(Bạn có thể nhảy qua đọc ngay chương 16 để tư tưởng được liên tục cho 2 mục/khái
niệm này).
CÁCH CỤC
I – Ðịnh nghiã :
Có người hỏi móc : Tứ trụ gồm 8 chữ, tổ hợp có khoảng 500.000 trường hợp, làm sao có
thể dùng để dự đoán cho hàng tỷ người ? Xin thưa khoa thống kê và thăm dò dư luận
chỉ cần một mẩu dân số (échantillon) nhỏ cũng đủ đưa ra những kết luận chính xác.
Và 500.000 trường hợp ấy đã là một "dân số" quá lớn nên phải qui gộp lại thành những
thể loại có cùng tính chất như nhau, trong khoa Tứ trụ gọi là cách cục (cách của Mệnh
cục), còn gọi tắt là CÁCH : Có những cách cục như sau :
– TA được sinh trợ;
– TA bị áp chế (khắc);
– TA bị hao tổn;
– TA bị tiết khí;
(nhắc lại : TA là Can ngày, còn gọi là Thân, hay mệnh chủ, hay nhật nguyên)
đó là những cách chính thức (gọi là chính cách), dễ thấy, chiếm đại đa số các mệnh; còn
có những ngoại lệ như trường hợp TA quá mạnh, hay quá yếu … một cách rất khách
quan, gọi là ngoại cách thì hiếm hơn nhưng đòi hỏi chúng ta một sự chú tâm đặc biệt, ta
sẽ xét chi tiết sau .

Để phán đoán nó thành hay bại, thái quá hay bất cập, trước hết ta phải xác định được
là TA thế nào cái đã, cụ thể là Vượng hay Suy, mạnh hay yếu. Vì chỉ biết được như thế,
ta mới có thể so sánh lực lượng giữa TA và các đối tác, ở đây tức là các Can Chi khác.
Ta mạnh thì cần tiết chế bớt;
Ta yếu thì cần được phù trợ;
Ta mạnh mà còn được trợ giúp thêm là làm hại ta;
Ta yếu mà còn bị khắc chế, hay tổn hao, tiết khí thêm là làm hại ta;
Kẻ làm hại ta mà bị khắc chế thì ta được cứu, được lợi;
Kẻ giúp đỡ ta mà bị khắc chế thì ta sẽ bất lợi;
chỉ có TA quân bình mới là tốt nhất;
Và đó cũng là ý nghiã sâu xa của Dụng thần, cái làm cho Mệnh cục được quân bình.
Từ cách cục mà ta định được Dụng thần : (chi tháng + can ngày => cách cục => Dụng thần)
Đó cũng là ý nghiã của thuyết Trung Dung của Khổng giáo, đã được vận dụng vào mệnh
lý học. Trong trường chính trị, quan trường, thương trường, hay quân sự, ngoại giao, cũng đều như thế.
Học một mà suy nghiệm biết nhiều không phải lý thú lắm sao ? Cách lý luận trong mệnh
lý học chỉ có thế, có gì là mê tín dị đoan đâu ?!
Chúng ta sẽ lần lượt xét :
Chính cách
Ngoại cách.
I- CHÍNH CÁCH
Cách xác định :
Nói chung, phái chú trọng cách cục trong mệnh lý nhấn mạnh vai trò cực kỳ quan trọng
của Lệnh tháng trên Thân (can ngày).
(xem bảng Ðiạ chi tàng Can)
Ta đã biết mỗi điạ chi có tàng chứa từ 1 đến 3 can , gọi là chánh khí (hay bản khí),
trung khí và dư khí sắp theo thứ tự từ trái sang phải. Vì căn cứ trên Chi Tháng nên ta ở đây
chỉ xét các CAN TÀNG cuả nó .
Trước hết lấy can bản khí , xem thử có can nào của Tứ trụ giống như nó không (CAN của
Tứ trụ gọi là CAN LỘ) ; nếu có thì lấy can ngày phối với nó, thành "thần" nào (giống y như
cách tìm 10 thần), thì lấy tên thần đó làm tên cách (ví dụ chính quan cách);
Nếu can bản khí không có can lộ, và có can trung khí lộ, ta lấy can ngày phối với Can
trung khí, thành "thần" nào, thì lấy tên thần đó làm tên cách (ví dụ chính tài cách);
Q1-ch9-tim-Cachcuc 4 02/01/2005
Nếu can trung khí không có can lộ, và có can dư khí lộ, ta lấy can ngày phối với Can dư
khí, thành "thần" nào, thì lấy tên thần đó làm tên cách;
Bạn có thể hỏi tại sao phải có Can lộ giống nó ? Xin thưa vì khi vừa có ở trên, vừa có ở
dưới, thì Thiên Can ấy thông gốc (có gốc rễ) với dưới địa chi , do đó bền chặt hơn
những Can khác (nhắc lại : đây là quan niệm trời đất tương thông với nhau, trời che đất chở), do đó
nó được chọn.
Chú ý : dù là can tàng độn nào, nếu có ngũ hành = ngũ hành ngày can thì không lấy làm chính cách, vì
nó là tỷ kiếp, xét về mặt ngũ hành nó cũng như TA (can ngày) mà thôi .
Trong trường hợp cả 3 can tàng không có can tương ứng lộ lên Tứ trụ, thì mệnh đó
không có cách cục; phải tạm chọn một chữ nào quan trọng nhất để làm tên cách cục.
Thường đó là Can không bị khắc , hợp, hình, xung, phá .
Nếu Chi Tháng không bị thương tổn, cả 3 can tàng đều lộ rõ thiên can, hoặc chỉ lộ rõ 2
thiên can thì chọn cái sinh vượng hoặc cái mạnh hơn làm cách cục .
Tên gọi giống như tên 10 thần, nhưng vì không kể tỷ, kiếp (vì chúng được xếp vào ngoại cách) nên chỉ còn 8 cách (bát cách) thường gặp : Chính tài, thiên tài, chính quan, thất
sát, chính ấn, thiên ấn, thực thần, thương quan.
Có sách thì vẫn kể Tỷ, Kiếp dưới tên Kiến Lộc và Kình dương (Dương nhận) cách.
Chúng ta lấy 1 Ví dụ cho dễ thấy :
Can ngày là Giáp, sinh tháng Dần; dần chứa giáp, bính, mậu theo thứ tự từ trái sang
phải là : Bản khí, trung khí, và dư khí.
– đầu tiên phải xem "bản khí" giáp mộc : nếu dần bị xung khắc, phá hại , giáp mộc sẽ
vô khí thì lấy bính, mậu để tìm cách cục ; nếu không thì xem Giáp có lộ ở trên các can
không. Nếu có thì lấy giáp làm cách cục ; bảng B cho ta cách Kiến lộc.
– nếu dần mộc không bị thương tổn, mà Giáp không lộ trên Can, thì xem trong 2 can
bính , mậu có chữ nào lộ rõ trên can không,
nếu có Bính lộ thì lấy Bính làm cách cục; bảng B cho ta cách Thực thần.
nếu có Mậu lộ thì lấy Mậu làm cách cục; bảng B cho ta cách Thiên tài.
– nếu dần mộc không bị thương tổn, cả 3 can giáp, bính, mậu đều lộ rõ thiên can, hoặc
chỉ lộ rõ 2 thiên can thì chọn cái sinh vượng hoặc cái mạnh hơn làm cách cục .
Chú ý : Có sách chỉ lấy Can BẢN khí (và không cần xét nó có Can lộ giống nó hay không) phối
với can ngày để định cách cục, mà không cần xét đến các can tàng khác. Cũng đại bộ
phận đúng, vì Lệnh tháng là cương lĩnh, ngũ hành của nó (tức của Can bản khí) vượng
nhất rồi.
Người xưa xem số đã lấy cách cục làm trọng, vì mệnh người ấy từ một đám hỗn mang,
ta đã quy về một mẩu dân số nhỏ để cứu xét. Và đây cũng là bước thứ nhất, vì chỉ khi

nào định được cách cục mới tìm được Dụng thần, và hỷ thần, kỵ thần của mệnh, mấu
chốt của khoa Tử Bình.
Ðể dễ nhớ, dễ lập bảng số cho nhanh, dù ta đã biết cách tìm tên cách cục, ta dùng bảng
sau đây, còn nên dành thì giờ để thâm hiểu những hỷ, kỵ của các cách.
Về việc định cách cục, có 2 phái :
– Phái chỉ căn cứ trên lệnh tháng, tức là CHI Tháng, đúng ra là Can bản khí tàng
chứa trong Chi tháng mà thôi; dù có Can lộ giống nó hay không. Ta có bảng A;
– Phái chỉ căn cứ trên lệnh tháng, tức là CHI Tháng, nhưng dùng tất cả các Can

tàng chứa trong Chi tháng, có can lộ, tùy trường hợp. Ta có bảng B.
Cả hai phái đều dùng Can ngày phối với Can trong chi tháng đã chỉ định, y như
cách tìm 10 thần ; chỉ khác tên gọi ở 2 trường hợp : cách cục thì gọi « Kiến lộc » và
« Dương nhận » (cả hai đều là ngoại cách), còn 10 thần thì gọi là « Tỷ kiên » và « Kiếp tài».
Và vì không kể 2 cách Kiến lộc và Kình dương, nên so với 10 thần, chính cách chỉ có 8,
gọi là BÁT CÁCH.

Bảng A – CÁCH CỤC
(theo Can bản khí tàng trong chi tháng)
Can ngày Giáp Ất Bính Ðinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý
Tháng
1 Dần Kiến Thiên Chính Thiên Chính Thiên Chính Thực Thươg
lộc ấn ấn quan quan tài tài thần quan
2 Mão Dương Kiến Chính Thiên Chính Thiên Chính Thiên Thươg Thực
nhận lộc ấn ấn quan quan tài tài quan thần
3 Thìn Thiên Chính Thực Thươg Thiên Chính Thiên Chính
tài tài thần quan ấn ấn quan quan
4 Tị Thực Thươg Kiến Kiến Chính Thiên Chính Thiên Chính
thần quan lộc lộc ấn quan quan tài tài
5 Ngọ Thươg Thực Dương Kiến Dương Kiến Chính Thiên Chính Thiên
quan thần nhận lộc nhận lộc quan quan tài tài
6 Mùi Chính Thiên Thươg Thực Chính Thiên Chính Thiên
tài tài quan thần ấn ấn quan quan
7 Thân Thiên Chính Thiên Chính Thực Thươg Kiến Thiên Chính
quan quan tài tài thần quan lộc ấn ấn
8 Dậu Chính Thiên Chính Thiên Thươg Thực Dương Kiến Chính Thiên
quan quan tài tài quan thần nhận lộc ấn ấn
9 Tuất Thiên Chính Thực Thươg Thiên Chính Thiên Chính
tài tài thần quan ấn ấn quan quan
10 Hợi Thiên Chính Thiên Chính Thiên Chính Thực Thươg Kiến
ấn ấn quan quan tài tài thần quan lộc
11 Tý Chính Thiên Chính Thiên Chính Thiên Thươg Thực Dương Kiến
ấn ấn quan quan tài tài quan thần nhận lộc
12 Sửu Chính Thiên Thực Thươg Chính Thiên Chính Thiên
tài tài thần quan ấn ấn quan quan

Bảng B – CÁCH CỤC
(tuỳ Can tàng trong chi tháng được chọn)
Can tàng >
Can ngày v Giáp + ất – Bính + Đinh – mậu + kỷ – Canh + Tân – Nhâm + Quý –
Kiến dương thực Thương thiên Chính Thiên Chính Thiên chính
Giáp + lộc nhận thần quan tài tài quan quan ấn ấn
Kiến thương thực Chính Thiên Chính Thiên Chính thiên
ất – lộc quan thần tài tài quan quan ấn ấn

thiên chính Kiến dương thực Thương Thiên chính thiên chính
Bính + ấn ấn lộc nhận thần quan tài tài quan quan
chính thiên Kiến Thương thực Chính thiên chính thiên
Đinh – ấn ấn lộc quan thần tài tài quan quan
Thiên chính Thiên thương Kiến dương thực thương thiên chính
mậu + quan quan ấn quan lộc nhận thần quan tài tài
Chính thiên Chính Thiên Kiến Thương thực chính thiên
kỷ – quan quan ấn ấn lộc quan thần tài tài
thiên chính Thiên chính Thiên Chính Kiến dương thực thương
Canh + tài tài quan quan ấn ấn lộc nhận thần quan
chính thiên Chính thiên chính thiên Kiến thương thực
Tân – tài tài quan quan ấn ấn lộc quan thần
thực Thương thiên chính thiên chính thiên chính Kiến dương
Nhâm + thần quan tài tài quan quan ấn ấn lộc nhận
thương thực chính thiên chính thiên chính thiên Kiến
Quý – quan thần tài tài quan quan ấn ấn lộc
(những ô bỏ trống có sách vẫn cho là Dương nhận cách ; có sách không kể luôn Can Mậu +)
Q1-ch9-tim-Cachcuc 8 02/01/2005
Xem thế thì đủ biết cách cục có quá nhiều, lại mỗi sách một khác. Bạn phải chọn lựa cái
đơn giản, dễ nhớ nhất – chẳng hạn dùng bảng A (ban đầu không nên sa vào mê hồn trận, mất
thì giờ và dễ chán), và nhất là phải biết cách cục để làm gì. Nhắc lại cũng không thừa : để
tìm Dụng thần, nhưng tùy theo TV hay TN !
nhắc lại :
chi tháng + can ngày => (xác định) cách cục
Cách cục => (xác định) dụng thần, hỷ thần, kỵ thần.
Cách định Dụng thần theo cách cục như thế nầy là cách cổ điển, không được toàn diện bằng cách xác
định Dụng thần từ Thân vượng hay Thân nhược; mà sự xác định Vượng , Nhược của Can ngày (Thân,
TA), phải qua sự cân bằng tổng hợp tất cả các Can-Chi Tứ trụ rất nghiêm nhặt, chứ không phải chỉ thuần
trên Lệnh tháng, dù rằng LT luôn luôn đóng vai trò chủ đạo.
Đúng ra thì ngay cả « phái cách cục » khi định Dụng thần trong khoa Tứ trụ cũng phải căn cứ trên TV hay
TN .
Trong thực hành, trước hết nên coi MC có thuộc NGOẠI CÁCH không (rất ít gặp /
ngoại trừ kình dương và kiến lộc xét riêng), nếu có thì ta chỉ xét ngoại cách, nếu không
phải ngoại cách thì nên theo thứ tự sau đây sau để định cách cục :
1) Nếu tháng chi = thìn, tuất, sửu, mùi : dù bất cứ can ngày nào, nếu gặp các
chi tháng này đều là tháng "tạp-khí " (vì đó là các tháng cuối cuả 4 muà, tháng giao
mùa, có trong cả 4 muà nên bị gọi là "tạp" khí, chúng có tới 3 can tàng độn, tức là 3
hành khác nhau) ; không có cách kiến lộc và cách kình dương cho các trường hợp này;
2) Những chi tháng khác :
a) xem ngay chi tháng + can ngày có cách kiến lộc và cách kình dương (là
ngoại cách) hay không :
* Chi tháng là Lộc (lâm quan) : là cách kiến lộc;
* Chi tháng là Ðế vượng : là cách kình dương (**) hay dương nhận cách .

có sách nói chỉ 4 CAN dương (Giáp, Bính, Canh, Nhâm mới có cách này );
có sách nói cả 5 CAN dương (Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm mới có cách này);
cũng vì Dương (+) nên mới chỉ dùng các can dương mà thôi.
có sách nói tất các CAN ngày bất kể âm dương, miễn là chi tháng Ðế vượng cuả
nó thì đều có cách này;
(**) Theo thiển ý , dùng chữ kình dương thống nhất với tử vi đẩu số hơn nên tôi dùng
trong sách này;
b) Nếu không, xem can ngày + can tàng độn trong chi tháng như đã trình bày
trên đây.
Chính cách là 8 cách thường gặp nhất. Ta tiếp tục đi sâu vào 8 cách này để xem chúng
thành công hay bị phá hoại, thái quá hay bất cập.
Q1-ch9-tim-Cachcuc 9 02/01/2005
CÁCH CỤC THÀNH, BẠI, THÁI QUÁ, BẤT CẬP
Ðã định được cách cục, nhưng chúng ta phải xét xem cách cục đó là thành công (dĩ
nhiên là tốt) hay bị phá hoại (dĩ nhiên là xấu), thái quá hay bất cập (đều xấu), rồi từ đó
mới định được Dụng thần chính xác. Dù bị phá hoại, hay thái quá, bất cập, nhưng nếu
có thuốc chưã trong mệnh thì cũng vẫn là mệnh tốt.
Chúng ta lần lượt xét các khái niệm này trên từng cách một cuả 8 cách. Và cách tìm DT
cho từng trrường hợp sẽ đề cập ở chương sau.
1- Cách cục thành công : là ngũ hành được phối hợp quân bình, mệnh tốt.
Chính quan cách
1- TV (TS, ÐV, QÐ), có Tài tinh sinh Quan tinh.
2- TN (TH, DG, SY), Chính quan cường mạnh, có Ấn sinh Nhật nguyên.
3- Chính quan không có Thất sát hỗn tạp.
Thiên tài, Chính tài cách
1- TV (TS, ÐV, QÐ), Tài tinh cũng cường, lại gặp Quan tinh.
2- TN (TH, DG, SY), Tài tinh cường, có Ấn và Tỷ hộ Nhật nguyên.
3- TV, Tài tinh yếu, có Thương Thực sinh Tài.
Thiên ấn, Chính ấn cách
1- TV (TS, ÐV, QÐ), Ấn yếu, có Quan, Sát mạnh.
2- TV (TS, ÐV, QÐ), Ấn cường, có Thương, Thực rút khí của Nhật nguyên.
3- TV, nhiều Ấn tinh, có Tài tinh lộ và mạnh.
Thực thần cách
1- TV (TS, ÐV, QÐ), Thực thần cũng cường, lại gặp Tài tinh.
2- TV (TS, ÐV, QÐ), Sát quá mạnh, Thực thần chế ngự Thất sát nhưng không
nên có Tài tinh, nếu có mà nhược thì không sao.

3- TN, Thực thần mạnh, có Ấn sinh Nhật nguyên.
Thất sát cách
1- Thân rất Vượng (TS, LỘC, ÐV).
2- TV (TS, ÐV, QÐ), Sát càng mạnh hơn, có Thực thần chế ngự Thất sát.
3- TN, Sát mạnh, có Ấn tinh sinh Nhật nguyên.
4- Nhật nguyên và Thất Sát quân bình, không có Quan tinh hỗn tạp.
Thương quan cách
1- TV (TS, ÐV, QÐ), Thương quan mạnh, có Tài tinh lộ.
2- TN (TH, DG, SY), Thương quan mạnh, có Ấn tinh sinh Nhật nguyên.
3- TN, Thương quan mạnh, có Thất Sát và Ấn lộ.
4- TV, Sát mạnh, có Thương quan chế Sát tinh.
2- Cách cục bị phá hoại : nói chung là cái tốt bị phá, cái xấu lại được phù trợ; ta thấy
ngay mà mệnh xấu.
Có 1 điểm chung là hễ gặp hình, xung, hại thì cách nào cũng bị phá hoại.
Q1-ch9-tim-Cachcuc 10 02/01/2005
Chính quan cách
1- Có Thương quan, nhưng không có Ấn;
2- Gặp phải hình, xung, hại;
3- Có Thất sát hỗn tạp.
Thiên tài, Chính tài cách
1- TV, Tài tinh yếu, Có nhiều Tỷ Kiếp;
2- Gặp phải hình, xung, hại;
3- TN, Thất sát mạnh, Tài cũng mạnh, sinh Sát tinh hại Nhật nguyên.
Thiên ấn, Chính ấn cách
1- TN, Ấn cũng yếu, Tài tinh mạnh phá Ấn;
2- Gặp phải hình, xung, hại;
3- TN, Thất sát quá mạnh, lại có Quan tinh hỗn tạp.
Thực thần cách
1- TV, Thực thần yếu, lại gặp Thiên Ấn;
2- Gặp phải hình, xung, hại;
3- TN, có Thực thần mạnh, lại có Tài tinh, Thất sát lộ.
Thất sát cách
1- TV, không có Ấn;
2- Gặp phải hình, xung, hại;
3- Tài tinh mạnh sinh Sát, lại không có Thương Thực chế Thất sát.
Thương quan cách
1- gặp phải Quan tinh;
2- Gặp phải hình, xung, hại;
3- TN, lại nhiều Tài tinh .
4- TV, Thương quan yếu, lạI nhiều Ấn tinh.
Ngoài việc xét cách cục thành công hay bị phá hoại , chúng ta còn phải xét thêm là nó
thái quá hay bất cập .
3- Cách cục thái quá : nhấn mạnh đến "nhiều / ít" quá.
Chính quan cách
Quan tinh mạnh lại nhiều, còn Nhật nguyên yếu;
Quan tinh mạnh, Nhật nguyên yếu, lại gặp nhiều Tài tinh;

Thiên tài, Chính tài cách
Tài tinh mạnh lại nhiều, còn Nhật nguyên quá yếu;
Tài tinh mạnh, Nhật nguyên yếu, lại gặp nhiều Thực Thương;
Thiên ấn, Chính ấn cách
Ấn tinh mạnh, Nhật nguyên yếu, Tài yếu;
Ấn tinh mạnh, Tỷ Kiếp nhiều, Thực yếu, Thương yếu, Tài Quan cũng yếu;
Q1-ch9-tim-Cachcuc 11 02/01/2005
Thực thần cách, Thương quan cách
Thực, Thương nhiều và mạnh, Nhật nguyên yếu, không có Ấn, lại có Tài
mạnh;
TV, Sát yếu, Thực Thương mạnh chế Sát thái quá, lại không có Tài tinh;
Thất sát cách
TN, Sát rất mạnh, không có Thực Thương ;
TN, Tài mạnh và nhiều, Sát nhiều.
4- Cách cục bất cập : không đủ (thiếu) cái để tạo quân bình, ngược lại có nhiều cái
làm suy yếu cách cục . Thường nhấn mạnh đến "mạnh / yếu" quá.
Chính quan cách
TV, Quan yếu, không có Tài tinh;
TV, Quan yếu, lại thêm nhiều Ấn tinh, hoặc có Thương quan khắc Quan tinh;
Thiên tài, Chính tài cách
TV, lại nhiều Tỷ Kiếp, lộc, Kình dương;
Tài tinh không gặp Thực Thương, lại có nhiều Tỷ Kiếp;
Thiên ấn, Chính ấn cách
Tài mạnh, không có Quan tinh;
Nhiều Tỷ, Kiếp.
Thực thần cách, Thương quan cách
TN, Ấn mạnh.
TN, Tài Quan nhiều.
Thất sát cách
Thực mạnh, không có Tài tinh;
TV, Ấn mạnh.
Khi luận khái quát về mệnh vận, người ta có thể luận ngay trên cách cục, vì như đã nói,
đó là 1 loại hình của mệnh.
II- NGOẠI CÁCH :
Ngoại cách có nhiều loại khác nhau , như :
– cách Kiến lộc, cách dương nhận (hay kình dương) nhấn mạnh vai trò « phù trợ»
(tỷ kiếp) cuả LT cho can Ngày, làm cho nó cực vượng.
– Chuyên vượng cách ) MC có một hành cực vượng
– Tùng vượng cách )
– Hoá khí cách : (ngũ) hành cuả can ngày đã hoàn toàn biến thành hành khác, do
sự hợp hoá, do đó hãy quên nó đi mà luận theo hành mới.
mỗi loại lại được phân chia ra nhiều cách khác nhau. Chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu từng loại một. Đọc kỹ thì tự nhiên bạn hiểu / thấy cách chọn DT.
Q1-ch9-tim-Cachcuc 12 02/01/2005
1) Kiến lộc cách : Nếu chi tháng là LQ (lộc) của can ngày theo bảng TS ; nói cách
khác, chi tháng là Tỷ kiên của can ngày. Ví dụ :
Can ngày Chi tháng
Giáp Dần
đinh ngọ
tân dậu
nhâm hợi
v..v.. v..v..
Vì sinh trong tháng Lộc, nên Thân rất vượng (không cần các chi năm, ngày, giờ giúp sức
như các cách khác mới được Vượng). Thân vượng thì có thể điều khiển được Tài, Quan,
Thương, Thực – những yếu tố áp chế hay làm hao tổn mình. Người nào có Cách này, và
Mệnh cục được điều hoà, thì mệnh vận rất hanh thông (Kiến Lộc là Thấy Lộc, tên cách
đã chỉ rõ tiêu chí của mệnh).
2) Dương nhận (hay Kình dương) cách : Nếu can ngày là can dương (giáp , bính,
mậu, canh, nhâm) , và chi tháng là ÐV của can ngày theo bảng TS ; chỉ có các can
dương mới có cách này, chứ không phải hễ thấy chi tháng là ÐV của can ngày theo bảng
TS là có Dương nhận cách được.
Và nói cách khác, chi tháng là Kiếp tài của can ngày.
Ví dụ:
Can ngày Chi tháng
Giáp mão
Bính, Mậu Ngọ
Canh dậu
Nhâm tý
– Có sách chỉ lấy 4 Can dương không phải hành Thổ (Giáp, Bính, Canh, Nhâm, không kể
Mậu).

nhắc lại :
– Có sách không chỉ dựa trên Can ngày dương (+), mà dựa theo bảng TS, hễ thấy Chi tháng là ÐV của
Can ngày (bất kể âm dương) thì có Dương-nhận cách; vì bất kể âm dương đều có dương nhận, nên để
phân biệt 2 chữ dương nầy, chữ Hán dùng chữ dương là con dê trong dương-nhận , chả thế mà có sách
dịch dương nhận (hay kình dương) là « sống dê» !.
Hai cách này, suy cho cùng, cũng là loại "chuyên vượng" như dưới đây, nhưng là Can Ngày (TA) rất Vượng
theo Chi Tháng.
Những ngoại cách dưới đây có thể nói chỉ chiếm 5% các mệnh, và thường là các mệnh rất đặc biệt. Các
bạn mới học nên bằng lòng với chính cách (85%), và dương nhặn, kiến lộc (10%). Phần dưới đây (5%) có
tính cách "thâm cứu", nên các bạn có thể lướt qua để có khái niệm; về sau nên trở lại để đọc kỹ hơn khi
bản lãnh đã cao cường. Còn lúc đầu không nên mất thì giờ quá nhiều với nó…
Ngoài ra cũng có nhiều mệnh, tuy ít gặp, chúng ta không thể định cách cục theo sự phối
hợp bản khí ngũ hành can ngày và chi tháng như 8 cách kể trên, hoặc Kiến lộc hay
Q1-ch9-tim-Cachcuc 13 02/01/2005
Dương nhận được, vì toàn cục khí thế ngũ hành thiên vượng về một phương (mỗi
phương là 1 hành do Tam Hội Cục), hoặc về một (ngũ) hành nào đó (do Tam Hợp Cục),
phối hợp với hành cuả Muà sinh, nên Mệnh ấy hoàn toàn bị hành ấy chi phối;
nó phải nương theo hành ấy mà đi, không được nghịch lại, để tránh nạn hồng
thuỷ vỡ đê. Nguyên lý là ta phải dùng khí thế toàn cục làm chủ .
Ta có thể thấy giống như trường hợp ở Trung quốc gần đây, lúc hồng vệ binh đang hoành hành
ngoài đường phố, và ca tụng Mao chủ tịch, thì đừng có dại léng phéng chống lại họ; cách khôn
nhất của mấy anh Tàu, là cũng xuống đường … hò hét như hồng vệ binh (trong bụng anh sao là
chuyện khác);
Cũng như anh bạn tôi, mê một cô gái gia đình thiên chuá giáo. Gia đình cô ấy thì chỉ gả con cho
người có đạo, anh ta bèn xin rửa tội, theo thiên chuá giáo, và lấy được người anh yêu và cũng yêu
anh. Tôi thì biết anh ta là dân vô thần chính hiệu, nên đùa : mày bị quả báo nhãn tiền, chuá mày
cũng chê, phật mày cũng ghét, bây giờ thì… Anh ta trả lễ : "gọi cha con cứ gọi cha, con lấy được
vợ con xa nhà thờ !". ÐM sao mày ngu thế !.
Tùy theo sự thiên vượng đó để suy ra cách cục, ta có những ngoại cách (hay biến cách)
sau đây :

– Chuyên vượng cách;
– Tùng (hay tòng) vượng cách;
– Hoá khí cách .
Tên gọi thì toàn là từ ngữ hán việt, rất khó nhớ, có khi hiểu lầm lại thành râu ông nọ cắm cằm bà kia, nên
nếu cần, tôi đề nghị tên gọi mới cho dễ nhớ, vấn đề quan trọng là hiểu rõ ý nghĩa chứ không phải câu nệ
từ ngữ.
3) Chuyên vượng cách :
Khi can ngày sinh và can chi toàn cục cùng một loại ngũ hành (h), chú ý xem các địa
chi tam hội hay tam hợp cục, ngay bán tam hội hay bán tam hợp (h)-cục cũng được, và
không có hành khác khắc (h):
Ở đây nhấn mạnh quan điểm "ngũ hành"
3.1) Nếu cùng là hành Mộc là khúc trực cách, để dễ nhớ ta gọi là Mộc cách :
Can Ngày sinh Giáp, Ất thuộc Mộc; sinh vào các tháng thuộc mùa xuân Mộc vượng; địa
chi bát tự có Dần-Mão-Thìn (tam hội đông phương Mộc cục), hoặc Hợi-Mão-Mùi (tam
hợp Mộc cục), không có can chi canh-tân, thân-dậu thuộc kim khắc Mộc.
Vì Mộc chủ về Nhân; người làm nhiều điều nhân thì thọ (ảnh hưởng của Phật giáo rất rõ ở
đây), nên mộc cách còn gọi là (khúc trực) nhân thọ cách.
Ví dụ :
Quý giáp ất kỷ
Mùi dần hợi mão
(**) 4T này là cuả Lý Hồng Chương, Tể Tướng đời nhà Thanh ở Trung hoa, thọ 79 tuổi.
hợi – mão -mùi tam hợp Mộc cục
ở Tứ trụ này, hàng Can còn có Quý thuỷ dưỡng Mộc.
Q1-ch9-tim-Cachcuc 14 02/01/2005
nhâm quý giáp giáp

dần mão thìn tý
dần – mão – thìn tam hội đông phương Mộc cục
ở Tứ trụ này, hàng Can còn có Nhâm Quý đều là thuỷ dưỡng Mộc.
3.2) Nếu cùng là hành Hoả là Viêm thượng cách, để dễ nhớ ta gọi là Hoả cách :
Can Ngày sinh Bính, Ðinh thuộc Hoả; sinh vào các tháng thuộc mùa hạ, hoả vượng xông
lên; địa chi bát tự có Tị-Ngọ -Mùi (tam hội nam phương hoả cục), hoặc dần-ngọ-tuất
(tam hợp Hoả cục), không có can chi Nhâm-Quý, hợi-tý thuộc Thuỷ khắc Hoả. Ví dụ :
đinh bính bính ất
tị ngọ dần mùi
ở Tứ trụ này, hàng Can còn có Bính Ðinh đều là hoả trợ giúp Hoả.
3.3) Nếu cùng là hành Thổ là Giá sắc hay Gia thích cách, để dễ nhớ ta gọi là Thổ
cách :
Can Ngày sinh Mậu Kỷ thuộc Thổ; sinh vào các tháng tứ-quý (thìn-tuất-sửu-mùi); địa chi
bát tự có 2 chữ đó trở lên, không có can chi giáp-ất, mão (1) thuộc Mộc khắc Thổ.
Ví dụ :
quý nhâm kỷ canh
mùi tuất sửu ngọ
trường hợp đặc biệt :
mậu kỷ mậu quý
tuất mùi thìn sửu
ở đây mậu-quý hợp hóa Hỏa , hoả sinh Thổ, điạ chi toàn là thìn-tuất-sửu-mùi Thổ cục rất
sinh vượng.
(1) Dần tuy thuộc mộc, nhưng là TS của Thổ, chứa Mậu, nên không kể.
3.4) Nếu cùng là hành Kim là tòng cách cách, để dễ nhớ ta gọi là Kim cách :
Can Ngày sinh Canh Tân thuộc Kim; sinh vào các tháng muà thu Kim ; địa chi bát tự có
Thân-dậu-tuất (tam hội Tây phương Kim cục), hoặc Tị-dậu-sửu (tam hợp Kim cục),
không có can chi Bính-Ðinh, Ngọ Mùi (2) thuộc Hoả khắc Kim. Ví dụ :
mậu tân canh ất
thân dậu tuất dậu
ở đây còn thêm Canh Ất hợp hoá kim, phù trợ cho thêm cho Kim; và Can Mậu thổ sinh
Kim, nên Kim rất vượng.
mậu tân tân kỷ
tuất dậu tị sửu
ở đây còn thêm 2 Can Mậu Kỷ thổ sinh Kim.
Q1-ch9-tim-Cachcuc 15 02/01/2005
(2) Mùi tuy không phải là hoả, nhưng thuộc hoả phương, chứa Ðinh hoả nên kể vào đây; còn Tị tuy
thuộc hoả, nhưng chứa Canh kim, đã chứa là không khắc, nên không kể.
3.5) Nếu cùng là hành Thuỷ là Nhuận hạ cách, để dễ nhớ ta gọi là Thuỷ cách :
Can Ngày sinh Nhâm Quý thuộc Thuỷ; sinh vào các tháng muà thu Ðông ; địa chi bát tự
có Hơị – Tý – Sửu (tam hội Bắc phương Thuỷ cục), hoặc Thân-Tý-Thìn (tam hợp Thuỷ
cục), không có can chi Mậu Kỷ, Mùi Tuất (3) thuộc Thổ khắc Thuỷ. Ví dụ :
nhâm nhâm nhâm canh

thân tý thìn tý
ở đây còn thêm Canh kim sinh Thuỷ.
tân canh quý quý
hợi tý sửu sửu
ở đây còn thêm 2 Can Canh Tân sinh Thuỷ.
(3) Sửu Thìn tuy thuộc Thổ, nhưng có chứa Quý thuỷ nên không kể.
4) Tòng vượng cách : Khi toàn cục khí thế vượng về 1 phương (cũng là hành, thần)
thì bất đắc dĩ nhật chủ phải theo vượng khí đó mà đi, nên gọi là Tòng vượng. Vai trò của
Lệnh tháng rất quan trọng, nên nó quyết định tên gọi của Cách.
Ở đây nhấn mạnh quan điểm 10 thần.
Chữ tùng ở đây nghiã là theo.
4.1) Tùng Tài cách : Can ngày sinh yếu, 4 địa chi cũng ở tử tuyệt mộ điạ, lại sinh nhằm
tháng Tài địa; Thiên can, địa chi lại sinh Tài, tức Tài rất vượng, còn Nhật chủ không có
thần nào giúp đỡ, nên phải theo Tài mà đi. Toàn cục bị can ngày (TA) khắc.
Ví dụ :
canh ất bính kỷ
tuất dậu thân sửu
Tử /Ch.tài
Can ngày bính hoả, sinh tháng dậu là tử địa nên TN; dậu là chính tài; địa chi toàn
là thân-dậu-tuất tam hội (Tây phương) Kim – Tài cục; can Ất mộc hợp can Canh hoá Kim
(Tài) nên đã mất tính Mộc; lại có Kỷ thổ sinh Kim (Tài); Can ngày đã yếu lại không có
Hoả Mộc giúp sức, nên Hoả phải "theo" Kim, tức Tùng Tài cách.
Th.tài Th.tài
mậu tân đinh tân
thân dậu tị sửu

Q1-ch9-tim-Cachcuc 16 02/01/2005
Can ngày đinh hoả, sinh tháng dậu ; dậu là Thiên tài; địa chi toàn là tị-dậu-sửu
tam hợp Kim Tài cục; can Mậu sinh Tân Kim (Tài); Can ngày yếu, lại không có Hoả Mộc
giúp sức, nên Hoả phải Tùng Kim, tức Tùng Tài cách.
4.2) Tùng Sát cách : Can ngày sinh tuyệt ở lệnh tháng nên yếu, Quan sát nhiều lại
vượng thịnh; còn Nhật chủ không có Ấn sinh, lại bị Sát khắc quá mạnh, giống như một
người yếu đuối ở trong đám cướp, phải theo bọn nó mà đi, nên gọi là Tùng sát cách.
Ví dụ :
Sát
mậu tân ất ất
tuất dậu dậu dậu
Mộ Tt; Sát Tt;Sát Tt;Sát
Can ngày ất mộc, sinh tháng dậu là tuyệt địa nên TN; dậu là Sát, nó là Lệnh
tháng nên nắm quyền (vượng); các địa chi khác trong Tứ trụ cũng lâm mộ tuyệt, yếu
quá; Kim đã vượng lại không có gì chế ngự , Thất sát dậu kim đắc thời (được lệnh); Can
ngày Ất mộc thế cô nên phải theo Sát mà đi, tức Tùng Sát cách.
nhâm đinh kỷ ất
dần mùi mão hợi
Hợi mão mùi mộc cục; đinh nhâm hợp hoá mộc; dần mộc, ất mộc;
Toàn cục khí thế khắc ta (kỷ thổ), khí thế vượng về mộc (Sát), tức Tùng Sát cách.
4.3) Tùng nhi cách : Nhật chủ yếu, sinh cho toàn cục, hay nói cách khác tòan cục có
nhiều Thực Thương (là con của nhật chủ) , nên gọi là Tùng nhi cách.
Ngày can yếu, không có Ấn sinh; Thương Thực vượng thịnh, hay Thiên can có nhiều
Thương Thực ; địa chi hội – hợp thành thương thực cục, nhật chủ đã yếu còn bị hao khí
thái quá, nên theo Thương Thực mà đi. Ví dụ :
đinh nhâm quí bính

mão dần mão thìn
sinh tháng Dần, mộc khí đương thịnh; dần mão thìn đông phương mộc; trong cục còn
có Đinh-Nhâm hợp hoá Mộc, không có Kim khắc chế bớt mộc và sinh cho Quí thuỷ nhật
chủ; mà nhật chủ còn phải sinh cho mộc, bị mộc rút hết nước và sẽ trở thành khô cạn,
nên phải theo hành mộc mà đi.
4.4) Tùng vượng cách (*) ta gọi là Tùng Tỷ cách : Toàn cục là Tỷ kiếp, lại thêm Ấn sinh
Tỷ kiếp; không có Quan Sát chế tỷ kiếp; Tỷ kiếp vượng thịnh thái quá, nên theo vượng
thần mà đi, nên gọi là Tùng vượng cách. Ví dụ :
Ấn Kiếp Kiếp
quý ất giáp ất
mão mão dần hợi
ÐV Lộc TS
Q1-ch9-tim-Cachcuc 17 02/01/2005
Tứ trụ này không có Tài Quan Thực Thương, nên theo vượng mộc mà đi.
4.5) Tùng cường cách (*) ta gọi là Tùng Ấn cách : Toàn cục Ấn nhiều, Tỷ kiếp cũng
nhiều, nhật chủ cũng không yếu nhược, lại không có Tài Quan Thực Thương, nên theo
luồng vượng khí mà đi, nên gọi là Tùng cường cách.
(*) có sách gộp tùng vượng và tùng cường (4.4 và 4.5 ) làm một, gọi chung là tùng vượng cách; chúng ta
đề nghị 2 tên gọi mới – tùng tỷ và tùng ấn – để tránh trùng hợp với mục (4) đã gọi chung là Tùng vượng
cách rồi, hơn nữa nó nhất quán trong tinh thần nhấn mạnh ở đây khiá cạnh thần nào vượng nhất trong 10
thần).
Ví dụ :
kiêu ấn tỷ
nhâm quý giáp giáp
tý mão tý tý
ấn ÐV/ kiếp ấn ấn

Tứ trụ này không có Tài Quan Thực Thương, nên theo thuỷ mộc mà đi.
Qua các cách Tòng vượng trên đây, ta để ý đều thấy tên cách đều lấy theo tên của (10) Thần dựa trên
"khí của ngũ hành" của toàn cục toát ra, phối với hành của CAN ngày
5) Hoá khí cách : Nếu Can ngày hợp với can tháng hoặc can giờ ta mới xét thử có hóa
khí không. Cần nhấn mạnh là 2 Can kề sát bên Can ngày mà thôi !
Ở đây nhấn mạnh quan điểm ngũ hành, nhưng là trên hành hoá ra.
5.1) Hoá mộc cách : Ðinh nhâm hợp hoá Mộc;
Can ngày đinh, can tháng nhâm hay can giờ nhâm
Can ngày nhâm, can tháng đinh hay can giờ đinh
sinh ở những tháng hợi mão mùi / dần (TS,ÐV,Mộ / LQ ), tức là chi của tháng
vượng cho hành hóa đó (theo bảng TS), hay cách nhìn khác : chi tháng ở trong tam hợp
cục = hành hoá; Và trong 8 can chi đều không có hành Kim (khắc hành hoá ra đó), nên
hoá mộc thành công. Vậy luận Thân / TA theo hành Mộc, vì TA đã "hoá Mộc " rồi, không
còn là Hoả nưã.
Ví dụ :
quý quý đinh nhâm
hợi hợi mão dần
Can ngày Ðinh , Chi giờ Nhâm hợp hoá Mộc, sinh tháng hợi : thuỷ mộc hai hành
đều vượng.
5.2) Hoá hoả cách : Mậu Quý hợp hoá Hoả;
Can ngày mậu, can tháng quý hay can giờ quý
Can ngày quý, can tháng mậu hay can giờ mậu
Q1-ch9-tim-Cachcuc 18 02/01/2005
sinh ở những tháng dần-ngọ-tuất / tị (TS,ÐV,Mộ / LQ ), tức là chi của tháng
vượng theo hành hóa đó (theo bảng TS); hay cách nhìn khác : chi tháng trong tam hợp
cục = hành hoá; Và trong 8 can chi đều không có hành Thuỷ (khắc hành hoá đó), nên
hoá hoả thành công. Vậy luận Thân / TA theo hành Hoả.
Ví dụ :
bính quý mậu đinh
tuất tị ngọ tị

hay
đinh bính quý mậu
mão ngọ mão ngọ
trong ví dụ 2, dù có can ngày = Thuỷ (khắc Hoả) nhưng toàn cục là mộc hỏa tương
sinh, nên hoá Hoả rất thuần tuý.
5.3) Hoá Thổ cách : Giáp Kỷ hợp hoá Thổ;
Can ngày giáp, can tháng kỷ hay can giờ kỷ
Can ngày kỷ, can tháng giáp hay can giờ giáp
sinh ở những tháng thìn tuất sửu mùi ; Và trong 8 can chi đều không có hành
Mộc (khắc hành hoá đó), nên hoá Thổ thành công. Vậy luận Thân / TA theo hành Thổ.
Ví dụ :
mậu nhâm giáp kỷ
thìn tuất thìn tuất
Giáp-Kỷ hợp ; sinh tháng tuất, thổ nắm lịnh; Tứ trụ không có mộc khắc thổ, nên hoá
Thổ rất thuần tuý.
bính ất kỷ giáp
thìn mùi ngọ tý
Giáp-Kỷ hợp ; sinh tháng mùi, thổ đương lịnh, 4T dù có giáp ất 2 mộc nhưng có bính
hoả tại can năm hoá mất Mộc, nên hoá Thổ rất thuần tuý.
5.4) Hoá Kim cách : Ất Canh hợp hoá Kim;
Can ngày Ất, can tháng Canh hay can giờ Canh
Can ngày Canh, can tháng Ất hay can giờ Ất
sinh ở những tháng tị, dậu, sửu, thân ; Và trong 8 can chi đều không có hành
Hoả (khắc hành hoá đó), nên hoá Kim thành công. Vậy luận Thân / TA theo hành Kim.
Ví dụ :
giáp quý ất canh

thân dậu sửu thìn

Ất-Canh hợp hoá Kim, sinh tháng dậu, kim vượng; Tứ trụ không có Hoả khắc kim, nên
hoá Kim rất thuần tuý, số rất cao.
5.5) Hoá Thuỷ cách : Bính Tân hợp hoá Thuỷ;
Can ngày Bính, can tháng Tân hay can giờ Tân
Can ngày Tân, can tháng Bính hay can giờ Bính
sinh ở những tháng thân-tý-thìn, hợi; Và trong 8 can chi đều không có hành Thổ
(khắc hành hoá đó), hay có nhưng là thấp thổ (đất ướt như Thìn, Sửu) thì không khắc
Thuỷ , nên hoá Thuỷ thành công. Vậy luận Thân / TA theo hành Thuỷ.
Ví dụ :
giáp bính tân nhâm
thìn tý sửu thìn
Bính-Tân hợp; sinh muà đông thuỷ vượng, lại có nhâm lộ lên rất tốt đẹp ; tuy có Thìn và
Sửu, nhưng là đất ướt (*) nên không khắc thuỷ, nên hoá Thuỷ thành công.
(*) – xem lại khô / ẩm
ất giáp bính tân
hợi thân thân mão
bệnh
Can ngày bính ở tháng thân là nằm ở bệnh địa; Giáp ất mão Mộc sinh Thân Bính
hoả , nhưng bị 2 thân Kim khắc, không còn đủ sức sinh Bính hoả nữa, vậy là không được
sinh. May nhờ có Bính – Tân hợp hoá Thuỷ, Thuỷ TS ở Thân , các can chi không có hành
thổ chế ngự Thuỷ, nên hoá Thuỷ thuần tuý, thành công; đây là một mệnh hiển hách.
(Ðây là trường hợp bính hợp tân sinh (**) : là tướng nắm quyền uy chúng ta sẽ có dịp trở lại ở phần trường hợp điển hình).
(**) luận Thân/TA theo hành hoá, nó được Trường Sinh ở LT
Ngoại cách là những cách ít gặp, và cách tìm DT vì thế cũng khác biệt.

Share this: