Chính Tài / chi ngày : nam được vợ giúp thành giàu ; giàu lên nhờ vợ; (vậy khuyên người này nên ổn định gia thất trước khi nghĩ đến làm giàu);
nếu gặp hình xung khắc hại : vợ chồng bất hòa

 Chính Tài / trụ giờ : con cái giàu có.
 10- Vượng Suy của Thiên tài :
 Cũng gọi tắt là Tài ;
 Chỉ cha hoặc vợ lẻ, hoặc nguồn của cải bằng nghề phụ.
 Người Thân Vượng, Tài Vượng, Quan Vượng : danh lợi đều có, phú quý song toàn ;
 Thân vượng, có Thiên tài, không có Tỷ kiếp, và/hoặc hình xung : vừa giàu vưà thọ ;
 Thiên tài trên can kỵ nhất có Tỷ kiếp : vừa khắc cha, vừa làm tổn hại vợ ;
 Can, chi đều có Thiên tài : là người xa quê, tay không lập nghiệp trở nên giàu có, tình
 duyên tốt đẹp (vậy nên khuyên người đó nên mạnh dạn ly hương lập nghiệp nếu có cơ hội).
 Nữ Thân Nhược, kỵ gặp Tài (nhiều, V) : phần nhiều gây phiền phức, liên luỵ đến cha
 đẻ.
 Thiên tài lâm :
 Vượng địa (TS, QÐ, LQ, ÐV) : hoà thuận với cha, với thê thiếp; được của nhờ
 cha, nhờ vợ ; cha và vợ đều thọ, vinh hiển ;
 MD : háo sắc phong lưu ;
 Mộ : cha hoặc vợ chết sớm ;
 Tử, Tuyệt, hình xung : cha hoặc vợ suy khốn, thậm chí gặp nạn ;
 Thiên tài / can năm : là người xa quê, đời lận đận ;
 nếu có Tỷ kiếp / chi năm : cha rời xa quê hương, chết nơi đất khách ;
 Thiên tài / can năm và chi năm : tuổi trẻ đã làm con nuôi ;
 Thiên tài / can năm và can tháng : cha nắm quyền trong nhà ; hoặc mình từ bé đã
 làm con nuôi ;
 Thiên tài / trụ tháng
 nếu có Tỷ kiếp / trụ giờ : trước giàu , sau nghèo (gọi là Tài trước Tỷ sau) ;
 Thiên tài / chi ngày : (Nam) vợ lẻ cướp quyền vợ cả ; thiên vị vợ lẻ ;
 nếu toạ sao Tướng : lấy được vợ con nhà cao quý ;
 Thiên tài / trụ ngày và trụ giờ, và năm tháng không có Thiên tài, không bị hình xung, tỷ kiếp : trung niên trở đi mới phát đạt ;
 Thiên tài / can giờ và Tỷ kiếp / chi giờ : thương tổn vợ, tài sản bị phá tán ; nếu gặp
 Thực thần, Thương quan thì không sao.
 B- Khảo hướng thứ hai : xét theo từng lãnh vực cuả đời thường, như :
 – tổ nghiệp, cha mẹ, anh em, vợ/chồng, con cái;
 Q1-ch08-luan-10than 14 02/01/2005
 – quan vận, tài vận, hôn nhân, tai hoạ v..v…; có tổng hợp với các Thần, Sát, và
 vòng Trường sinh, tức là một cách toàn diện, theo các vận trình của đời
 người.
 Ðể tránh lặp lại, và sau khi bạn đã nắm vững những phần cơ bản trong quyển 1 này,
 mời bạn xem tiếp khảo hướng tổng hợp trong quyển 2.
 
 Chương 9
 NGUYÊN CỤC NGŨ HÀNH,
 THỂ TÍNH và CÁCH CỤC CỦA TỨ TRỤ
 Nguyên cục ngũ hành
 thể tính
 cách cục
 chính cách
 thành bại của chính cách
 thành công
 bị phá hoại
 thái quá
 bất cập
 ngoại cách
 Khoa Tử Bình xây dựng hệ thống của nó trên ngũ hành sinh khắc, qua Can-Chi Tứ trụ ,
 nhưng trung tâm của nó là Can ngày và Lệnh tháng.
 Về ngũ hành, trong 4t, chúng ta có khái niệm « nguyên cục ngũ hành » có những ứng
 dụng khá quan trọng.
 NGUYÊN CỤC NGŨ HÀNH CUẢ TỨ TRỤ
 1) Ðịnh nghiã : nguyên cục ngũ hành hay toàn cục ngũ hành là tổng số khí 5 hành của
 tứ trụ.
 2) Cách tính : lấy 1 tứ trụ điển hình (8/6/2003 DL)
 Quý mùi Mậu ngọ ngày Nhâm Tý Giáp Thìn tỷ kiếp : trung niên trở đi mới phát đạt ;
 Thiên tài / can giờ và Tỷ kiếp / chi giờ : thương tổn vợ, tài sản bị phá tán ; nếu gặp
 Thực thần, Thương quan thì không sao.
 B- Khảo hướng thứ hai : xét theo từng lãnh vực cuả đời thường, như :
 – tổ nghiệp, cha mẹ, anh em, vợ/chồng, con cái;
 
 – quan vận, tài vận, hôn nhân, tai hoạ v..v…; có tổng hợp với các Thần, Sát, và
 vòng Trường sinh, tức là một cách toàn diện, theo các vận trình của đời
 người.
 Ðể tránh lặp lại, và sau khi bạn đã nắm vững những phần cơ bản trong quyển 1 này,
 mời bạn xem tiếp khảo hướng tổng hợp trong quyển 2.
 Q1-ch08-luan-10than 15 02/01/2005
 Chương 9
 NGUYÊN CỤC NGŨ HÀNH,
 THỂ TÍNH và CÁCH CỤC CỦA TỨ TRỤ
 Nguyên cục ngũ hành
 thể tính
 cách cục
 chính cách
 thành bại của chính cách
 thành công
 bị phá hoại
 thái quá
 bất cập
 ngoại cách
 Khoa Tử Bình xây dựng hệ thống của nó trên ngũ hành sinh khắc, qua Can-Chi Tứ trụ ,
 nhưng trung tâm của nó là Can ngày và Lệnh tháng.
 Về ngũ hành, trong 4t, chúng ta có khái niệm « nguyên cục ngũ hành » có những ứng
 dụng khá quan trọng.
 NGUYÊN CỤC NGŨ HÀNH CUẢ TỨ TRỤ
 1) Ðịnh nghiã : nguyên cục ngũ hành hay toàn cục ngũ hành là tổng số khí 5 hành của
 tứ trụ.
 2) Cách tính : lấy 1 tứ trụ điển hình (8/6/2003 DL)
 Quý mùi Mậu ngọ ngày Nhâm Tý Giáp Thìntỷ kiếp : trung niên trở đi mới phát đạt ;
 Thiên tài / can giờ và Tỷ kiếp / chi giờ : thương tổn vợ, tài sản bị phá tán ; nếu gặp
 Thực thần, Thương quan thì không sao.
 B- Khảo hướng thứ hai : xét theo từng lãnh vực cuả đời thường, như :
 – tổ nghiệp, cha mẹ, anh em, vợ/chồng, con cái;
 Q1-ch08-luan-10than 14 02/01/2005
 – quan vận, tài vận, hôn nhân, tai hoạ v..v…; có tổng hợp với các Thần, Sát, và
 vòng Trường sinh, tức là một cách toàn diện, theo các vận trình của đời
 người.
 Ðể tránh lặp lại, và sau khi bạn đã nắm vững những phần cơ bản trong quyển 1 này,
 mời bạn xem tiếp khảo hướng tổng hợp trong quyển 2.
 Q1-ch08-luan-10than 15 02/01/2005
 Chương 9
 NGUYÊN CỤC NGŨ HÀNH,
 THỂ TÍNH và CÁCH CỤC CỦA TỨ TRỤ
 Nguyên cục ngũ hành
 thể tính
 cách cục
 chính cách
 thành bại của chính cách
 thành công
 bị phá hoại
 thái quá
 bất cập
 ngoại cách
 Khoa Tử Bình xây dựng hệ thống của nó trên ngũ hành sinh khắc, qua Can-Chi Tứ trụ ,
 nhưng trung tâm của nó là Can ngày và Lệnh tháng.
 Về ngũ hành, trong 4t, chúng ta có khái niệm « nguyên cục ngũ hành » có những ứng
 dụng khá quan trọng.
 NGUYÊN CỤC NGŨ HÀNH CUẢ TỨ TRỤ
 1) Ðịnh nghiã : nguyên cục ngũ hành hay toàn cục ngũ hành là tổng số khí 5 hành của
 tứ trụ.
 2) Cách tính : lấy 1 tứ trụ điển hình (8/6/2003 DL)
 Quý mùi Mậu ngọ ngày Nhâm Tý Giáp Thìn
 
 tỷ kiếp : trung niên trở đi mới phát đạt ;
 Thiên tài / can giờ và Tỷ kiếp / chi giờ : thương tổn vợ, tài sản bị phá tán ; nếu gặp
 Thực thần, Thương quan thì không sao.
 B- Khảo hướng thứ hai : xét theo từng lãnh vực cuả đời thường, như :
 – tổ nghiệp, cha mẹ, anh em, vợ/chồng, con cái;
 Q1-ch08-luan-10than 14 02/01/2005
 – quan vận, tài vận, hôn nhân, tai hoạ v..v…; có tổng hợp với các Thần, Sát, và
 vòng Trường sinh, tức là một cách toàn diện, theo các vận trình của đời
 người.
 Ðể tránh lặp lại, và sau khi bạn đã nắm vững những phần cơ bản trong quyển 1 này,
 mời bạn xem tiếp khảo hướng tổng hợp trong quyển 2.
 Q1-ch08-luan-10than 15 02/01/2005
 Chương 9
 NGUYÊN CỤC NGŨ HÀNH,
 THỂ TÍNH và CÁCH CỤC CỦA TỨ TRỤ
 Nguyên cục ngũ hành
 thể tính
 cách cục
 chính cách
 thành bại của chính cách
 thành công
 bị phá hoại
 thái quá
 bất cập
 ngoại cách
 Khoa Tử Bình xây dựng hệ thống của nó trên ngũ hành sinh khắc, qua Can-Chi Tứ trụ ,
 nhưng trung tâm của nó là Can ngày và Lệnh tháng.
 Về ngũ hành, trong 4t, chúng ta có khái niệm « nguyên cục ngũ hành » có những ứng
 dụng khá quan trọng.
 NGUYÊN CỤC NGŨ HÀNH CUẢ TỨ TRỤ
 1) Ðịnh nghiã : nguyên cục ngũ hành hay toàn cục ngũ hành là tổng số khí 5 hành của
 tứ trụ.
 2) Cách tính : lấy 1 tứ trụ điển hình (8/6/2003 DL)
 Quý mùi Mậu ngọ ngày Nhâm Tý Giáp Thìn
 
 Can : qui ra ngũ hành.
 CAN quý mậu nhâm giáp
 hành mộc thổ thuỷ mộc
 đếm 1 1 1 1
 Chi : phải liệt kê các can tàng độn trong từng điạ chi, rồI qui chúng ra ngũ hành.
 năm tháng ngày giờ
 CHI mùi ngọ tý thìn
 Can kỷ ất đinh đinh kỷ quý mậu quý ất
 tàng
 hành thổ mộc hoả hoả thổ thuỷ thổ thuỷ mộc
 đếm 1 1 1 1 1 1 1 1 1
 Cộng số của từng hành ta có nguyên cục ngũ hành của tứ trụ này như sau :
 kim mộc thuỷ hoả thổ
 
 
 
 3) Ứng dụng : từ nguyên cục ngũ hành cuả tứ trụ người ta có thể suy ra tính tình và
 bệnh tật của người ấy , nhất là một hành nào đó nhiều hay ít, mà có cùng hành với hay
 sinh, khắc hành CAN NGÀY.
 Chúng ta thường nghe nói, hay đọc thấy : hoả nhiều thì …, mộc ít thì …., nhưng chỉ qua
 nguyên cục ngũ hành ta mới biết được hành nào nhiều, ít, hay thiếu khuyết, và nên chú
 trọng đến những cas thiếu khuyết, hay quá nhiều, hay quá ít vì đó là những dấu chỉ cuả
 mệnh "có vấn đề ".
 Rồi kết hợp với Thể tính (dưới đây), hay với các phương pháp xác định vượng suy,
 cường nhược cuả các can như ta đã biết (dùng thời lệnh, hay bảng TS), thì ta sẽ thấy
 ngay các mặt tính tình hay bệnh tật của một người.
 (xin xem quyển 2, chương 12 « Bệnh , hoạ » và chương 13 « Tính cách »).
 Trong ví dụ trên, người này thiếu hẳn hành kim, còn hành hoả hơi ít nhưng được cái là
 sinh mùa hè nên hoả vượng. Thiếu hành Kim thì tính tình không nghiã khí (không hào
 hiệp); ưa màu trắng (để bổ sung cái thiếu); về sức khoẻ thì dễ bị bệnh về phổI hay ruột
 già.
 Còn về tương quan giữa Can ngày và Lệnh tháng, nó cho ta nhiều tổ hợp có ứng
 dụng khác nhau, trong đó có Thể tính của MC, và cách cục. Ở chương này, chúng ta
 nghiên cứu sâu 2 cơ sở này; từ mỗi cái đều có thể ứng dụng để tìm Dụng thần, hay
 ngay cả luận đoán mệnh khái quát.
 THỂ TÍNH
 Ðịnh nghiã : Thể tính, hay Thể, là bản thể ngũ hành của Can ngày sinh, phối hợp với
 thời lệnh của tháng sinh (tức là muà). NgườI ta gọI tên thể tính = Muà + hành Can
 NGÀY, ví dụ Thu-mộc, đông-hoả …
 Thể tính giúp ta nắm bắt được nhanh chóng khái quát là Thân Vượng hay Thân Nhược
 (dĩ nhiên không hoàn chỉnh).
 Thí dụ : sinh ngày Giáp thân, tháng 8 (dậu). Giáp thuộc mộc; tháng 8 thời lệnh là muà
 thu, vậy Thể là Thu Mộc. Muà thu Kim được lệnh nên vượng ; Giáp mộc bị Kim khắc thì
 suy nên Thân nhược.
 Phối thời lệnh và ngũ hành của can ngày, ta có bảng sau đây :
 
 Mùa > Xuân Hạ Thu Ðông
 Tháng > Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sửu
 Can ngày v 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
 Giáp Ất Xuân mộc Hạ mộc Thu mộc Ðông mộc
 Bính Ðinh Xuân hỏa Hạ hỏa Thu hỏa Ðông hỏa
 Mậu Kỷ Xuân Thổ Hạ Thổ Thu Thổ Ðông Thổ
 Q1-ch9-tim-Cachcuc 2 02/01/2005
 Canh Tân Xuân Kim Hạ Kim Thu Kim Ðông Kim
 Nhâm Quý Xuân Thuỷ Hạ Thuỷ Thu Thuỷ Ðông Thuỷ
 Ứng dụng của Thể tính quan trọng nhất vẫn là để xác định VS của Can ngày, và từ đó
 tìm DT (xem §1).
 Các muà Xuân , Thu thì khí hậu dễ chịu, nên không cần điều hầu (*), còn Hạ và Đông
 thì nóng và lạnh gay gắt, nên phải điều hầu ; đặc biệt Hạ-hoả, Đông-thuỷ cực nhiệt và
 cực hàn ; bạn thấy ngay :
 – người hoả quá vượng thì tính tình nóng nảy ; và dễ bị bệnh tim mạch, huyết
 áp ; hay đau mắt.
 – người thuỷ quá vượng thì tính tình thâm hiểm ; và dễ bị bệnh thận ; …
 – xuân mộc hay thu kim thì hành tương ứng cũng rất vượng, nhưng không gay
 gắt bằng.
 – tương tự , ta cũng có thể hình dung VS cuả Can Ngày qua các Thể tính khác.
 (*) khái niệm này sẽ có mục chuyên đề.
 Đến đây, khi đã hiểu nguyên cục ngũ hành, và Thể tính cuả mệnh, có lẽ bạn đã lĩnh hội
 được ý nghiã cuả các câu : hành x nhiều thi …., thái quá thì …

Share this: