Chương 8
NGHIÊN CỨU 10 THẦN
Cách định VS cuả 10 thần
VS của mỗi thần chủ về việc gì ?

Luận 10 thần :
– khảo hướng 1 : xét từng thần, và thần trên các trụ;
– khảo hướng 2 : xét theo từng lãnh vực cuả mệnh.
Trong chương trước, chúng ta đã tìm hiểu nhật nguyên và 10 thần, nội dung cuả 10
thần qua các mục :
Cách sắp xếp
Sinh khắc của 10 thần
vượng suy của 10 thần (*)
chức năng của 10 thần
người và việc mà 10 thần đại biểu

tâm tính thể hiện qua 10 thần.
Trong chương này, chúng ta đào sâu tác động cuả 10 thần tuỳ theo VS (*), và theo vị
trí mà nó đóng (trên trụ nào, trên Can hay Chi) thì sẽ chủ về những việc gì ?
Định Vượng, Suy cuả 1 CAN hay 1 THẦN nào đó trong 4T
Về cách định vượng suy cuả các Can hay Thần có 2 phái :
1) Phái thứ nhất dùng tất cả các điạ chi cuả 4T phối với CAN ấy theo bảng TS , rồi cân
nhắc để biết CAN hay THẦN ấy là Vượng hay Suy.
Nói chung phái này cho rằng Điạ chi quyết định sự Vượng Suy cuả Thiên Can (hay
Thần).
Ví dụ 1 :
Can Năm + Chi Năm => TS
+ Chi Tháng => ĐV
+ Chi Ngày => BH
+ Chi Giờ => Tt
Chi năm và chi tháng nằm sát bên Can Năm nên ảnh hưởng mạnh hơn ; vậy Can
Năm vượng. Nếu Can ấy là Tài chẳng hạn, thì người đó Tài vượng.
Ví dụ 2:
Can Giờ + Chi Năm => DG
+ Chi Tháng => Tt
+ Chi Ngày => ĐV
+ Chi Giờ => TU
Cân nhắc thì thấy ngay Can Giờ suy. Nếu Can ấy là Quan chẳng hạn, thì người đó
không có quan, hay quan vận không được tốt. Ngoài ra trụ giờ là cung con cái,

vậy con cái cũng không thành đạt, và/hoặc sức khoẻ yếu, và/hoặc yểu !.
Tương tự như thế ta xét cho tất cả các CAN hay THẦN khác. OK ?
2) Phái thứ 2 chú trọng đến Chi THÁNG, tức LỆNH THÁNG, dù trong khoa Tứ Trụ hay
khoa Bốc Dịch, nó là cương lĩnh quyết định sự VS cuả tất cả các Can, Chi, Thần (qua
ngũ hành) dù lộ hay tàng.
Q1-ch08-luan-10than 1 02/01/2005
Phái này, tuy vậy, cũng cân nhắc tổng hợp trước khi định VS, nhất là cuả Can Ngày
(mệnh chủ). Trong sách này chúng ta sẽ có dịp bàn kỹ.
Cả hai phái đều dựa vào bảng Trường sinh. Phái thứ nhất dùng điạ chi cuả tất cả các
TRỤ, nhưng cũng không phủ nhận vai trò nổi bật cuả Chi Tháng ; phái thứ 2 tuy chú
trọng LT, nhưng cũng tổng hợp tất cả Can, Chi trước khi phán vượng hay suy. Chúng ta
nên linh động mà ứng dụng, không bỏ qua cách nào cả.
Chú ý trong khi luận giải vận trình : Dụng thần cũng là 1 Thần, 1 hành, mà là thần
trung tâm cuả mệnh, do đó sự VS cuả nó phải được xác định rõ; và khi luận hành vận,
phải kết hợp nó với Chi ĐẠI VẬN và Chi LƯU NIÊN để biết nó Vượng hay Suy ở hành
vận đó, Vượng thì là vận tốt, Suy là vận xấu.
Lưu ý :
Trong mệnh lý học, đầu tiên phải làm rõ một thần nào đó là Hỷ hay là Kỵ của Thân, hay
cuả DT, thì mới tránh được cảnh sai 1 ly đi 1 dặm, râu ông nọ cắm cằm bà kia trong khi
phán đoán. Ví dụ :
Hỷ Quan là chỉ Thân và Quan tinh lực lượng tương đương, Thân không đến nỗi bị Quan khắc hay
áp chế, mà còn có thể thắng Quan ; Quan là lộc nên Thân có công danh.
Lực tác động của mỗi « thần » trên các thần khác tuỳ thuộc nó vượng hay nó suy.
Còn hiệu lực cuả sự tương tác có thể là :
trung tính (vô thưởng vô phạt), hay
sinh trợ , hay
phá hoại (khắc chế).
VS cuả mỗi thần chủ về việc gì ?
Trên mỗi trụ có các « thần » lộ hay tàng . Mỗi thần có ý nghiã , tính chất riêng, coi như
bạn đã nắm thật vững ở chương trước, còn ở đây sẽ nhấn mạnh về sự VS và khi Vượng
hay khi Suy chúng sẽ có những tác động gì trên mệnh. Có 2 khảo hướng :
1) hoặc xét xem nó đóng ở trụ nào thì sẽ có tác dụng ra sao, vì :
– mỗi trụ là một cung cho một lãnh vực của đời người (năm là tổ nghiệp – cha mẹ,

tháng là cha mẹ – anh chị em, ngày là mình và hôn phối, giờ là con cái);
– mỗi trụ cũng là một giai đoạn của đời người (năm : ấu thơ – thiếu niên ; tháng –
ngày : thanh niên – trung niên, giờ : tuổi già – cuối đời),
và nếu phối hợp (sinh, khắc, hợp) nó với các thần khác sẽ có những tác dụng
nào đối với mệnh.
Ðây là cách trình bày từng thần trên cả 4 Trụ ; ví dụ Quan trên trụ năm thì sao, trên trụ tháng
thì sao, trên trụ ngày thì sao, trên trụ giờ thì sao … ; rồi đến Sát, Ấn, Thương …
Cũng có thể trình bày tất cả 10 thần trên mỗi trụ ; ví Ấn trên trụ năm thì sao, Tài trên trụ năm
thì sao ; Thương trên trụ năm thì sao ; tương tự Quan, Sát, Thực, Tỷ, Kiếp …
rồi tượng tự trên trụ tháng, trên trụ ngày, trên trụ giờ.
Cách này rất khó nhớ, lại mau quên, dù bạn có đọc đi đọc lại nhiều lần đi nữa.
Q1-ch08-luan-10than 2 02/01/2005
2) hoặc xét trong từng lãnh vực của đời người, ví dụ hôn nhân, tài vận, quan vận
…, phối hợp nhiều thần, hình xung khắc hại, không vong, thần sát… cùng một lúc, xoáy
mạnh, tập trung vào lãnh vực nào đó khi cần luận bàn mà thôi.
Khảo hướng này cũng rất khó nhớ, tuy lý thú hơn. Cách hay nhất, và để tạo thích
thú khi học xem mệnh là kết hợp với các thí dụ minh hoạ, có bình giải.
Sách này sẽ trình bày cả hai cách, để bạn đọc dễ tra cứu tùy nhu cầu, nhưng sẽ
chú trọng đến cách thứ hai.
Chú ý :
1) Trong thuật ngữ của Tử Bình, chúng ta thường gặp 2 chữ Chính và Thiên. Cần nhớ
là :
– Chính là quang minh chính đại ;
– Thiên là không chính thống ;
và những chữ "Cát thần hay Thiện thần" , "Hung thần hay Ác thần" :
a) Những thần sau đây được xem là Cát Thần : Chính quan, Chính ấn, Chính tài,và Thực thần ;
Nhưng nếu tổ hợp không tốt, hoặc gặp suy, bệnh, tử, tuyệt .. thì cũng vẫn không tốt.
b) Những thần sau đây được xem là Hung Thần, hay thần phá hại : Thiên quan (Sát), Thiên ấn
(Kiêu), Thiên tài , Tỷ kiên, Kiếp tài , và Thương quan ; Nhưng nếu tổ hợp được tốt thì có thể bổ
cứu những chỗ xấu, nên rốt cuộc vẫn là tốt.
Vậy Khái niệm tốt hay xấu theo tên các Thần như trên chỉ là cách nói thường tình và tương đối. Còn
trong Tử Bình, muốn biết một thần nào là hỷ thần hay là kỵ thần thì phải căn cứ vào tổ hợp của 4T

để xác định theo tương quan lực lượng cuả nó đối với Thân (vượng hay nhược).
2) khi nói một Thần nào trên một điạ chi cuả 4T, chúng ta nên chú trọng nhất đến Thần
tương ứng với Can Bản khí , ví dụ Dần chưá Giáp, Bính, Mậu, ta chỉ kể Thần trên Giáp
mà thôi. Bạn sẽ thấy dưới đây, khi nói thần A, thần B cùng trụ, hay Can Chi đều là thần
X … là theo cách nhìn này.
A- Khảo hướng thứ nhất : Ta sẽ lần lượt xét sau đây 10 thần.
Vì tránh trình bày nhiều lần, nhiều nơi cùng đề mục trong cùng 1 bộ sách, tuy rằng mỗi lần trở lại là để
nhấn mạnh một khiá cạnh khác, cho nên ở đây đã trình bày kết hợp với vòng Trường sinh, và xung hình
hại phá, do đó hơi loảng. Vậy ban đầu, bạn chỉ nên chú trọng khiá cạnh Vượng Suy, và những gì nó chỉ ra
(chủ về); còn về chi tiết, bạn nên trở lại đọc khi nghiên cứu quyển 2. Tránh làm đầu óc quá tải.
1 – Chính quan :
Là cái khắc tôi. Chính = quang minh chính đại, Quan = quản, tức là tự ràng buộc mình để làm
điều tốt.
– Chính quan lộ, nếu không có Thiên quan (sát) là thanh cao tinh tuý; nếu Thân vượng
thì rất tốt; Có sát thì hỗn tạp (chính tà lẫn lộn) nên xấu.
– Nếu Chính quan quá nhiều, tức là sự khắc chế TA quá nhiều, trói buộc TA mạnh mẽ ,
thì làm TA trở thành nhu nhược, không có năng lực;
Hơn nữa Quan nhiều là TA bị Sát, chủ về cuộc sống gia đình không đầy đủ, tiền
đồ học tập nhiều trắc trở; nếu không có Ấn, Kiêu hoá giải nó đi hoặc cứu trợ TA thì
càng có hại (Quan sinh Ấn nên bị tiết khí, và Ấn có thể sinh Thân) ;
Q1-ch08-luan-10than 3 02/01/2005
– Chính quan sợ nhất gặp Thương quan : họa trăm đường bất ngờ ập đến. Ngọai lệ :
có trường hợp Chính quan nhiều lại mừng gặp Thương quan (*) để được khắc chế bớt.
(*) Thương quan sẽ khử trừ bớt cái Quan thái quá.
xét theo vị trí + vòng TS :
Quan tinh đóng ở (**): TS, MD, QÐ, LQ, ÐV (Vượng) lại không bị hình xung không phá
: cấp quan sẽ cao, thích hợp cho những người làm công chức ;
Quan tinh đóng ở (**): SY, BH ,TU ,MO ,TT (Nhược): rất kém ; công chức không nên
gặp;
Quan tinh đóng ở (**): TH, DG (Bình): đỡ hơn ; nhưng công chức không nên gặp;
(**) ở bất cứ trụ nào, mà Can ngày phối với Chi TRỤ ấy, theo bảng TS là TS,MD,…BH,Tử ,…TH,
DG.

xét theo vị trí + theo CUNG :
Quan tinh/trụ năm:
– đựơc nhờ âm đức tổ tiên lớn,
– lúc tuổi còn nhỏ đã có ý chí, đường học hành tốt, (nghĩa là nhân tố Tiên Thiên
tốt), song phải phối hợp với các vận trình về sau, nếu vận khí không tốt thì con đường
học tập thi cử bị trắc trở , thường phải đến tuổi trung niên, thậm chí tuổi đã cao mới có
cơ hội thành đạt, đỗ đạt (Quan vận đến muộn).
Mệnh là yếu tố khách quan ; nhưng chúng ta không phủ nhận với sự cố gắng của bản thân người
ấy về sau (yếu tố khách quan) ;
– can, chi đều là chính quan, nếu không bị hợp mất, hoặc không gặp kỵ thì người
đó xuất thân trong 1 gia đình là quan chức hoặc có địa vị trong vùng ; đồng thời cũng
biểu thị chính người đó sẽ có công danh địa vị ;
Quan tinh/ trụ tháng :
– can hoặc chi có chính quan : đó là người con út được cha mẹ nuông chìu ; cuộc
đời không khó nhọc ;
– là người chính trực , có tinh thần trách nhiệm, trọng tín nghĩa, học hành công
danh có thành tích ;
– là người có anh chị em, và họ có công danh , phúc lộc (vì trụ tháng là cung anh em).
Quan tinh/ chi ngày : thông minh, mưu lược, giỏi ứng biến ;
– nếu Thân vượng, khi gặp Tài vận thì phát đại phúc ;
– Nam : chi ngày là vợ, nên nếu gặp hỷ quan thì tốt : vợ đoan trang hiền hậu,
nội trợ giỏi ;
– Nữ : chi ngày là chồng, nên nếu là hỷ quan thì gặp được chồng phú quý.
Quan tinh/ trụ giờ : (can giờ = con trai ; chi giờ = con gái) con cái hiếu thảo ;
bản thân cuối đời được hưởng hạnh phúc (vì trụ giờ là vận cuối đời) ;
2 – Thiên quan :
Q1-ch08-luan-10than 4 02/01/2005
Thường nếu trong MC có Thực thần và/hoặc Thương quan, thì Thiên quan bị chế ngự, nên gọi là Thiên
quan; nếu không có thì gọi là Thất sát. Từ nay, để tiện, trong bất cứ trường hợp nào khi gọi tắt ta sẽ
dùng chữ Sát.
Sát có chế ngự (có Thực thần và/hoặc Thương quan ): túc trí đa mưu, có quyền uy.
Thực thần chế Sát, Thương quan hợp Sát không nên nhiều, nhiều thì không còn
là quý mà trở thành thấp hèn; cho nên 4T có Sát thì chỉ khi Thân và Sát tương
đương nhau, Sát lại có chế mới tốt.
Thân vượng, Sát nhược, Tài Vượng : là mệnh tốt;

Thân Nhược, Sát Vượng mà không có chế : hay ủ rũ mệt mỏi;
nếu lại gặp Tài tinh (đã yếu mà bị khắc mạnh, lại còn bị hao tổn) : nghèo đói, nhiều tai
ách; nếu trầm trọng hơn thì có thể có họa sát Thân, không gặp tai nạn thì
cũng chết yểu, hoặc cơ thể, tay chân tàn tật.
Thân Nhược, Sát Vượng : phải dựa vào Ấn Quan để hoá giải;
Thân và Sát tương đương ,
– có Ấn thì Sát Ấn tương sinh : công danh hiển đạt, sự nghiệp phát triển, văn võ
song toàn, quyền uy nổi tiếng;
– không có Ấn : là có lực mà không oai phong, nhưng trung hậu, đa tình, ít vui.
Sát (hoặc Quan) nhiều quá, Thân sẽ bị khắc nên không tốt : nhu nhược, không có năng
lực; vừa kém cỏi, vừa ít nói, lại dễ manh động.
Có Sát lại có Quan gọi là QS hỗn tạp là không nên, dễ phạm tai hoạ lao tù hoặc kiện
tụng, nghịch nhiều thuận ít; hoặc trở thành kẻ tiểu nhân;
Nam : học tập, công danh, quan chức dễ bị trở ngại ; tính tình không ổn định,
thích phong lưu ;
Nếu có Thực thần, Thương quan hoặc chế ngự, hoặc hợp mất 1 Quan hay 1
Sát thì được cứu, giảm bớt điều xấu, là mệnh có quyền uy :
– quan võ nên mất Quan, giữ lại Sát;
– quan văn nên mất Sát, giữ lại Quan.
Thiên quan gặp :
TS, MD, QÐ, LQ, ÐV : vinh hoa phú quí;
TU, Tt : tiền đồ học hành trắc trở; quan lộc tổn thất;
Thiên quan / trụ năm :
Thân Nhược, và Sát không có chế : xuất thân gia đình nghèo đói;
Thân vượng, và Sát có chế : là võ chức nổi tiếng, (có thể là Tướng);
Thiên quan / trụ tháng : nếu Can năm và Can giờ có Thực thần, Thương quan (để chế
ngự) : quý mệnh.
Thiên quan / chi ngày : phần nhiều có người phối ngẫu cương nghị, quật cường, tiết
tháo; tính nóng;
– nếu không có Thực thần (để chế ngự) thì vợ chồng không hoà thuận;

Q1-ch08-luan-10than 5 02/01/2005
– nếu có Thực thần (để chế ngự) hoặc được Thương quan hợp (để hoá khác đi)
thì có sự hoá giải.
– nếu gặp xung : thường gặp tai họa, hoặc bệnh tật.
Thiên quan / trụ giờ :
– nếu là kỵ thần, phần nhiều con cái không hiền thảo;
nhưng nếu 4T có chế thì lại sinh được quý tử;
– nếu Can giờ là Sát, Thân vượng, có Tài tinh, Ấn tinh không bị xung : là mệnh
đại phú quý; phần nhiều là quan cấp Tướng trấn ải biên cương, hoặc người uy
danh nổi tiếng khắp xa gần.
Can Chi đều Thất sát : mọi việc không thuận, tiến thì tổn thất, thoái thì bất hoà. Nam dễ
vì con mà vất vả; Nữ vì chồng mà chiụ khổ;
Thất sát, khôi canh, Kình dương đều có : là quân nhân , hay cảnh sát; và dễ lập công.
Mệnh nữ với Thiên quan :
4T nhiều Thiên quan, không có chế : dễ bị hiếp dâm; hoặc ý chí không kiên định; tính
tình hay thay đổi;
Can chi đều có Thiên quan, 4T lại có Chính quan : mệnh tái giá;
Chính quan và Thiên quan cùng trụ, 4T lại có Tỷ kiếp : chị em tranh một chồng;
QS hỗn tạp ,
– không có Thực Thương chế : làm ca kỹ hay vợ lẽ;
– có Thực Thương chế : làm vợ chính;
– 4T có Can hợp hay Chi hợp : làm vợ lẽ, hoặc có 2 chồng;
4T có 5 Thất sát : mệnh ca kỹ;
Thiên quan đóng ở :
TS, QÐ, LQ, ÐV : chồng vinh hiển;
TU, MO, TT : hôn nhân gãy đỗ;
MD : chồng thích phong lưu;
Thiên quan đóng ở đào hoa : bạc mệnh;
Thiên quan gặp KV không có giải cứu : hôn nhân gãy đỗ;
Thiên quan ở điạ chi gặp hình : vợ chồng bất hoà;
Chỉ có 1 Thiên quan, 4T lại có Thực thần, Kình dương chế phục nó : đoạt quyền chồng;

Trụ giờ có Thất sát, ngày có Kình dương : khắc chồng, hoặc làm kỹ nữ; có chế thì
không sao.
Thiên quan cách : Tuế vận gặp Chính quan thì dễ mất trinh.
4T chỉ có 1 Thất sát và 1 Chính ấn (Sát -Ấn tương sinh): mệnh tốt.
TN, Thiên quan Vượng : mệnh cô độc;
3- Chính Ấn :
Ấn có nghiã là :
– con dấu, đại biểu cho quyền lợi, địa vị, sự nghiệp, học vị, v..v..;
– sao chỉ học thuật;
– nguồn khí cuả Thân, sinh ra Thân, phù trợ Thân.
Q1-ch08-luan-10than 6 02/01/2005
Thân Nhược, QS Vượng thì mừng gặp được Chính Ấn, để rút khí cuả Quan, sinh phù cho
Thân Nhược;
Nhưng nếu Thân vượng, Ấn nhiều, lại không bị chế, là Vượng đạt đến cực đỉnh, thì đó
lại là mệnh cô hàn, hình khắc;
Chính ấn quá Vượng : là người biển lận, ít con cái (vì Ấn khắc Thương Thực – là con
cái); có gặp Tài tinh (để bị khắc chế bớt) mới có con.
Chính ấn lâm (đóng ở) :
TS : mẹ đoan chính, nhân từ, trường thọ;
MD : nghề nghiệp có nhiều biến đổi;
QÐ : xuất thân ở gia đình danh tiếng; cuộc đời hiển đạt;
LQ : có cuộc sống yên ổn (vì LQ là Lộc); có mẹ hiền;
ÐV : có thể làm quan đứng đầu 1 vùng (vì Ấn tượng trưng cho quyền lực, mà lại Ðế
vượng);
SY : có cuộc đời bình thường, gia phong nề nếp.
BH,TU,MO,TT : tình mẹ lạt lẽo; hoặc xuất thân ở gia đình tầm thường.
Chính ấn / trụ năm: nếu là hỷ ấn, người đó sinh trong gia đình phú quý, tiền đồ học
hành tốt.
Chính ấn / trụ tháng : nhân từ, hiền hậu, thông minh, khoẻ mạnh, cuộc đời ít bệnh, an
toàn;
– nếu trong 4T có Quan, Sát có thể sinh Ấn : là người phúc hậu;
– nếu trong 4T không có Thiên tài (thì Ấn không bị khắc) : có khoa bảng;

– chi tháng có Chính ấn, nhưng xung chi ngày : gia đình cha mẹ sa cơ, suy bại,
lưu lạc xa quê.
Chính ấn / chi ngày : người phối ngẫu nhân từ, hiền hậu, thông minh; nếu là hỷ ấn thì
được người phối ngẫu trợ giúp đắc lực.
Chính ấn / trụ giờ : nếu là hỷ ấn thì con cái nhân từ, thông minh, hiếu thảo.
Thiên can thấu Ấn và Điạ chi tàng Sát : là người có bộ mặt hiền từ nhưng lòng dạ rất ác
độc.
4- Thiên ấn :
4T không có Thực thì gọi Thiên Ấn hay Ðảo Thực; Có Thực thì gọi là Kiêu (đoạt Thực);
Thân Nhược thì được nó phù trợ cho; nhưng nếu gặp Thực thần là mệnh lao dịch, vất
vả (nói nôm na Thực là cái ăn cái mặc; bị đoạt mất nên vất vả khó khăn);
Thân vượng cần có Thực để làm tiết khí bớt; nếu trong mệnh gặp cả Kiêu và Thương
cũng không sao;
có cả Tài Quan : phú quý;
có QS hỗn tạp : thắng lợi nhiều, nhưng thất bại cũng lắm.
Q1-ch08-luan-10than 7 02/01/2005
Thiên Ấn quá nhiều mà không được giải (tức không có Thiên tài) thì đó là người phúc
bạc, bất hạnh, tật bệnh; hoặc con cái khó khăn (vì Ấn khắc Thương Thực – là con cái –
con cái không ra gì nên bất hạnh, vô phước).
Có cả Chính Ấn và Thiên Ấn : là người có nhiều nghề (Ấn là mẹ nuôi sống mình, cũng tức là
nghề nghiệp nuôi sống mình, có cả hai là có nhiều nghề – chính/phụ);
Thiên Ấn lâm :
TS : ít gắn bó với mẹ đẻ (vì Chính ấn mới là mẹ đẻ, trong khi đó Thiên ấn lại vượng);
QÐ, LQ , ÐV : ít gắn bó với mẹ đẻ; dễ thành đạt trong nghề phụ;
MD : nhiều nghề;
SY, BH, TU, TT : tha phương cầu thực, ít gắn bó với cha mẹ;
MO : làm việc có đầu không có đuôi;
Thai : mới ra đời đã xa mẹ.
Thiên ấn ở :
Trụ năm: khi là kỵ thần thì phá bại tổ nghiệp, làm mất thanh danh gia đình;
không có gia giáo;
Trụ tháng : thích hợp với phát triển nghề phụ, nghề tự do, dịch vụ, nghệ thuật,
diễn xuất;
Trên trụ tháng có cả Thiên Đức, Nguyệt Đức : mệnh tốt, tính nết ôn hoà.

Trụ ngày : nếu là kỵ thần thì hôn nhân không tốt, không lấy được vợ/chồng tốt
(vì kỵ thần lại đóng ở cung hôn nhân).
Trụ giờ : nếu là kỵ thần thì không lợi cho con cái, con khó thành tài, khó nuôi dạy
(vì trụ giờ là cung con cái, mà kỵ thần lại đóng ở đó – Ấn khắc thương thực – tức tử tôn).
5- Tỷ kiên (Tỷ) : có sách dịch là ngang vai, tôi nghĩ các thần khác đều gọi theo tên hán việt, bổng
không rơi vào chữ toàn Việt "ngang vai" thì thật kỳ cục, lại khó cho việc gọi tắt (Tỷ), nên chúng ta chỉ
dùng từ Tỷ kiên !
Tỷ kiên giúp đỡ Thân khi trụ ngày suy nhược;
Thân Nhược mà gặp Tỷ kiên thì rất tốt (vì được trợ giúp); nếu Tài Quan nhiều, nhờ nó giúp
Thân để khỏi mất của;
Thân vượng, có Tỷ kiên là đã vượng còn được phù trợ nên xấu : mừng gặp Quan Sát, Thực
Thương, Tài tinh để làm giảm bớt, hao tán, tiết khí Thân Vượng;
Nếu Không có Quan tinh : ít con.
Tỷ kiên lâm Vượng địa (TS, MD, QÐ, LQ, ÐV):
– anh chị em nhiều, hiếu thắng;
– không lợi cho hôn nhân;
– không lợi cho cha;
Tỷ kiên lâm :
TU, MO,TT : tuy có anh em, nhưng sớm sống xa nhau;
Q1-ch08-luan-10than 8 02/01/2005
Tỷ kiên khắc Tài tinh (Tài là tiền bạc, là vợ – đối với nam, và Thiên tài là cha) , nên khi Tỷ kiên
nhiều mà không có chế ngự (tức không có Quan Sát, Tài) thì :
– Tay chân, cấp dưới cạnh tranh nhau; bạn bè bất hoà;
– Vợ chồng không hoà thuận (khắc), hoặc kết hôn muộn;
– Tính tình thô bạo; không hoà hợp với cộng đồng; cứng nhắc, cố chấp; nhiều đố
kỵ.
– Khắc cha;
– Làm nhiều mà không được của.
Tỷ kiên ở :
Trụ năm : Có anh chị em hoặc là con nuôi;
Có xu hướng sống độc lập;
Nhà nghèo, vất vả từ bé.
Trụ tháng : Có anh chị em hoặc là con nuôi;
Có xu hướng sống độc lập;
Muốn nắm của cải, hoặc có tính lý tài;
Chi ngày : hôn nhân dễ thay đổi; muộn, hoặc tái hôn; khắc chồng hay vợ; hay
cải nhau;

gặp xung thì không lợi cho người phối ngẫu; không lợi cho đi xa ,
dễ chết nơi đất khách.
(nên nhớ là chi ngày là cung hôn nhân, mà tỷ kiên là thần khắc hôn nhân lại đóng ở đó nên
hôn nhân bất lợi).
Trụ giờ : là con nuôi; hay ít con cái.
6- Vượng Suy của Kiếp tài :
Tài là của cải, là vợ (đối với nam), thiên tài còn là cha; vì tiền mà con người phải bôn ba nên Tài là Mã;
Kiếp tài là khắc Tài, là đuổi mất mã thần hoặc bại tài, gọi tắt là kiếp.
Kiếp tài Vượng hay Suy chủ về các việc cũng giống như Vượng Suy của Tỷ (xem (5)).
4T kiếp tài quá nhiều :
vợ chồng xung đột; hôn nhân có biến;
anh em không hoà thuận, phản bội, nói xấu nhau;
nếu là kỵ thần : tính tình sống sượng, ngoan cố, không phân biệt phải trái,
thường chuốc lấy sự căm ghét, đối địch, báo oán;
Nam : khắc vợ, cướp tài của vợ, đoạt vợ người, vợ nhiều bệnh;
Nữ : mất chồng, tranh chồng, hoặc hao tổn tài, khó có của;
Can chi đều là tỷ kiếp : khắc cha, khắc hôn phối;
Kiếp tài và Thiên tài cùng trụ : không lợi cho cha, tái hôn;
nếu Thương quan là kỵ thần và Kiếp tài cùng trụ : ngạo mạn, thích cờ bạc;
Trong mệnh, hỷ tài nếu bị kiếp tài là bại tài, tổn thất vợ, đói khó;
Q1-ch08-luan-10than 9 02/01/2005
hỷ kiếp nếu có Quan là bị phá : con cái phần nhiều ngỗ ngược, hoặc con cái dễ
gặp tai ách (vì Kiếp sinh Thương Thực – là con cái – mà lại bị Quan phá);
Kiếp / trụ năm: có anh em trai; hoặc có anh em cùng cha khác mẹ;
Thích lý tài, trọng nghiã khí,
Hôn nhân hay thay đổi.
Kiếp / trụ tháng : khó có của, ham đánh bạc, đầu cơ
Tính tự trọng cao;
Ưa chưng diện;
Hay bất bình, hay mắng người.
Kiếp / chi ngày : hôn nhân muộn, hay thay đổi, hoặc tái hôn;
nam : đoạt thê tài.
Kiếp / trụ giờ : đường con cái khó khăn (trụ giờ là cung con cái, mà bị kiếp);
Có Thương quan cùng trụ : tổn hại con cái.
7- Vượng Suy của Thương quan :
Thương quan rút khí cuả Thân.

Có sách cho rằng :
– đối với Nữ Thương quan là sao con cái;
Can ngày + : con gái
Can ngày âm : con trai
– đối với Nam Thương quan làm : khắc con, giáng chức mất chức, bị đuổi học, bỏ
học, thi rớt , vì Thương quan khắc Quan (quan vận, khoa cử).
Nếu là hỷ thần hay Thương quan cách :
– hiếu thắng, thích biện bác;
– dễ dãi trong tình yêu (yêu dễ, bỏ dễ); làm việc theo cảm tính (thiếu cân
nhắc).
– thông minh tuấn tú; có tài nghệ;
Có Thương quan mà không có Tài tinh : tuy có trí tuệ nhưng phú quý không bền;
Thương quan đóng ở KÌNH DƯƠNG (đế vượng) : mệnh nô tỳ;
Thương quan đóng ở Tử : hay đố kỵ;
Nếu Tháng và/hoặc giờ có Thương quan , 4T không có Quan nhưng có Sát (thì nó hợp với
Sát : hợp thì Thương quan bị mất đi – bị tận- nghĩa là mất, hết), có hợp và không có hình xung
phá hại thì gọi là Thương quan thương tận; đây là một khái niệm rất quan trọng trong
Tử Bình :
– Thương quan thương tận và Thân vượng, Tài V, Ấn V : là mệnh đại phú quý;
– Thương quan thương tận mà không có Tài tinh thì lại bần cùng;
4T nhiều Thương quan thì khắc con cái (thái quá thì xấu);
– tuế vận gặp Thương quan : cực kỳ xấu, có thể bị tai ách, hay chết;
– tuế vận gặp Ấn : Ấn khắc chế Thương quan nên là vận tốt.
Q1-ch08-luan-10than 10 02/01/2005
Thương quan ở :
– trụ năm : làm hại tổ nghiệp;
can chi đều là Thương quan : yểu ; hoặc phú không bền;
tuế vận gặp Thương quan : có thể bị thương ở mặt (có sẹo);
– trụ tháng :
anh em xa cách, không hợp;
không kính trọng cha mẹ;
can chi đều là Thương quan : anh em xa cách; vợ chồng xa cách.
– trụ ngày :
Nam : thương tổn con;
Nữ : khắc chồng, hay bắt nạt chồng (vì chi ngày là Cung chồng, nghiã là Quan,
mà Thương quan là "làm thương tổn" Quan, tức chồng);
– trụ giờ :
Con không có hiếu; con cái gái nhiều trai ít;

Về già sống cô độc;
Trụ năm và trụ giờ đều có Thương quan : khắc con;
Chi ngày là Thương quan, và trụ giờ có Tài tinh : vinh hiển từ bé;
Nếu Thương quan là kỵ thần đóng ở trụ nào, thì thường là cung liên hệ không tốt; nếu
là hỷ thần thì không sao.
Thân vượng:
nhiều Thương quan : thành công trong tôn giáo, nghệ thuật, nhất là về biểu
diễn; và các nghề phụ;
Thương quan gặp Tài tinh thì phát phúc, hiển vinh; không có Tài tinh thì nghèo
khó.
Thân Nhược :
Thương quan gặp Sát (thì hợp Sát) : thường gặp tai ách, sóng gió.
Vì Thương quan có nghiã là làm thương tổn cho Quan, mà đối với mệnh nữ, Quan là
chồng, nên ở đây ta đặc biệt xét riêng nó cho mệnh Nữ , nó có nghiã xấu :
– Thương quan Vượng : khắc chồng; nếu có Tài tinh thì không sao (vì Thương quan
sinh Tài, Tài sinh Quan, tức là lợi cho chồng);
nếu trong 4T có Chính tài, Chính ấn thì ngược lại là mệnh tốt (vì Ấn khắc Thương
quan, và Tài làm hao tổn Thương quan, nên nó không tác hại nữa / đây là Thương quan
thương tận);
nếu không có cả hai : nghèo khó, khắc chồng, hôn nhân tan vỡ;
nếu Thiên ấn nhiều : thích trêu chọc, châm biếm người khác;
– chi ngày là Thương quan : đanh đá ; hay chửi chồng;
và nếu lại là Kình dương : chồng dễ bị tai nạn, hoặc ác tử;
– có Thương quan, không có Quan tinh : khi chồng chết thì thủ tiết (không có
Quan là không có chồng);
Q1-ch08-luan-10than 11 02/01/2005
– Thân vượng, có Thương quan lẫn Kiếp tài : mệnh nghèo;
– Thương quan và Thiên ấn cùng trụ : phá hại chồng, con;
– Thương quan gặp Quan : khắc chồng, hay có chồng mà còn có nhân tình;
– 4T có Thương quan, Thực thần, và Chính quan (chính tà hỗn độn) : hay đố kỵ;
tình ái lăng nhăng;
– gặp lưu niên Thương quan : sinh đẻ bất lợi (vậy phải coi chừng lúc muốn có thai,
phải canh tính năm lúc đẻ đừng gặp Thương quan);
– Thương quan đóng ở Thiên đức, Nguyệt đức : con cái hiếu thảo;

– Thương quan đóng ở Thiên ất quí nhân : con cái phú quý;
– Thương quan gặp Không vong : ưa tranh cải; hôn nhân có biến;
8- Vượng Suy của Thực thần (còn gọi là Thực / Tước tinh / Thọ tinh) :
nó rút khí Thân, sinh Tài, áp chế Quan Sát;
Can Chính quan, chi Thực thần : phú quí;
Can chi đều Thực thần : phúc lộc dồi dào, nhưng không thích hợp cho người công chức,
mà chỉ thích hợp với những người làm việc công cộng;
Nữ có Thực thần : hay khinh rẽ chồng;
Thực nhiều là Thương (nôm na là thương tổn) : dễ thương tổn con cái, khắc chồng.
4T nhiều Thực thần : nghèo khó, thân thể yếu (thực là ăn, ăn nhiều nên nghèo, và bệnh vì ăn),
Nữ thì sa cơ , phong trần;
nếu có Thiên ấn thì không sao (vì kiêu đoạt thực) ;
Thực nhiều, Thiên quan ít : không có con ;
Thực và Sát cùng trụ : có dịp nắm quyền bính, nhưng dễ bị vất vả, lao khổ, tai ách,
và ít con ;
Can thực thần, Chi Tỷ kiên : là người có thân thích, bạn hữu, hoặc tay chân giúp đỡ.
Can thực thần, Chi Kiếp tài : phúc đức, giàu có ; khi gặp điều xấu lại có lợi ;
4T có thực thần, kiếp tài, Thiên ấn : yểu ; có Tài nhiều : ít diễm phúc ;
Thực thần lâm :
– vượng địa (TS, QÐ, LQ, ÐV), hoặc cát thần : phúc lộc nhiều ; phần nhiều là
phúc lộc thọ toàn diện ;
– Tử tuyệt, bệnh, MD : phúc ít, bạc mệnh ;
– Mộ : yểu.
Thực thần trên trụ :
Năm : được âm phúc tổ tiên, sự nghiệp phát triển, cuộc sống yên ổn, phúc lộc.
Tháng : nếu Can là Thực, Chi là Quan : phát đạt, nếu là công chức thì càng tốt ;
nếu Chi tháng cũng là Thực : người béo khoẻ, ôn hoà ;
Ngày chi : người phối ngẫu to béo , tính nết ôn hoà ; cuộc sống no đủ ;
Q1-ch08-luan-10than 12 02/01/2005
Giờ : cuối đời có phúc;
nếu có Thiên ấn cùng trụ : cô đơn, phòng không chiếc bóng.
9- Vượng Suy của Chính tài :
gọi tắt là Tài ;Tài (bất luận Chính hay Thiên) là nguồn nuôi sống mệnh; Tài là sao
làm cho mình hao tổn (ai cũng lao tâm lao lực vì nó !) ;

Người dù Tài Vượng hay Tài Suy đều ưa nhàn, không thích lao động ; muốn của nhiều
nhưng làm ít ; phần nhiều không ham học.
Tài nhiều mà không thuần khiết : không lợi cho đường học tập, người dốt nát.
4T nhiều Chính tài : tình phá tài (nhiều vợ thì hao tài) ; không lợi cho mẹ, vì Tài khắc Ấn ;
Tài nhiều sợ Thân Nhược, dễ bị tai hoạ (vì sức yếu, không gánh nổi Tài) ;
Thân vượng, có Tài thì có thể thắng được Tài ; nhưng Thân vượng lại sợ trong mệnh
không có Tài ;
Chỉ có Thân, Tài cân bằng mệnh mới tốt ;
Thân vượng, có Chính Tài, lại gặp Thực thần : được vợ hiền trợ giúp ;
Tài Vượng lâm Vượng điạ :
Thân vượng : giàu to;
nếu có cả Chính quan : phú quý song toàn ;
nam : được vợ hiền, nội trợ tốt ;
Thân Nhược : không nghèo cũng gặp tai nạn; cầu tài cũng khó khăn ;
nam : trong nhà vợ nắm quyền (gà mái gáy );
Chính Tài lâm Suy địa : của ít ;
Tài ẩn trong Ðịa chi : Tài phong phú (có của để dành);
Tài lộ trên can : khẳng khái nhưng không có của (vì hào phóng nên phung phí tiền);
Tài có kho / mộ (Thìn tuất sửu mùi tùy Can, ví dụ nếu Ất mộc là Tài thì mùi là Tài kho), khi mộ gặp
xung, cửa kho sẽ được khai mở nên sẽ phát tài (tiền của tự nhiên rót vào) ;
nam : giàu nhưng tính keo kiệt.
Có cả Chính Tài và Kiếp tài : trong cuộc đời dễ gặp phải tiểu nhân nên bị tổn thất tiền
bạc;
Chính Tài gặp Vượng Quan, Vượng Sát : vợ hay lấn át chồng ;
Chính Tài / trụ năm : nếu Thân vượng là ông cha giàu có ;
nếu thêm Quan / can tháng : xuất thân trong gia đình phú quý.
Chính Tài / trụ tháng : là người cần cù, tiết kiệm, cha mẹ giàu , được nhờ cha mẹ.
 

Share this: