên thương Tỷ kiếp thực thương thiên chính
mậu + quan quan ấn quan kiên tài thần quan tài tài
chính thiên Chính Thiên kiếp Tỷ thương thực chính thiên
kỷ – quan quan ấn ấn tài kiên quan thần tài tài
thiên chính thiên chính Thiên Chính Tỷ kiếp thực thương
Canh + tài tài quan quan ấn ấn kiên tài thần quan
chính thiên chính thiên chính thiên kiếp Tỷ thương thực
Tân – tài tài quan quan ấn ấn tài kiên quan thần

thực thương thiên chính thiên chính thiên chính Tỷ kiếp
Nhâm + thần quan tài tài quan quan ấn ấn kiên tài
thương thực chính thiên chính thiên chính thiên kiếp Tỷ
Quý – quan thần tài tài quan quan ấn ấn tài kiên
Q1-ch7-nhatnguyen 6 02/01/2005
2) Cách sắp xếp 2 :
BẢNG SẮP XẾP 10 THẦN
(còn gọi là ÂM DƯƠNG THÔNG BIẾN BIỂU)
lấy Can Ngày trong 1 hàng cuả cột 1, phối với 1 Can trong 1 cột nào đó cùng 1 hàng, nhìn lên đầu cột ta
sẽ có tên THẦN liên hệ.
10 Thần > Tỷ Kiếp Thực Thương Thiên Chính Thiên Chính Thiên Chính
Can ngày v kiên tài thần quan tài tài quan quan ấn ấn
Giáp
+ giáp ất bính đinh mậu kỷ canh tân nhâm quý
ất
– ất giáp đinh bính kỷ mậu tân canh quý nhâm
Bính
+ bính đinh mậu kỷ canh tân nhâm quý giáp ất
Đinh
– đinh bính kỷ mậu tân canh quý nhâm ất giáp
mậu
+ mậu kỷ canh tân nhâm quý giáp ất bính đinh

kỷ
– kỷ mậu tân canh quý nhâm ất giáp đinh bính
Canh
+ canh tân nhâm quý giáp ất bính đinh mậu kỷ
Tân
– tân canh quý nhâm ất giáp đinh bính kỷ mậu
Nhâm
+ nhâm quý giáp ất bính đinh mậu kỷ canh tân
Quý
– quý nhâm ất giáp đinh bính kỷ mậu tân canh
Người ta thường viết tắt trên bảng số, để thoáng, dễ đọc; hay gọi tắt cho gọn mà vẫn
giữ được nguyên ý nghiã .
tên Tỷ Kiếp Thực Thương Thiên Chính Thiên Chính Thiên Chính
Thần kiên tài thần quan tài tài quan quan ấn ấn
viết tắt Tỷ Kiếp Thực Thương T. Tài Tài Sát Quan Kiêu, Ấn
hay
T.Ấn
Q1-ch7-nhatnguyen 7 02/01/2005
2) Sinh KHẮC của 10 thần
10 thần có thể là trên các thiên can, hay của các Can tàng trong địa chi. Mối quan hệ
sinh khắc giữa chúng cũng là quan hệ sinh khắc của ngũ hành. Tuy nhiên, 10 thần chủ
về người và sự việc, còn ngũ hành phản ánh mức độ khí chất bẩm sinh của con người.

Hai cái bổ sung cho nhau, không được coi nhẹ bên nào cả. Mục này chú trọng 10 thần.
Tương sinh :
Chính tài, Thiên tài sinh Quan Sát ;
Quan Sát sinh Ấn Kiêu ;
Ấn Kiêu sinh Tỷ Kiếp ;
Tỷ Kiếp sinh Thương Thực ;
Thương Thực sinh Chính tài, Thiên tài.
Tương khắc :
Chính tài, Thiên tài khắc Ấn Kiêu;
Ấn Kiêu khắc Thương Thực ;
Thương Thực khắc Quan Sát ;
Quan Sát khắc Tỷ Kiếp ;
Tỷ Kiếp khắc Chính tài, Thiên tài .
Về Sinh hoặc khắc, không phải hễ thấy sinh thì cho là tốt, khắc thì cho là xấu.
Mệnh tốt hay xấu cũng không phải lấy sinh và khắc để bàn. Ví dụ :
Thực thần sinh Tài là mệnh tốt ;
Thực thần chế (khắc) Sát cũng là mệnh tốt ;
vậy phải tuỳ khi bàn về sự việc cụ thể nào đó mà nói tổ hợp sinh hay khắc là tốt hay
xấu.
Các can âm hoặc dương đều có thể sinh, có thể khắc ; Tương sinh hoặc tương khắc
đồng tính (+/-) thì lực lớn, còn khác tính thì yếu hơn.
Giữa các thiên can không bàn đến xung, mà chỉ có sinh, khắc, hợp. Về can hợp chúng
ta sẽ bàn kỹ ở mục Hoá khí cách .
Theo 10 thần lộ ra, lực sinh khắc mạnh hay yếu là căn cứ vào sự sinh khắc, hợp hoá
của các thiên can và ngũ hành để định đoạt, và còn phải căn cứ vào sự luận đoán tổng
hợp với điạ nguyên và nhân nguyên.
Tương tự như sinh khắc của ngũ hành, giữa 10 thần cũng có qui luật về thái quá : khi 1
thần nào đó quá mạnh hay quá yếu thì cũng tuân theo qui luật « vật đến cực tất phản
(quay ngược trở lại) » : cái sinh không thể sinh, cái khắc trở thành bị khắc.
Sự sinh khắc ấy có lợi cho Thân hay dụng thần là hỷ ; có hại cho Thân hay dụng thần là
kỵ. Khi luận Vận mệnh phải nắm vững những yếu tố hỷ kỵ này của mệnh.

3) Vượng suy của 10 thần
Sự sinh khắc sẽ có tác động khác nhau tuỳ theo sự vượng suy của ngũ hành cuả CAN
(lộ hay tàng). Mà để định một hành (qua đó là một thần) là vượng hay suy, tiêu chuẩn
Q1-ch7-nhatnguyen 8 02/01/2005
duy nhất là bảng Trường Sinh : lấy Lệnh tháng kết hợp với thiên can, đọc bảng này để
xác định. Một CAN nào đó là Vượng hay Suy, thì (10) Thần phát xuất từ đó cũng Vượng
hay Suy, vì như ta đã biết, 10 thần cũng chỉ là 1 cách nhìn khác, gọi khác cuả Can hay
Hành).
Nhắc lại : Từ TS, đến MD, QD, LQ, DV là mạnh (cường), từ Suy , đến BH, TU, MO,TT là yếu (nhược), còn
Thai, Dưỡng là bình.
Can ngày quan trọng nhất, vì dĩ nhiên không có "Thần" nào quan trọng bằng TA (xem
mệnh là xem cho TA mà ) . Vậy trước hết phải xác định cho được là TA (thân) vượng
hay TA (thân) nhược, vì tuỳ lực của Thân mà sự tương tác của 10 thần trên nó có ảnh
hưởng khác nhau.
Cần theo trình tự sau đây :
3.1) xem hỷ kỵ của các can kề sát bên Can ngày :
– trước hết xem chi ngày, vì nó liền sát can ngày, nó phù trợ can ngày (hỷ) , hay
khống chế can ngày (kỵ) ;
– kế đến xem can tháng và can giờ là hỷ hay kỵ của can ngày ; hỷ hay kỵ đó
vượng hay nhược ; như thế mới đo lường được mức độ trợ giúp hay tác hại của chúng
đối với can ngày ;
nếu có hợp là hợp sinh hỷ hay sinh kỵ ; hợp mất hỷ hay mất kỵ.
– cuối cùng mới xét đến can chi ở xa hơn :
* trụ tháng hay trụ giờ có thiên khắc điạ xung với trụ ngày không ;
* chi tháng, chi giờ có khống chế, hình hại chi ngày không ;
* là hỷ hay là kỵ đối với can ngày.
3.2) xem mức độ vượng suy của các can chi khác :
Lần lượt xét các can khác (năm, tháng, giờ) đối với lệnh tháng là vượng hay suy ;
xem Can từng trụ một, chi của nó, và các can bên phải, bên trái của can ấy là hỷ hay kỵ
của nó (y như xét Can ngày trên đây);
Cuối cùng tổng hợp mức độ vượng suy của Tài, Quan, Ấn, mức độ phù trợ hay áp chế
của các hỷ thần, kỵ thần đối với Can ngày.
3.3) Tiếp tục xem các mối quan hệ tổng hợp để xác định mức độ thân nhược hay thân
vượng. Ví dụ :
nếu can năm lộ ra Tài, nó làm hao tổn thân ;

nếu can tháng lộ ra Quan, nó áp chế thân ;
mà Tài và Quan lại tương sinh, làm cho thực lực của Quan mạnh lên, tức là sức nó
khắc nhật can tăng lên ; nếu thế của nhật can đơn bạc thì rõ ràng là Thân nhược. Cần
ước lượng xem mức chiụ đựng của nhật can như thế nào.
Xác định Thân vượng hay Thân nhược, thì sẽ dễ dàng xác định dụng thần, đó là những
cơ sở của mọi dự đoán trong khoa Tử Bình.
Rồi lý luận tương tự như với Can ngày trên đây để xét các Can (Thần) khác là V hay S.
Q1-ch7-nhatnguyen 9 02/01/2005
4) Chức năng của 10 thần
Ta sẽ xét vai trò, chức năng của mỗi thần. Khi nói một thần nào đó, là luôn luôn đối Can
ngày – mệnh chủ. Người ta phân biệt :
Cát (hay thiện) thần : gồm Tài, quan, Ấn, Thực
Hung (hay ác) thần : gồm Tỷ, kiếp, kiêu, thương, thất sát.
4.1) Chính quan : tuy là áp chế thân, nhưng nó quản những điều tốt, cưỡng chế TA
theo nghiã tốt, ví dụ nhà nước bắt dân phải đóng thuế, đi lính, luật lệ cưỡng chế về trật
tự xã hôị , như luật đi đường, cấm đoán mại dâm , ma tuý v..v..
4.2) Thất sát : khắc chế nhật can theo nghiã xấu, như tai nạn, rủi ro, bệnh tật, tù tội
…Nó chuyên tấn công nhật can, làm tổn hao Tài, sinh Ấn, công phá thân, khắc chế Kiếp.
Chú ý : khi nó bị khắc chế, tức là có Thương Thực, thì gọi là Thiên quan, nếu không thì được gọi là Thất
sát.
Thân vượng Tài yếu thì nó làm hao Tài ;
Thân vượng Ấn yếu thì nó sinh Ấn ;
Ấn yếu, Tài mạnh thì nó công phá thân ;
Thân vượng Kiếp yếu thì nó khắc chế Kiếp ;
4.3) Chính tài, Thiên tài (là cái tôi khắc chế), cả hai gọi chung là Tài :
Tài là nguồn dưỡng mệnh, ai cũng cần có, nhưng không phải ai cũng có được (trong
mệnh nó là 1 Thần, ngoài đời nó là Vợ hay Tiền tài).
Tài sinh Quan Sát, rút khí Thực Thương ; áp chế Kiêu thần ; làm hại Chính ấn.

Thân vượng, Quan Sát nhược thì tài sinh Quan Sát;
Thân vượng, Thực Thượng nhược thì tài rút khí Thực Thương ;
Thân vượng, Kiêu vượng thì Thiên tài áp chế Kiêu thần ;
Thân vượng, Chính ấn vượng thì Chính tài làm hại Chính ấn ;
4.4) Chính ấn, Thiên ấn :
Ấn là nguồn khí của TA, như cha mẹ sinh ra TA. Thiên ấn gặp Thực thần thì sẽ bị cướp
đoạt nên gọi là Kiêu thần.
Nó sinh Thân, rút khí Quan Sát để bồi dưỡng cho TA; và chống lại Thực Thương là
những thứ rút khí TA.
Thân nhược, Quan Sát mạnh : ấn rút khí Quan Sát để sinh thân;
Thân nhược, Thực Thương mạnh : chính ấn chống lại Thực Thương.
4.5) Thương quan , Thực thần :
Thương gặp Quan thì khắc ;
Thực gặp Sát thì có thể chế phục, làm cho nhật can được yên ổn không có tai hoạ ;
Q1-ch7-nhatnguyen 10 02/01/2005
Thương Thực rút khí thân, sinh Tài, đối địch với Thất sát, làm tổn thương Chính
quan.
Thân vượng, Tài Quan nhược thì Thương Thực rút khí thân ;
Thân vượng, Tài nhược thì Thương Thực sinh Tài;
Thân nhược, QUAN SÁT mạnh thì Thương Thực sẽ đối địch Thất sát, làm tổn hại
Quan.
4.6) Tỷ, Kiếp :
Nó giúp thân, làm hao Quan Sát, hoá Ấn (rút khí) ; cướp đoạt Tài. Nếu Thân vượng mà
còn có nó thì xấu.
Thân nhược , TK giúp thân ;
Thân nhược , TK rút khí Quan Sát;
Thân nhược có TK thì không sợ bị tiết khí ;
Thân vượng có TK sẽ đoạt được Tài.

5) Người và sự việc mà 10 thần đại biểu
Chúng ta học đoán mệnh tức là xem chuyện công danh, sự nghiệp, tiền tài, vợ/chồng
con cái,…, vậy phải căn cứ vào những cơ sở nào đó; đó chính là 10 thần.
Chính quan : đại biểu cho chức quan, chức vụ, thi cử , bầu cử, học vị, danh dự, địa vị.
Nữ : đại biểu cho tình cảm với chồng và đường con cái;
Nam : đại biểu cho tình cảm với vợ;
Thiên quan : đại biểu cho chức vụ về quân đội, cảnh sát, hoặc tư pháp; thi cử; bầu cử.
Chính ấn : đại biểu cho chức vụ, quyền lợi, học hành, nghề nghiệp; học thuật, sự
nghiệp; danh dự, điạ vị, phúc thọ.
Còn đại biểu cho tình mẹ.
Thiên ấn : đại biểu cho thẩm quyền trong nghề nghiệp, như nghệ thuật, diễn xuất,
y học, luật sư, tôn giáo, kỹ thuật, nghề tự do, những thành tích trong dịch vụ.
Còn đại biểu cho tình dì ghẻ.
Tỷ kiên : đại biểu cho người giúp việc, cấp dưới, bạn bè, đồng nghiệp, người cùng
phe đảng; tranh tài đoạt lợi; khắc vợ, khắc cha …
Nữ : đại biểu cho tình chị em (cùng phái với mình);
Nam : đại biểu cho tình anh em (cùng phái với mình);
Kiếp tài : đại biểu cho người giúp việc, cấp dưới, bạn bè, đồng nghiệp, người cùng
phe đảng;
Còn đại biểu cho hao tổn tài, bị đoạt tài; bị đoạt vợ, khắc cha ; tranh dành
quyền lợi; lang thang …

Nữ : đại biểu cho tình anh em (khác phái với mình);
Nam : đại biểu cho tình chị em (khác phái với mình);
Q1-ch7-nhatnguyen 11 02/01/2005
Thực thần : đại biểu cho phúc thọ, người mập; về hưu, có lộc.
Nữ : đại biểu cho tình cảm với con gái của mình;
Nam : đại biểu cho tình cảm với con trai của mình;
Thương quan : đại biểu việc không lợi cho người nhà, cho chồng; bị mất chức; bỏ học,
thôi học; mất quyền, mất ngôi; không trúng tuyển;
Nữ : đại biểu cho tình cảm với con trai của mình;
Nam : đại biểu cho tình cảm với con gái của mình;
Chính tài : đại biểu cho tài lộc, sản nghiệp; tài vận, tiền lương, lợi tức của nghề
chính.
Nam : đại biểu cho tình cảm với vợ;
Thiên tài : đại biểu cho của riêng, trúng thưởng, phát tài nhanh; lợi tức không do
nghề chính ; đánh bạc; tình cảm với cha;
Nam : đại biểu cho tình cảm với vợ lẻ;
6) Tâm tính thể hiện qua 10 thần :
10 thần lộ ra trên các thiên can còn biểu thị thiên tính; cũng giống như ngũ hành đại
biểu cho tính tình của con người (như mộc chủ nhân, hoả chủ lễ v..v..).
Các thần lộ hay tàng đều là những tiêu chí về sự sinh khắc của sự việc.

Trong mệnh cục , nếu (a) đã khắc được (b) thì (b) không còn lực để khắc (c), nên (c)
sẽ xuất hiện. Vì (c) không bị khắc nữa, nên nó được sinh thoát ra ; vậy trong cân bằng
của 4t nó là bên có sức sống nhất. Khi nó xuất hiện thì sự biểu thị của nó về người, sự
việc liên hệ (xem mục 10 thần đại biểu trên đây) và tâm tính người ấy càng rõ ràng.
Ðó là nguyên lý "quan hệ phá thì lập".
Ví dụ : 4t có Thương quan khắc Quan , nhưng nếu Thương bị phá hại (vì có Chính ấn,
hay bị hình, hợp, xung, hại) thì Chính quan có cơ hội xuất hiện. Thương quan bị khắc
chế nên nay Chính quan sẽ đóng vai trò rất quan trọng đối với nhật can ; nó gián tiếp
hay trực tiếp quyết định sự vượng suy của nhật can. Thông thường nó có vai trò chủ
đạo cho mệnh cục là cát cách hay bại cách. Và tâm tính Chính quan lộ rõ .
Tóm tắt cho tất các thần như sau :
Ấn khắc Thương, Thương không khắc được Quan, tâm tính chính quan xuất hiện :
Chính trực, có tinh thần trách nhiệm ; đoan trang, nghiêm túc, làm việc có thứ tự, song dễ
bảo thủ, cứng nhắc ; thậm chí không kiên nghị.
Kiêu đoạt Thực, Thực không chế ngự được Sát, tâm tính Thất sát xuất hiện :
Hào hiệp, năng động, tiến thủ, uy nghiêm, nhanh nhẹn ; nhưng dễ bị kích động ; thậm chí trở
thành người ngang ngược, truỵ lạc.
Kiếp tranh Tài, Tài không làm tổn thất được Ấn, tâm tính Chính ấn xuất hiện :
Thông minh, nhân từ, không tham danh lợi, chiụ đựng ; nhưng ít chí tiến thủ ; thậm chí trì trệ,
chậm chạp.
Q1-ch7-nhatnguyen 12 02/01/2005
Tỷ đoạt Tài, Tài không khắc được Kiêu, tâm tính Kiêu thần xuất hiện :
Tinh thông tay nghề; phản ứng nhanh nhạy; nhiều tài nghệ; nhưng dễ cô độc, thiếu tình người;
thậm chí ích kỷ, ghẻ lạnh.
Thương khắc Quan, Quan không chế ngự được Kiếp, tâm tính Kiếp tài xuất hiện :
nhiệt thành, thẳng thắn, ý chí kiên nhẫn, phấn đấu, bất khuất; nhưng dễ thiên về mù quáng,
thiếu lý trí, thậm chí manh động, liều lĩnh.
Thực áp chế Sát, Sát không chế ngự được Tỷ, tâm tính Tỷ kiên xuất hiện :
Chắc chắn, cương nghị, mạo hiểm, dũng cảm, có chí tiến thủ, nhưng dễ cô độc, ít hoà nhập; cô
đơn.
Tài làm tổn Ấn, Ấn không khắc được Thương, tâm tính Thương quan xuất hiện :

Thông minh, hoạt bát, tài hoa, hiếu thắng, nhưng dễ tuỳ tiện, thiếu sự kiềm chế, thậm chí tự do
vô chính phủ.
Tài áp chế Kiêu, Kiêu không đoạt được Thực, tâm tính Thực thần xuất hiện :
Ôn hoà, rộng rãi với mọi người; hiền lành, thân mật, nhưng dễ bề ngoài, không thật bụng, thậm
chí nhút nhát, giả tạo.
Quan khắc Kiếp, Kiếp không phá được Tài, tâm tính Chính tài xuất hiện :
Cần cù, tiết kiệm, chắc chắn, thật thà, nhưng dễ thiên về cẩu thả, thiếu tính tiến thủ, thậm chí trở
thành nhu nhược, không có tài năng.
Sát áp chế Tỷ, Tỷ không khắc được Tài , tâm tính Thiên tài xuất hiện :
Khẳng khái, trọng tình, thông minh, nhạy, lạc quan, phóng khoáng; nhưng dễ thiên về ba hoa, bề
ngoài, thiếu sự kiềm chế, thậm chí phù phiếm.
Ví dụ 1 : can năm là Tài, can tháng là Ấn, can giờ là Thương ; Tài có lực khá mạnh nên
khắc chế được Ấn ; Ấn không có lực để khắc chế Thương nên tâm tính Thương quan lộ
rõ : thanh cao, hiên ngang, dám chửi cả quỉ thần ;
– nếu Thân vượng thì lại càng hung hăng hơn, vì Thương được Thân vượng sinh
cho ; do đó người này tính xấu, những người bề trên không dám đụng đến, kẻ tiểu
nhân thì càng sợ lánh xa. Thân vượng nên nó là hỉ của dụng thần ; khi hành đến vận
Tài thì phú quí tự nhiên đến ;
– nếu Thân nhược thì tính tình vẫn là tính tình của Thương quan, nhưng không
đến nỗi ghê gớm bằng ; tuy ít giận dữ hơn , nhưng khi đã giận dữ thì người non gan
phải chết khiếp.
Ví dụ 2 : Tâm tính chính tài ;
Những người này ngay khi còn nhỏ tuổi đã có bản lãnh kinh doanh bẩm sinh ; cho dù
không có văn hoá nhưng tính toán rất nhanh và rất chuẩn làm cho mọi người phải khâm
phục.
Theo mệnh lý mà nói , hễ Tài vượng thì khắc Ấn , mà ấn chỉ về học vấn, nên tài vượng
thì văn hoá ít , không ham đọc sách , « đi làm kiếm tiền » rất sớm.
Qui luật chung Tài khắc ấn là chỉ người Thân nhược.
Q1-ch7-nhatnguyen 13 02/01/2005
Còn Thân vượng thì có thể thắng Tài; nếu Tài ít thì không thể buôn bán được, nhưng
Ấn vượng thì học giỏi nên hy vọng khắc ấn để tránh khỏi kiếp tài ;
Tài lộ thì khẳng khái ;
Tài nhiều Tài vượng thì có duyên với con gái, nên khẳng khái, phong lưu, và vì

thế mà hay tiêu phí tiền ;
Thân, Tài ngang nhau thì Tài là dụng thần.
Ngoài những trường hợp "phá thì lập" trên đây, còn có ngoại lệ "không phá cũng lập",
tức là 1 thiên can nào đó vượng, không bị khắc chế (phá hại). Ví dụ : mệnh cục có nhật
nguyên gặp toàn Tỷ kiếp, mà trong mệnh không có Quan tinh để khắc chế ; thì trong
trường hợp đó, Tỷ kiếp rất vượng, tâm tính Tỷ kiên vẫn lộ rõ dù không có một quan hệ
khắc phá nào. Ðây là trường hợp một thần "vừa độc vượng, vừa được lập".
Ngoài tâm tính ra, sự Vượng suy của 10 thần còn chủ các việc có thể xãy ra
cho mệnh. Ðó là đối tượng cuả chương 8 – luận 10 thần.
Kết hợp chức năng và độ số vượng suy của 10 thần, và xét các sự sinh khắc chế hoá
của chúng sẽ hé lộ cho ta thấy những tiêu chí của mệnh người ấy , tâm tính hay năng
khiếu sẽ dẫn đến cách hành xử, và những kết quả hay hậu quả; rồi sau đó, cũng với
những lý luận tương tự trên 10 thần của đại vận, cuả lưu niên tương tác với mệnh cục
(tứ trụ) mà ta sẽ vẽ ra được vận trình của suốt cuộc đời một người.
III- Ứng dụng của VS của Can Ngày : Tìm Dụng Thần cuả mệnh
Vì DT là cốt lõi của mệnh, là linh hồn của khoa Tử Bình, nên ta dành riêng cho nó 1 chương (Xem chương
10 – dụng thần). Nhưng ở đây, nhân tiện xét về Thân vượng hay Thân nhược, ta đã có đủ cơ sở để lý
luận tìm DT. Vậy ta xét ngay theo phái này. Trong chương 10 sẽ trở lại, nhưng với trình độ thâm cứu hơn.
Trong mệnh lý, nếu can ngày đã yếu lại không được phù trợ, hay can ngày vốn đã
vượng lại còn được phù trợ, thì đều là nguồn bệnh. 4T đó có được bổ cứu hay không,
còn phải xem kỹ nó có hành / thần nào đóng được vai trò đó không .
Khi can ngày yếu nên được sinh phù; hoặc can ngày mạnh , nên bị khống chế, hao
tán, tiết khí . Nhưng 4T chỉ có 8 chữ, giống như 1 cái cân, bên Vượng là bên nặng,
bên yếu là bên nhẹ. Cái (thần / hành / chữ nào đó) dùng để bớt bên nặng đi, bù vào
bên nhẹ, làm cho cái cân "MỆNH" được thăng bằng gọi là Dụng Thần .
Vậy DT căn cứ vào can ngày Vượng hay Nhược để định đọat . Sự phán đoán TV hay TN
và tìm DT là bước mở đầu quan trọng nhất để từ đó tiếp tục tiến lên dự đoán ở những
bước sau, cho cát hung họa phúc của cả cuộc đời; mà khi nói cả cuộc đời thì cụ thể là
các Ðại vận (10 năm) và Lưu niên (1 năm nào đó).
Vận tốt là lúc DT đến mang lại đủ vận khí để làm cân bằng ngũ hành của mệnh cục , ổn định cán cân. Lúc gặp được DT như thế gọi là DT đắc lực; vận trình đó là thời kỳ tốt
nhất của cuộc đời.
Trong mệnh có DT thì VM gặp nhiều thuận lợi. DT có lực thì cuộc sống nhẹ nhàng, DT
yếu thì cuộc sống vất vả hơn.
Q1-ch7-nhatnguyen 14 02/01/2005
DT bị phá tổn thương thì gian nan càng nhiều; DT đã yếu lại còn bị khắc thì cũng chẳng
khác gì không có. Lúc đó, phải nhờ DT từng vận để bổ cứu.
Trong việc lý luận để tìm DT cho MC, ta phải dùng luôn luôn đến bảng Trường
Sinh, cần nhớ là trong dự đoán về mệnh lý, 5 can dương tính theo chiều thuận, 5 can
âm tính theo chiều nghịch của mười hai cung trường sinh.
ngũ hành của 5 can âm và 5 can dương trong bảng Trường sinh ở các cung lâm
quan, đế vượng đều rơi vào vượng địa (địa chi là lộc, kình dương), cho nên ngũ hành
vượng ở bản khí chi tháng là điều trước sau không thay đổi.
Còn những cung khác trong bảng Trường sinh , dù cùng một ngũ hành, nhưng 5
can âm và 5 can dương phân biệt ở vượng / suy (TS / Tử; MD / Bệnh; QÐ / Suy), nếu
5 can âm và 5 can dương là can ngày lại rơi vào lệnh tháng thì rõ ràng sẽ ngược nhau
hoàn toàn.
Vậy các sách cho rằng 5 can âm không tính theo chiều nghịch là không đúng.
Sự không phân biệt âm dương / thuận nghịch đó sẽ dẫn đến sự phán đoán sai lầm về
thân nhược và thân vượng, tất nhiên xác định sai dụng thần, mà dụng thần lấy sai thì
toàn bộ đều sai 180 độ. Ðiều đó không những sự dự đoán sẽ không giúp cho người ta
hướng đến cái tốt, tránh xa cái xấu, mà còn có tác dụng ngược lại, gây nên tội nghiệt
(*). Cho nên nhất định ta phải nắm vững điều mấu chốt này.
Bạn hãy dùng bảng TS có phân biệt âm dương thuận nghịch trong sách này, chỉ cần tra bảng thì không
sợ sai (xem bảng).
(*) ví dụ : vận trình người ta đang ở bại vận mà lại tưởng là đang ở vận cực thịnh, người ta hỏi có nên bỏ
vốn, mượn nợ kinh doanh không. Thay vì bảo không nên , đắp chăn nằm ngủ còn sướng hơn là trắng tay,
vợ đói con rách, lại khuyên "thời vận anh đang tốt lắm, nên làm tới đi !" . Bạn đã thấy hậu quả và tội
nghiệt chưa ?
Tương tự chuyên tình duyên , hay quan vận ,…
IV- VÍ DỤ QUAN TRỌNG VỀ PHƯƠNG PHÁP LÝ LUẬN ÐỂ CHỌN DỤNG THẦN nhắc lại : phải luôn luôn dùng bảng TS -có phân biệt Can dương và Can âm- để định Vượng Suy : Can +
tính theo chiều thuận, can âm tính theo chiều nghịch.
Xét Mệnh NAM sau đây :
THỰC ẤN NHẬT nguyên SÁT
Quý mão mậu ngọ tân sửu đinh mùi
ất đinh kỷ kỷ tân quý kỷ ất đinh
tài sát kiêu kiêu tỷ thực kiêu tài sát
Trước hết ta liệt kê ra sự vượng suy của các ngũ hành và của mười thần trong 4T :
– Can ngày là tân kim, sinh ở tháng ngọ là đất "bệnh" nên không được lệnh.
Q1-ch7-nhatnguyen 15 02/01/2005
– Ta lại thấy can phía bên trái là mậu tức là ấn sinh thân, ở đất đế vượng nên là
được sinh. Ngày đóng ở sửu thổ, kỷ thổ trong sửu là bản khí, kỷ thổ của tháng ngọ là
lâm quan vượng địa, lại còn thêm bản khí trong mùi thổ cũng là kỷ thổ ở quan đái
vượng địa cho nên lại cũng được sinh.
– Can ngày Tân kim trường sinh ở tý, nhưng trong tứ trụ không có tý, các thiên
can lộ ra bản khí của nó lại không có tỷ, kiếp; tân kim trong sửu không phải là gốc của
mộ cho nên không đắc địa.
– Các thiên can không có tỷ, kiếp là không được trợ giúp.
Không được lệnh, không đắc địa, lại không được trợ giúp mà chỉ có vượng sinh thì thân
vẫn là nhược.
Tiếp theo ta so sánh sự mạnh yếu của can ngày kết hợp các yếu tố tác động trên nó :
Can giờ bên phải trụ ngày là đinh hoả thất sát, đinh sinh vào tháng ngọ cũng là
lâm quan vượng địa, nên sát vượng. Quý thuỷ thực thần của trụ năm ở cách xa nhật
nguyên rơi vào tuyệt địa, là nhược. Chi năm Mão đóng dưới can năm, tàng độn ất, ất
trường sinh ở ngọ nên tài vượng.
Thất sát vừa có thể là cát thần sinh ấn thụ để làm cho vượng thân, nhưng cũng
có thể là sát tinh khắc thân. Thời điểm khắc thân là lúc gặp tuế vận tài tinh, vì lúc đó ấn
thụ bị Tài chế ngự, còn tài lại sinh sát, mà sát sinh không được ấn nên quay ra khắc
thân. Hơn nữa địa chi ngọ-mùi là bán hội sát khiến cho sát càng mạnh. Muốn biết có
được cứu hay không thì phải xem trong tứ trụ sát tinh gặp kỵ thần hay hỷ thần (ngọ và
mùi vì không phải là lục hợp liền kề bên cạnh cho nên cho dù có hoá xuất Thổ (sinh
Kim), cũng không thể được coi là hoá).
Do đó Thân nhược vẫn là Thân nhược. Vậy Dụng thần phải chọn là chính ấn để
bổ trợ cho Thân Nhược, kỵ thần là thiên tài .
Chú ý : Qua ví dụ trên, ta thấy tân kim (là can âm) nếu không tính theo chiều nghịch mà vẫn tính theo
chiều thuận thì trường sinh của tân kim là ở tị, tháng ngọ sẽ không phải là nhược mà là tháng được lệnh,
như vậy lực nó rất lớn, lại còn được ấn vượng sinh thân, thất sát còn được ấn thụ hoá là hỷ chứ không
phải là kỵ, thì làm sao thân vượng sát vượng, gặp năm tài, mà lại luôn luôn gặp tai họa ?
Thực chất là vì thân nhược gặp tài nên gánh không nổi, mà Tài sinh sát lại khắc thân, nên nguyên
nhân tai hoạ là ở chỗ thân nhược. Vậy đừng bao giờ quên nguyên tắc Can + thuận, Can âm nghịch.
Bạn nên xem các thí dụ ở chương 15 để hiểu cách tìm DT và cách luận đoán.

 

Share this: