Chương 10A
TÌM HIỂU TRIẾT LÝ VỀ DỤNG THẦN
Định nghiã Dụng thần :
Ta đã thấy trong Tứ trụ (Mệnh cục) Thân thì có Vượng, có Nhược, Cách cục thì có thành, có bại, có thái quá, có bất cập. Bây giờ trong 8 chữ ấy, nếu có 1 chữ trợ giúp cho cách cục thành công, hay cứu giải khi nó bị phá hoại, chế ngự cái thái quá, cứu vớt cái bất cập, hoặc giúp cho Nhật nguyên quá yếu, hay chế bớt nếu nó quá mạnh (tất cả phải xét trên nhãn quan tương tác ngũ hành), thì chữ ấy gọi là Dụng thần.

Các trường phái trong Tử Bình đều nhất trí về vai trò chủ đạo của DT trong mệnh lý
học, nhưng mỗi phái có lối xác định nó khác nhau :
– Có phái dùng cách cục để tìm Dụng thần, phái này cũng chú ý đến Thân vượng
hay hay Thân nhược, nhưng nhấn mạnh về cách cục mà thôi;
– Có phái khác dưạ trên lý luận tổng hợp để định Thân vượng hay hay Thân
nhược, rồi tổng hợp toàn bộ các sinh khắc chế hoá cuả các ngũ hành trong
4T so với THÂN mà định DT.
Vì tầm quan trọng to lớn của DT trong khoa Tử Bình, Chúng ta sẽ dành riêng cho nó
1 chương (ch10B) để lần lượt nghiên cứu cả hai phái. Ở đây chúng ta chỉ lướt sơ
những điểm chủ yếu, ÐIỀU NÊN VÀ KHÔNG NÊN KHI CHỌN Dụng thần, trên quan
điểm ngũ hành, dù là theo Can ngày hay theo Thể tính.
Nói chung tất cả đều dựa trên nguyên lý ngũ hành sinh khắc, và tương quan lực
lượng giữa chúng; đó cũng là những nhận xét bình thường của con người trong nền
văn minh Nông nghiệp, sống nhiều với (trong và giữa) thiên nhiên..
§1- so sánh tương quan lực lượng của ngũ hành Can Ngày sinh với ngũ
hành các Can-Chi khác.
Mục này sẽ cho chúng ta một số định nghiã về các từ ngữ thường dùng trong các sách về khoa Tứ
trụ.. Bạn nên nắm vững các định nghiã này, như trong – đục, nặng – nhẹ, dày – mỏng, mạnh – yếu,
thịnh – suy; thừa – thiếu … về sau chúng ta sẽ có dịp dùng đến luôn.
Can ngày Mộc : phải làm rõ thế của Mộc là thịnh hay suy ;
nếu Mộc thịnh mà Thuỷ cũng nhiều là thế Mộc thịnh, nên lấy Kim thích đáng

làm Dụng thần để làm yếu Mộc; nếu Kim quá ít thì lấy Thổ;
nếu Mộc yếu mà Kim rất mạnh thì thế cuả Mộc sẽ suy bại, nên dùng Hoả để
làm Dụng thần để chế ngự Kim; nếu Hoả quá ít thì lấy Mộc;
nếu Thuỷ mạnh quá, Mộc sẽ bị trôi dạt, Dụng thần nên lấy Thổ, thứ nữa có
thể dùng Hoả.
nếu Thổ quá mạnh Mộc sẽ biến thành suy nhược, nên lấy Dụng thần là Mộc,
thứ nữa là Thuỷ;
nếu Hoả mạnh quá, Mộc sẽ bị đốt thiêu, Dụng thần nên chọn Thuỷ, thứ nữa là
Kim.

Can ngày Hoả : phải làm rõ lực của Hoả là dư thừa hay thiếu;
nếu thế của Hoả mạnh, Mộc lại nhiều, đó là Hoả dư thừa : nên chọn Thuỷ làm
Dụng thần để khống chế bớt Hoả; nếu Thuỷ yếu thì chọn Kim;
nếu thế của Hoả yếu, thế của Thuỷ vượng, đó là Hoả thiếu, Dụng thần nên
chọn Thổ để chế ngự Thuỷ; nếu Thổ suy nhược thì chọn Hoả;
nếu Mộc nhiều, Hoả sẽ càng nóng, Dụng thần nên chọn là Thuỷ để khống chế
Hoả; thứ nữa là Kim;
nếu Kim quá nhiều, Hoả sẽ bị tắt, Dụng thần nên chọn là Hoả, thứ nữa là
Mộc;
nếu Thổ quá nhiều thì Hoả sẽ bị mờ; Dụng thần nên lấy Mộc; thứ nữa là
Thuỷ.
Can ngày Thổ : phải làm rõ tính chất của Thổ là dày hay mỏng.
nếu Thổ kết nặng mà Thuỷ lại ít tức là Thổ dày, Dụng thần nên lấy Mộc để
làm thưa rời Thổ; nếu Mộc quá yếu thì lấy Thuỷ;
nếu Thổ nhẹ, mà Mộc thịnh quá thì đó là Thổ mỏng, Dụng thần nên lấy Kim
để chế ngự Mộc; nếu Kim yếu quá thì lấy Thổ;
nếu Hoả mạnh quá, Thổ sẽ bị thiêu đốt, Dụng thần nên chọn là Thuỷ để chế
ngự Hoả; thứ nữa dùng Kim;
nếu Thuỷ quá nhiều thì Thổ sẽ bị trôi, Dụng thần nên lấy Thổ; thứ nữa dùng
Hoả;
Kim nhiều, Thổ sẽ suy nhược, Dụng thần nên lấy Hoả ; thứ nữa dùng Mộc.
Can ngày Kim : Phải làm rõ tính chất Kim là cứng hay mềm;
nếu Kim nhiều, Thổ lại dày, đó là Kim cứng, Dụng thần nên lấy Hoả luyện
Kim; nếu Hoả yếu quá thì lấy Mộc;
nếu Mộc rất nặng, Kim lại nhẹ là Kim mềm, Dụng thần nên chọn Thổ để sinh
Kim; nếu Thổ yếu quá thì lấy Kim;
nếu Thổ nhiều quá, Kim sẽ bị vùi lấp, Dụng thần nên lấy Mộc; thứ nữa dùng

Thuỷ.
nếu Thuỷ nhiều quá thì Kim sẽ chìm trong Thuỷ, Dụng thần nên lấy Thổ; thứ
nữa dùng Hoả;
nếu Hoả mạnh sẽ nóng làm cho Kim bị tổn thương, nên chọn Thuỷ làm Dụng
thần; thứ nữa là Kim.
Can ngày Thuỷ : phải làm rõ thế của Thuỷ mạnh hay yếu;
nếu Thuỷ nhiều, Kim lại nặng là Thuỷ mạnh, Dụng thần nên chọn Thổ để
phòng ngự và khống chế Thuỷ; nếu Thổ yếu quá thì dùng Hoả;
nếu Thuỷ rất yếu, Thổ lại nhiều là thế cuả Thủy yếu, Dụng thần nên chọn Mộc
để chế ngự Thổ; nếu Mộc yếu quá thì lấy Thuỷ;
nếu Kim mạnh quá, Thuỷ sẽ biến thành đục, Dụng thần nên chọn Hoả; thứ
nữa dùng Mộc;
nếu Hoả mạnh quá sẽ đốt khô Thuỷ, Dụng thần nên chọn Thuỷ; thứ nữa là
Kim;
nếu Mộc nhiều quá, Thuỷ bị dồn lại, dòng chảy không thông, Dụng thần nên
lấy Kim; thứ nữa dùng Thổ.
§2 – Cách lấy Dụng thần theo Thể tính (Ngũ hành của Can Ngày, và Mùa)

Ta đã biết hành của mùa tác động mạnh trên các hành của Can-Chi Tứ trụ, nhưng
quan trọng nhất là trên TA (Can ngày). Và chi Tháng – tức Lệnh tháng- quyết định
mùa trong năm.
Vậy ở đây chúng ta xét chi tiết ảnh hưởng của khí ngũ hành của 4 mùa đối với ngũ
hành Can ngày, để thấy những điều nên hay không nên trong việc chọn Dụng thần.
Chú ý : khi đọc mục này, bạn không nên "tụng" theo nghiã ngũ hành sinh khắc, hay
theo vạn vật, mà nên liên tưởng tới kiếp người, ta đang học mệnh mà ! Chẳng hạn:
Mộc bị trôi dạt thì hãy nghĩ là mệnh đó phải tha phương cầu thực, bồng bềnh
trôi nổi;
Hoả âm ỉ thì người ấy ủ rũ, không năng động;
Cây không có trái thì hãy nghĩ đến câu "bất hiếu hữu tam …"
Cây đã trơ trụi lá mùa đông, mà còn lâm Tử tuyệt thì hãy nghĩ đến cái chết,
hay mệnh yểu;
Tóm lại là "ý tại ngôn ngoại" …
Can ngày MỘC đối với 4 mùa
Mùa xuân : Mộc còn mang dư khí của cái lạnh mùa đông,
nếu gặp được Hoả để làm ấm lại mới có thể tránh được những tai hoạ
cây cành bị cong queo;
nếu găp được Thuỷ để tưới nhuận sẽ thoải mái, tươi tốt; nhưng
nếu Thuỷ quá nhiều, cây sẽ bị úng nước, hay mục nát;

nếu Thuỷ quá ít, cây sẽ bị khô héo;
do đó cần Thuỷ Hoả thích hợp mới là tốt nhất;
nếu gặp Thổ quá nhiều sẽ làm tổn hao nội lực của cây, nên đáng ngại;
nếu Thổ mỏng thì cây dễ mọc và phát triển.
nếu gặp được Kim thì Mộc sẽ thành cứng cáp, khi đó dù có gặp Hoả cũng
không đến nỗi bị tổn thương. Nếu Mộc tự thân đã rất mạnh thì dù gặp
Kim cũng không đáng sợ; nó vẫn tiếp tục phát triển như thường.
Mùa hạ : cây từ cong queo biến thành thẳng, cành tán vươn ra. Nhưng khí nóng
làm rễ cây và lá đều rất khô;
nếu gặp được Thuỷ nhiều thì cây được tưới nhuận;
nếu gặp Hoả nhiều thì Mộc bị đốt;
nếu gặp được Thổ mỏng thì tốt, không nên gặp Thổ dày, vì Thổ dày
quá đối với Mộc là tai nạn;
nếu gặp Kim mạnh thì không hay mà chỉ nên gặp Kim yếu; vì nếu Kim
mạnh quá thì Mộc bị khống chế, như cây đã phát triển, lá hoa xum
xuê mà không kết quả được (mệnh không có con, tuyệt tự).
Mùa thu :
đầu thu trời còn nóng, Mộc mong gặp được Thuỷ, Thổ để được nuôi dưỡng
phát triển;

giữa thu, trái cây đã hình thành, mong gặp Kim cứng để hái quả;
sau tiết sương giáng thì không nên gặp Thuỷ thịnh, vì Thuỷ thịnh quá sẽ
cuốn trôi Mộc;
trước tiết hàn lộ nên gặp Hoả mạnh để sưởi ấm, làm cho Mộc bền chắc;
Mộc nhiều thì nguyên liệu tốt;
Thổ nhiều, Mộc quá dày thì Mộc không thể sinh trưởng tốt tươi được.
Mùa đông :
Mộc mong gặp Thổ nhiều để nuôi dưỡng;
Gặp Thuỷ nhiều thì Mộc bị dìm lấp (trong băng);
Kim nhiều cũng không làm Mộc tổn hại;
Hoả có tác dụng sưởi ấm cho Mộc;
Muà đông lá rụng, thế của Mộc suy yếu; nếu gặp Tử, Tuyệt thì gay go (mệnh
yểu); nếu gặp sinh, vượng thì sẽ sống.
Can ngày HOẢ đối với 4 mùa
Mùa xuân : Mộc sinh Hoả, cả hai cùng vượng, thế lực song song;
gặp Mộc thì được phù trợ, nhưng Mộc không nên vượng quá, vì nó sẽ làm Hoả
trở thành cháy bỏng; trong trường hợp đó mong có Thuỷ để hòa Hoả;
nhưng Thuỷ cũng không nên nhiều, vì nó sẽ làm tắt Hoả;
Thổ nhiều thì Hoả sẽ biến thành âm ỉ (không sáng);

Hoả vượng quá sẽ bốc lên mãnh liệt;
Gặp Kim có thể mở rộng uy thế của Hoả; cho dù Kim rất nhiều cũng vẫn tốt.
Mùa hạ : là lúc Hoả đang có khí thế;
gặp Thuỷ để chế ngự nó thì sẽ tránh được tai nạn tự đốt (hại) mình;
gặp Mộc thì được phù trợ, tránh được mối lo chết yểu;
nếu gặp Kim sẽ càng phát đạt; ) tuy cả 2 có lợi nhưng nếu không có Thuỷ thì
gặp Thổ cũng tốt; ) Kim sẽ khô khan, Thổ bị đốt nóng; nếu còn
) thêm Hoả nữa thì thế Hoả mạnh quá dễ dẫn
) đến tổn hại.
Mùa thu : tính chất Hoả đã trầm lặng, thân thể nhàn nhã;
nếu được Mộc phù trợ thì sẽ có điều tốt (được sáng thêm lần nữa);
nếu gặp Thuỷ xung khắc thì khó tránh khỏi bị dập tắt;
Thổ quá nhiều Hoả sẽ bị che lấp (hoả mờ);
Kim quá nhiều sẽ cướp đi uy thế của Hoả;
Gặp Hoả thì sẽ làm Hoả tăng thêm độ sáng; có nhiều càng lợi.
Mùa đông : hình thể Hoả đã hao mòn, tuyệt diệt;
Mong gặp Mộc để phù trợ (thêm sức);
nếu gặp Thuỷ xk sẽ khó tránh khỏi tai ương; trong trường hợp này nên có
Thổ để khống chế bớt Thuỷ;
gặp Hoả sẽ tăng thêm sức lực; có lợi cho việc sinh tồn;
gặp Kim : Hoả mùa đông khó khắc được Kim; trong mệnh nếu không có Kim
thì cũng không bị tổn thất.

Can ngày THỔ đối với 4 mùa
Mùa xuân : Mộc vượng, còn Thổ thế lực rất cô đơn yếu ớt;
Mong có Hoả để sinh phù;
Sợ nhất bị Mộc khắc;
Mong gặp Thổ để được phù trợ;
sợ gặp Thuỷ , Thổ sẽ bị cuốn trôi;
nếu gặp được Kim để khống chế Mộc thì Thổ sẽ có lực; nhưng nếu Kim vượng
quá sẽ làm Thổ bị tiết khí.
Mùa hạ : Thổ rất khô khan;
gặp đại Thuỷ để tưới nhuận sẽ rất tốt;
gặp vượng Hoả thì càng khô khan hơn, khó tránh khỏi tổn hại;
Mộc phù trợ thế của Hoả, cho nên Mộc và Hoả đều không thích hợp Thổ ở TS;
Kim có thể sinh Thuỷ, Thuỷ đầy đủ sẽ khiến cho Thổ mùa hạ mạnh mẽ; lúc
đó nếu gặp Thổ phù trợ thì Thổ càng thêm mạnh; ngược lại thì bị

trắc trở không thông;
nếu Thổ mạnh quá thì nên gặp Mộc để khống chế.
Mùa thu : Thổ sinh Kim, làm mẹ suy con vượng;
Kim nhiều quá sẽ làm Thổ bị tiết khí;
nếu mộc thịnh sẽ khống chế Thổ;
Hoả dù thịnh cũng không đáng sợ;
chỉ sợ Thuỷ mạnh thì không tốt;
nếu gặp Thổ thì được phù trợ mạnh lên;
sinh tiết sương giáng thì dù không gặp Thổ cũng không còn gì đáng ngại.
Mùa đông : Thổ bề ngoài giá lạnh, nhưng trong ôn ấm;
gặp Thuỷ mạnh càng tốt cho Thổ;
nếu Kim nhiều quá, Thổ sẽ trở thành phú quý;
nếu Hoả quá thịnh sẽ làm cho Thổ thêm phồn vinh; Mộc nhiều cũng không trở
ngại;
nếu gặp Thổ thì càng tốt, vừa cường tráng lại vừa thọ;
Can ngày KIM đối với 4 mùa
Mùa xuân : Kim muà xuân, trên thân còn khí lạnh chưa hết; thân thể còn yếu, tính
cách mềm mại;
nếu gặp Hoả để làm Kim lớn mạnh , phồn vinh thì rất quí;
Thổ trợ giúp Kim ( còn mềm mại) : tốt;
Thuỷ quá nhiều, Kim sẽ thành hàn lạnh, nên từ có ích trở thành vô dụng;
Mộc quá mạnh sẽ làm Kim dễ gảy vụn; vốn cứng trở thành mềm;
gặp Kim phù trợ là tốt nhất; nhưng nếu không có Hoả (luyện Kim) thì cũng
chưa tốt lắm;
Mùa hạ : Kim mùa hạ càng thêm mềm yếu, hình thể và phẩm chất chưa trưởng
thành đầy đủ; nên rất sợ thân thể biến thành yếu đuối;

Thuỷ mạnh chế bớt Hoả nên đối với Kim mùa hạ là tốt nhất; còn hoả nhiều
thì xấu;
Gặp Kim hỗ trợ thì Kim càng mạnh;
nếu gặp Mộc là tăng điều hại cho bản thân;
Thổ dày quá sẽ vùi lấp Kim; Thổ mỏng thì có lợi cho Kim sinh trưởng.
Mùa thu : là lúc khí thế cuả Kim đang mạnh ;
gặp Hoả để luyện Kim thì mới trở thành những dụng cụ có ích ;
gặp Thổ , Kim sẽ được tư dưỡng trưởng thành (tốt) ;
nếu không gặp Thổ thì khí Kim sẽ đục, không hay ;
gặp Thuỷ thì tinh thần càng tươi đẹp ;
gặp Mộc, Mộc sẽ được điêu khắc thành có giá trị, nên rất tốt ;
gặp Kim thì càng trở nên cường tráng ; nhưng coi chừng, nếu cường tráng

quá sẽ dễ gảy ;
Mùa đông : hình thể Kim hàn lạnh, tính chất cũng lạnh giá ;
gặp Mộc nhiều cũng khó thành đồ gia dụng (hữu dụng) ;
Thuỷ vượng quá thì khó tránh khỏi tai nạn bị chìm (coi chừng chết nơi sông
nước);
Thổ – chế phục Thuỷ (mùa đông) – nên gặp Thổ thì thân thể Kim không đến
nỗi lạnh giá ;
gặp Hoả (sinh Thổ) : cả hai đều tốt đối với Kim ;
gặp Kim : được phù trợ ; nếu còn gặp Quan Ấn (hoả, thổ) để ôn dưỡng thì
càng diệu kỳ.
Can ngày THUỶ đối với 4 mùa
Mùa xuân : Thuỷ dầm dề;
nếu gặp Thổ thì nó bị chế ngự, tránh được tai hoạ loang chảy; không có Thổ
thì nước sẽ chảy tản mát đi.
nếu gặp Thuỷ hỗ trợ thì có thể dẫn đến nạn hồng thuỷ vỡ đê;
nên gặp Kim để được phù trợ, nhưng không nên nhiều Kim quá;
mong gặp Hoả để khống chế, nhưng Hoả không nên mạnh quá;
gặp Mộc thì Mộc được tưới nhuận, phát triển tốt;
Mùa hạ : Thuỷ bên ngoài Thực, bên trong hư; đây chính là lúc nó đang khô;
Mong gặp Thuỷ để được phù trợ;
nếu gặp Kim để sinh cho thì càng tốt;
sợ nhất gặp vượng Hoả;
Mộc vượng quá sẽ làm Thuỷ tiết khí;
Thổ vượng quá, nặng quá sẽ khắc mất nguồn của Thuỷ.
Mùa thu : Kim mùa thu sinh Thuỷ, nên cả hai cùng vượng;
gặp Kim sinh Thuỷ thì Thuỷ càng trong, tinh khiết;
gặp vượng Thổ thì Thuỷ trở thành đục;
Hoả nhiều sẽ có lợi cho Thuỷ, nhưng không nên quá nhiều, quá mạnh;
Mộc nhiều cũng khiến cho thuỷ tự mình phồn vinh; nhưng cũng chỉ nên Mộc
vừa phải mới thích hợp;

gặp Thuỷ quá nhiều thì có nguy cơ tràn trề; lúc đó phải cần nhiều Thổ để
ngăn lại mới mong được an nhàn.
Mùa đông : Thuỷ mùa đông là lúc có khí thế;
gặp Hoả thì sẽ trừ được hàn khí đầy mình;
gặp Thổ thì Thuỷ sẽ bị dồn hẹp lại;
gặp Kim nhiều thì Thuỷ không còn có nghiã;
gặp Mộc nhiều thì Thuỷ hữu tình (sinh Mộc);
mùa đông nếu Thuỷ yếu thì nên có Thuỷ trợ giúp; nếu Thuỷ mạnh quá thì
cần có Thổ nhiều để làm đê chắn giữ lại.

Share this: