2. Thông quan (làm cho thông suốt)
 Khi hai loại ngũ hành trong mệnh cục đối lập nhau (cách ngôi thì khắc nhau), và thế
 lực ngang nhau thì hai cái đều tổn thất, đó là mệnh cục có bệnh. Cần chọn một ngũ
 hành khác để khiến cho hai ngũ hành đó sinh hoá bình thường cho nhau, làm cho khí
 thế của mệnh cục được lưu thông, nên gọi là thông quan.
 Ví dụ : thuỷ hỏa không dung hòa nhau thì lấy mộc làm dụng thần; Mộc sẽ làm rút khí
 thuỷ và sinh hỏa, trở thành liên tục sinh (còn thuỷ hỏa cách ngôi là tương khắc). Mộc đã
 hóa sự vô tình thành hữu tình, hóa sự đối địch thành bạn hữu, nên nó là dụng thần.
 – Hỏa kim tương tranh, lấy thổ làm dụng thần ;
 – Mộc thổ tương tranh, lấy hoả làm dụng thần ;
 – Thuỷ hỏa tương tranh, lấy mộc làm dụng thần ;
 – Kim mộc tương tranh, lấy thuỷ làm dụng thần ;
 – Thổ thuỷ tương tranh, lấy kim làm dụng thần ;
 3. Điều hầu (bổ là thêm vào cái thiếu để làm cho điều hoà) :
 Đạo trời có ấm lạnh, đạo đất có khô ẩm, người hấp thụ khí của trời đất nên chịu ảnh
 hưởng rõ ràng của quy luật ấy. Mệnh con người lấy ngày sinh làm chủ, lệnh tháng làm
 đề cương, và dựa vào ngũ hành của nhật can và chi tháng để bàn đến sự ấm lạnh, khô
 ẩm (còn gọi là thể tính *) của mệnh cục. Giống như đông y, lạnh quá thì dùng thuốc
 nhiệt, nóng quá thì dùng thuốc hàn, khiến cho MC quân bình thì gọi là điều hầu.
 (*) xem mục liên hệ;
 – tháng sinh trong mùa hạ, cho dù ngũ hành can ngày là gì vẫn ấm quá nên táo (khô)
 nhiều, tứ trụ phải dùng hàn thấp là hành thuỷ để điều hầu.
 – tháng sinh trong mùa đông, cho dù ngũ hành can ngày là gì vẫn bị hàn thấp mạnh,
 nên tứ trụ phải điều hầu bằng ôn táo là hành hỏa.
 Ví dụ : can ngày sinh là canh kim, sinh vào tháng đông, mà tứ trụ không có hỏa ấm
 thì sẽ rơi vào kim hàn, thủy lạnh. Canh chủ về gân cốt, ở tử địa nên khí huyết không
 thông, sinh bệnh tật, thậm chí bị tàn tật. Nếu trong tứ trụ không có hỏa thì phải điều
 hầu (nói nôm na cho dễ nhớ là bổ cứu cho điều hoà): Thiếu thì phải bổ; nếu bổ cứu được thì
 vẫn hanh thông, chẳng hạn đến phương nam (đất hỏa) sống thì người đó không những
 có lợi cho thân thể mà đối với vận mệnh cũng sẽ tốt hơn; đó là một cách giải nạn.
 – sinh vào mùa xuân hoặc mùa thu thì hàn ôn, táo thấp vừa phải, nên không nhất
 định phải điều hầu bằng thủy hỏa, mà chỉ cần xét sự sinh khắc chế hóa giữa các ngũ hành trong tứ trụ là được (dùng sinh phù hay áp chế trên đây).
 Q1-ch10-dungthan 11 02/01/2005
 – sinh vào cuối bốn mùa (tức các tháng thìn, tuất, sửu, mùi – 3,6,9,12 AL) cũng có sự
 phân biệt về hàn, ôn, táo, thấp : Sự hưng vượng của ngũ hành có thời gian nhất định
 (vượng theo mùa), riêng hành Thổ ở trung ương quán xuyến cả tám phương, không cố
 định ở một phương nào, trong 18 ngày trước lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông, nó
 vượng.
 Thí dụ về điều hầu : Nam
 ChTài Ch.Ấn nhật nguyên Thực
 Bính thân canh tý ngày quý sửu ất mão
 TH TU Lộc LQ BH ất
 Kiến lộc cách; Thể tính "đông thuỷ ".
 4t tuy có đủ ngũ hành; nhưng vì sinh muà đông nên thuỷ lạnh, mộc hàn, thổ đông
 cứng, hoả bị tù hãm; vậy lấy hành gì làm DT ?
 Mùa đông rét lạnh, không lợi cho sự sinh trưởng của vạn vật, vậy phải dùng Hoả để giải
 hàn, nhưng ở đây Bính hoả hưu tù vô lực. May thay, nhờ sinh sau ngày tiết lập đông
 nên Ất Mộc trên trụ giờ có khí mà sinh Bính hoả; Bính hoả nhờ vậy cháy bùng lên, xua
 tan hàn lạnh, sưởi ấm mọi hành. Vậy chọn Bính hoả (Chính tài) làm DT. Ðây là trường
 hợp "thực thần sinh Tài, phú quí tự nhiên đến".
 Ngoài trường hợp điều hầu chúng ta cũng phải linh hoạt suy luận theo tương quan lực
 lượng trong các trường hợp thái quá hay bất cập (ngay cuả chính cách cục), chứ không
 nên cứng nhắc dùng bảng "định DT theo cách cục" nói trên. Ví dụ :
 Tới đây, tương đối bạn đã có đủ mọi yếu tố để tìm DT. Thường thì người ta dùng
 sinh phù hay áp chế, chỉ trường hợp đặc biệt mới dùng đến thủ pháp thông quan hay
 điều hầu. Hai thủ pháp sau có tính cách thâm cứu, tạm thời bạn có thể bỏ qua, và trở
 lại đọc về sau.
 III – HỶ, KỴ CỦA DỤNG THẦN :
 Mỗi tứ trụ có một mệnh cục. Mệnh cục lấy dụng thần làm hạt nhân, nó đại diện cho
 mệnh cục, cho ta biết MC tốt hay xấu, theo một vận trình nào đó, giống như một "sinh
 vật" có một đời sống; vậy ta phải biết nó như thế nào.
 
 Dụng thần kiện toàn, có lực hay không ảnh hưởng đến cả cuộc đời. Dụng thần có tác
 dụng bổ cứu hay không ảnh hưởng đến các vận của cả đời người. Cho nên dụng thần
 không những không thể bị tổn thương mà còn cần phải được sinh trợ mới tốt.
 Đối với những tứ trụ mà ngũ hành của mệnh cục sinh vượng, dụng thần có lực thì
 người đó sẽ phú quý đều đều là chắc chắn, cho dù chức cao cũng không bị họa lớn,
 đường thanh vân bằng phẳng đi lên; đó là mệnh phú quý chân chính. Có người tuy sự
 phú quý không đến mức tướng soái nhưng cũng là bậc phú hào, hoặc quan đứng đầu
 một vùng, cuộc đời bằng phẳng, không gặp những thất bại lớn; song loại tứ trụ này rất
 ít gặp.
 Q1-ch10-dungthan 12 02/01/2005
 1) Hỉ thần :
 Khi lực dụng thần không đủ, nếu trong tứ trụ có cái sinh trợ cho nó, hoặc những cái
 hình, xung, khắc, hại để hóa mất hay hợp mất hung thần thì đó là cái cứu ứng cho dụng
 thần, gọi là hỉ thần.
 Đối với những tứ trụ khuyết thiếu dụng thần thì hỉ thần của tứ trụ sẽ có tác dụng
 làm cho mệnh như cây khô gặp nước, mầm non gặp mùa xuân. Mối quan hệ chặt chẽ
 như môi với răng, nó bổ trợ và cứu ứng cho dụng thần. Những mệnh cục không có
 dụng thần, tất hỉ thần phải gánh trọng trách của dụng thần trong việc cân bằng cho tứ
 trụ; ngoài ra nếu được bổ cứu của tuế vận thì càng tốt.
 Cho nên, việc tìm đúng dụng thần cho tứ trụ là rất quan trọng. Tìm được dụng thần
 thì hỉ thần cũng dễ nhận ra. Còn muốn biết mức độ dụng thần sinh phù hay khắc chế
 hung thần được bao nhiêu thì còn phải xem dụng thần có lực hay không.
 2) Kỵ thần : Một thần nào đó sẽ là kị thần nếu nó hình, xung, khắc, hại, hoặc hợp
 mất dụng thần, hoặc làm tổn hại hỷ thần. Kị thần trong mệnh cục gây tai hoạ càng lớn
 khi gặp tuế vận vì đó là "thời" của nó để nó hoành hành, đồng thời dụng thần tuy xuất
 hiện như vô lực. Nếu kị thần có lực thì sự khắc hại của nó đối với dụng thần còn lớn gấp
 bội. Tứ trụ như thế không tốt.
 3) Công dụng cuả Hỷ thần và Kỵ thần :
 khi luận đoán mệnh, cần phải kết hợp DT, Hỷ thần và Kỵ thần với tuế vận, lưu niên
 mới xác định chúng chủ về việc gì, cho ai, và lúc nào ứng nghiệm; nghiã là vai trò DT,
 Hỷ , kỵ khi gặp tuế vận có tên như nó (ví dụ chính quan gặp tuế vận chính quan, kiếp tài gặp tuế vận Kiếp tài chẳng hạn), là "thời" của nó, lúc đó nó mạnh nhất trong việc tác oai hay tác
 phúc. DướI đây nên hiểu DT cũng như Hỷ thần, nhưng hiệu lực mạnh và rõ hơn nhiều.
 – Chính quan hoặc thiên quan :
 là hỉ của dụng thần : được quý nhân cất nhắc, thăng quan tiến chức, thi đỗ
 đạt, ứng cử được trúng tuyển, uy quyền tăng rõ rệt.
 là kị thần : quan vận bị hình khắc, dễ bị tù ngục, danh dự tổn thất, bị khống
 chế, liên lụy.
 – Chính ấn hoặc thiên ấn :
 là hỉ của dụng thần : công thành danh toại; lên chức được quyền, học thuật
 tiến bộ, thi cử đỗ đạt.
 là kị thần : thân thể mệt mỏi, mất chức mất quyền, danh dự tổn thất, thi hỏng.
 – Tỷ kiên hoặc kiếp tài :
 là hỉ của dụng thần : được lợi, được của, được tay chân giúp sức, đường tình
 duyên hôn nhân tốt đẹp, bệnh tật mau lành.
 là kị thần : có tổn thất về thê tài, không có lợi cho cha, anh em bất hòa, bạn bè
 gây cản trở.
 – Thực thần hoặc thương quan :
 Q1-ch10-dungthan 13 02/01/2005
 là hỉ của dụng thần : gặp tin mừng, thêm con cháu, thêm tuổi thọ, cháu con
 vinh hiển, tài hoa phát triển, chức lộc đều đạt.
 là kị thần : bị con cháu gây liên lụy, cản trở; thân nhược bệnh nhiều, giáng chức
 mất chức, học hành dở dang, thất nghiệp.
 – Chính tài hoặc thiên tài :
 là hỉ của dụng thần : hôn nhân thuận lợi, tài lợi đều được, được hưởng âm
 đức , di sản của cha mẹ ông bà; được vợ con giúp đỡ; sự nghiệp mở mang.
 là kị thần : tài nhiều thân nhược, không được sự giúp đỡ của cha mẹ vợ con,
 làm ăn quẫn bức, được không bằng mất.
 Hỉ thần – kị thần, hay cát-hung là căn cứ vào sự tổ hợp của tứ trụ của mỗi người khác
 nhau để mà xác định, chứ không thể nói chung chung theo thường tình, như :
 
 Quan, Ấn, Tài, Thực là cát thần;
 Những thần khác là hung thần.
 IV – Luận về sự tốt xấu cuả DỤNG THẦN
 Vì DT thần chẳng qua chỉ là một trong 10 thần, hay 1 trong 5 hành; nên cũng có cái
 sinh nó, cái khắc nó, cái nó khắc, cái nó sinh, cái ngang hoà với nó.
 DT cũng chỉ là một CAN (thần) nào đó, như Can ngày, nên nó cũng có những nhu cầu
 tương tự. Ta có thể dùng cách lý luận như cho Can ngày ;
 Về DT, ta thường gặp trong các sách các từ ngữ sau đây nên hiểu rõ:
 – hỷ thần : là cái sinh, phù , là tốt thêm cho DT ;
 – kỵ thần : là cái khắc chế, làm tổn hại cho DT;
 – vệ thần : là cái được DT sinh ; ví dụ : Tài sinh Quan , Quan bảo vệ Tài, vậy
 Quan là vệ thần của Tài (nói nôm na là ăn cây nào rào cây ấy);
 – DT có tình, có lực / không có lực, đoàn kết, đẹp …
 * Có tình : DT đối với Thân (Nhật nguyên) rất quan trọng, nên khi trong MC cần
 có DT (x), mà trong 4T lại có ngay (x) thì gọi là có tình; ví dụ :
 – 4T có quá nhiều Thổ, muốn chiết giảm bớt Thổ cần có Mộc; nếu có Giáp
 Mộc làm DT thì gọi là có tình (với MC) !
 – Thân vượng, lại còn có nhiều Thiên ấn sinh cho, thì rất tai hại (chẳng khác
 người huyết áp cao mà còn được bổ máu, hay cho uống rượu mạnh !); vậy cần phải tiết
 giảm Thiên ấn. Thiên tài có công dụng này, vì một mặt nó khắc chế Thiên ấn,
 một mặt nó làm hao Thân, vậy có nó ngay trong mệnh cục để làm DT là có tình .
 (Chẳng khác một người đẹp đang tìm người yêu, cô ấy lại có cha mẹ hay bệnh, có nhiều anh
 chàng ứng cử viên, mà trong đó có một anh bác sĩ lại lù lù đến tán tỉnh thì không gì hay bằng !
 Ðùa một chút cho bạn dãn tinh thần và dễ nhớ).
 * Có lực / vô lực :
 Đã nói DT cũng chỉ là 1 hành, 1 thần trong MC, nên nó cũng như Can ngày mà ta đã xét
 kỹ về Vượng hay Nhược, qua các khái niệm được lệnh, đắc địa, được sinh, được trợ
 Q1-ch10-dungthan 14 02/01/2005
 giúp. Nay bạn hãy áp dụng những khái niệm VS ấy cho DT : nếu DT không bị khắc phá,
 lại được lệnh, đắc địa, được sinh, được trợ giúp thì có lực; ngược lại là vô lực.
 Ví dụ như Giáp mộc làm DT thích mùa Xuân; nếu sinh tháng muà xuân thì được lệnh , có lực;
 * Có thế : tức là có trợ giúp (có Tỷ kiếp, Ấn của nó) ; ví dụ DT là Giáp mộc, 4T lại
 
 có Ất mộc, và/hoặc Quý thuỷ thì nó được trợ giúp; (có thể gộp chung với "có lực").
 * Ðoàn kết : tức là ở gần Can ngày (mệnh chủ), tức là can tháng, chi ngày và
 can giờ; những trường hợp khác gọi là DT ở xa. Ðây là nguyên lý gần / xa mà ta đã đề
 cập đến nhiều lần (bà con xa không bằng láng giềng gần, huống chi láng giềng lại là DT !).
 * Ðẹp : Nếu DT có cả Hỷ thần và Vệ thần thì gọi là đẹp, là mệnh tốt. Ví dụ Chính
 ấn là DT, MC có Chính quan là có hỷ thần, và có Kiếp tài là vệ thần thì Chính ấn là DT
 đẹp. Ngược lại, nếu không có cả hai, mà tuế vận lại xung khắc DT là mệnh xấu.
 Tổng kết, nếu MC có DT có tình, có lực, đoàn kết , đẹp và trung hoà là mệnh phú quý;
 ngược lại là ít phú quí.
 Sau khi xác định 1 chữ nào (trong 8 chữ) là DT thì nó có thể là ở thiên can hay địa chi :
 DT ở Thiên CAN :
 – nên đắc khí , có Gốc, tức DT là can lộ mà có can tàng cùng ngũ hành : ví dụ DT
 là Giáp mộc, có Ðiạ chi Dần Mão ;
 – không nên bị khắc chế hoặc bị hợp đi; ví dụ DT Giáp không nên có Canh khắc,
 hay bị Kỷ hợp;
 DT tại CHI :
 – nên được Thiên Can sinh trợ; ví dụ DT Tị hoả được Giáp mộc sinh, hay có Bính
 hoả trợ giúp.
 – không nên gặp Hình, Xung ,Hại, Hợp. Ví dụ DT là Tị Hoả không gặp Hợi (xung),
 Dần (Hình), Thân (Hợp).
 DT đã gặp Hình, Xung, Khắc, Hại mà được THẦN khác cứu giúp giải trừ thì
 không còn xấu nữa. Ví dụ :
 – DT ở CAN : Giáp Mộc DT bị Canh khắc, nhưng có Ất Mộc cũng lộ trên CAN ,
 hợp chữ Canh đi thì CANH sẽ không khắc Giáp nữa;
 Nếu không có Ất mà có Bính, thì Bính Hỏa khắc CANH kim để cứu giúp
 Giáp Mộc.
 – DT ở Ðiạ chi : DT Tị bị Hợi xung, nếu có Dần hợp Hợi thì Xung được giải trừ.
 Tóm lược về sự tốt , xấu cuả DT :
 A) Sự tốt, xấu, hữu dụng hay vô dụng của DT (NHU YẾU của DT) tuỳ thuộc nó:
 1- Có thế, có sức mạnh : như Giáp mộc làm DT thích mùa Xuân;
 2- Có trợ giúp (có tỷ kiếp, Ấn cuả nó);
 3- CAN nên đắc khí , có Gốc : can lộ có can tàng cùng ngũ hành : ex DT là Giáp
 mộc, có Ðiạ chi Dần Mão ;
 Q1-ch10-dungthan 15 02/01/2005
 4- DT ở Thiên CAN : không nên bị khắc chế, hoặc bị hợp đi, ex : DT GIÁP, không
 có CANH và KỶ ;
 5- DT ở CHI , được Thiên CAN sinh trợ : Tị có GIÁP (ấn), hay BÍNH (tỷ kiếp) ;
 6- DT ở CHI không gặp phải hình xung hại hợp;
 7- Có cứu.
 B) Những trường hợp đặc biệt của DT :
 1) Kiện toàn : DT mạnh, không gặp phải khắc, hợp, hình, xung, hại : được phú quý
 vĩnh cữu ;
 2) Hỷ thần (còn gọi là Tướng Thần) :
 DT yếu, nhưng có một chữ khác tương trợ;
 DT bị hình, xung, phá hại, nhưng được 1 chữ khác cứu giải;
 thì chữ đó gọi là hỷ thần;
 3) Cách cục tương kiêm : tức là cách cục cũng là DT (cùng tên), nên ảnh hưởng rất
 mạnh lên mệnh, và tức khắc khi gặp hành vận . Ví dụ Tài cách và DT là Tài, thì khi
 tốt (gặp hành vận Tài) sẽ tiền rừng bạc biển; khi bị phá hại (gặp hành vận Tỷ
 Kiếp), sẽ bị phá sản ngay.
 HẾT

Share this: