Quyển 2 :
Nhưng lý thuyết suông thì khô khan, khó nhớ, lại dễ chán, dù bạn có đọc nát sách cũngvẫn không xem mệnh được; nên quyển 2 sẽ chú trọng về thực hành, cụ thể qua mệnh
của những con người trong kiếp nhân sinh này. Đây là những ví dụ vận dụng điển hình
các cơ sở lý thuyết trong quyển 1, điều mà ai cũng quan tâm khi học đoán mệnh để biết
thực hành, nếu không thì còng lưng đọc sách, nghiên cứu để được ích gỉ ?
* những lãnh vực dự đoán (tiêu chí những sự việc có thể xảy ra cho mệnh / lúc
nào thì có thể xảy ra (tức thời gian ứng nghiệm) :
– cha mẹ, tổ nghiệp
– hôn nhân
– tài vân
– quan vận
– học tập – thi cử – danh vọng
– bệnh tật – tai nạn , rủi ro – lao tù
– tính tình
– con cái
– anh chị em.
(tóm lại là cho mình và lục thân);
* những vấn đề mà mọi người đều quan tâm :
– phối hôn;
– những cách hoá giải cho các mệnh có vấn đề.
Q1-noidung 2 01/01/2005
Chương 1
KHOA TỬ – BÌNH (hay TỨ – TRỤ , hoặc BÁT – TỰ )
Lịch sử
Nguyên lý
Ứng dụng
Tứ trụ cuả một người là 4 trụ gồm năm, tháng, ngày, giờ sinh theo âm lịch, mỗi trụ được chỉ bằng 2 chữ
Can và Chi nên thành 8 chữ (bát tự). Vậy bất cứ một thời điểm năm, tháng, ngày, giờ âm lịch nào cũng
đều là "tứ trụ" cả, không cứ là ngày giờ sinh ; Ví dụ trong việc xem quẻ Dịch, thì năm, tháng, ngày, giờ âm
lịch lúc gieo quẻ cũng là một Tứ trụ.
Trước khi đi sâu vào phương pháp này, một lịch sự tối thiểu là chúng ta phải biết nguồn
gốc , những nguyên tắc cơ bản , và các ứng dụng hay ích lợi của nó. Nếu vô dụng thì hơi
đâu bạn mất tâm lực để nghiên cứu nó làm gì !
Lịch sử của khoa Tứ trụ :
– Phương pháp này do LẠC Lộc sáng tạo từ đời nhà Ðường (618-907) bên Trung hoa,
qua bài phú nhan đề « Lạc lộc tử tam mệnh tiêu tức » dựa trên học thuyết ngũ hành
xuất hiện từ đời nhà Hán (cách nay trên 2000 năm). Có thể nói không hàm hồ là toàn
bộ khoa Tứ Trụ đều xây dựng trên cơ sở âm dương và ngũ hành.
Ông dùng Can, Chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh, chuyển qua ngũ hành, rồi theo sinh khắc chế hoá để tiên đoán vận mệnh cho rất nhiều người, tất cả đều chuẩn xác, nên
đương thời coi ông như Thần, gọi ông là Lạc Lộc Tử.
Trọng tâm lý luận của Lạc Lộc là Trụ Năm, nó là chúa tể của 4 mùa, 12 tháng
(nguyệt / mặt trăng), 360 ngày (nhật / mặt trời).
– Phương pháp này sau đó được LÝ hư Trung , nhà thông thái của Hoàng gia nhà Ðường,
thâm cưú, bổ túc thêm, nhưng vẫn còn dưới dạng các bài phú. Văn vần hay thơ thì dễ
học thuộc lòng, và dễ truyền bá trong dân gian.
– Ðến đời Ngũ đại (907-960), nó được TỪ Cư Dịch, tự là Tử Bình , thường xưng là Bồng
lai tẩu, quê ở Ðông hải, ẩn cư tại Hoa sơn cùng với Lã đồng Tân, tu tiên , rất giỏi về
mệnh lý học, bình chú bài phú nói trên, viết thành sách 2 quyển «Lạc lộc tử tam mệnh
tiêu tức phú chú » một cách có hệ thống, diễn giải lại toàn bộ thuật coi bát tự của Lạc
lộc tử. Sách này được dùng mãi đến nay, nên đời sau gọi là phương pháp Tử Bình, để
tưởng nhớ đến công lao cuả ông .
Trọng tâm lý luận của Tử Bình là Trụ Ngày, chữ ngày viết theo chữ Hán là nhật /
mặt trời, chi phối toàn bộ vận mệnh của một người, do đó nó được gọi là Nhật nguyên,
THÂN (là TA), hay MỆNH CHỦ.
– Qua đời nhà Tống (960-1279), có hoà thượng Từ Ðạo Hồng đã quảng bá khoa này
rộng rãi ở Giang Nam. Rất nhiều người nắm vững, và lưu truyền đến ngày nay. Nó dần
dần đã vượt biên giới Trung quốc, lan truyền qua Ðài loan, Việt nam, Ðông Nam Á.
– Ðến đời nhà Minh (1368-1644), có Vạn Dục Dân, tiến sĩ, nhà thông thái, đã viết một tác
phẩm lớn, tổng hợp toàn bộ các kiến thức về xem mệnh được biết cho đến thời đó ở
Trung hoa, trọng tâm vẫn là khoa Tử Bình.
Q1-Ch01-khoa Tu-Binh 1 02/01/2005
Nguyên lý của khoa Tứ trụ :
Khoa này không dùng Bát Quái và Kinh Dịch, ngoại trừ khái niệm Âm/Dương. Ngược lại,
nó tập trung vào ngũ hành của tứ trụ. Mỗi trụ được tượng trưng bởi 1 trong 10 Can
(Giáp, Ất,…, Nhâm, Quý , ứng với Trời / không gian, nên gọi là Thiên can), và 1 trong
12 Chi (Tý, Sửu, Dần,…,Tuất, Hợi, ứng với Ðất / thời gian, nên gọi là Ðịa chi).
Mỗi địa chi trên các trụ có tàng chứa từ 1 đến 3 Can, gọi là Nhân nguyên, một khái niệm
rất quan trọng trong khoa Tử Bình vì nó hàm ngụ về người và sự việc có liên quan tới
mệnh : nếu xãy ra việc gì (sự việc), xãy ra cho ai (người), vào thời điểm nào ?

Tử Bình lấy CAN NGÀY làm trung tâm (gọi là mệnh chủ) , phối với các can trên trụ
khác , bất kể là lộ trên can hay tàng trong địa chi, thành 10 thần. Mỗi thần tượng trưng cho
người thân, hay việc, hay một lãnh vực nào đó cuả mệnh. Nên nhớ xem mệnh chẳng qua
chỉ là xem cho một người, và những người có liên quan thiết thân tới y mà thôi (như
vợ/chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em). Còn việc, lãnh vực trong đời y thì chẳng qua là
tiền tài, hôn nhân, sự nghiệp, tai nạn, sức khoẻ, v..v..của y, và của người thân cuả y.
Ðại cuộc thì như thế, nhưng để biết những diễn biến suốt cuộc đời, như một kịch bản,
một « chuyện phim đời » , nó chia đời ngươì thành các vận 10 năm (gọi là đại vận –
cũng giống như khoa Tử vi), rôì trong mỗi vận lại xét từng năm (còn gọi là lưu niên hay
thái tuế), cả hai đều sắp xếp theo can-chi, nên từ đó cũng phối với CAN NGÀY thành 10
thần , an trên đại vận và lưu niên, do đó ta không phải chỉ có 4 mà là 6 trụ (4 trụ + đại vận + lưu
niên) để luận giải . Có khi lại còn chia năm ra từng tháng, tuy rằng xuống tới tháng thì ít
khi dùng đến, nhưng cũng cùng một nguyên lý ngũ hành sinh khắc chế hoá; nó được
dùng trong trường hợp người xin đoán cần lấy những quyết định quan trọng trong một
năm nào đó.
Khoa này cũng dùng cát cát thần và hung sát tương tự trong Tử vi và Bốc phệ (bói Dịch)
để giải đoán vận mệnh. Nhưng bọn thuật sĩ đã tạo ra quá nhiều thần sát để hù dọa
những người mê tín đặng thủ lợi, đến nỗi người đời sau không biết đâu mà mò. Chúng ta
chỉ cần khoảng 15 thần sát thường dùng là đủ. Cốt tuỷ vẫn là âm dương, ngũ hành sinh
khắc chế hoá, còn Thần sát chỉ nên được dùng để bổ túc (phụ hoạ) cho các kết luận khi
dự đoán.
Tử Bình lý giải Mệnh, Vận bám sát theo :
– Âm dương
– Ngũ hành sinh khắc chế hoá
– Ðịa chi hợp, xung, hình, hại
qua các tương tác giữa mệnh cục (tứ trụ), và đại vận, lưu niên – tức vận trình ; vì dùng
ngũ hành nên độ chính xác của thời gian ứng nghiệm cao nhất, hơn hẳn các khoa khác.
Và tuỳ khả năng thiên phú, bản lĩnh nắm bắt được các thông tin, trình độ tổng hợp cao
hay thấp, toàn diện hay không của người đoán…mà kết luận có thể đúng hay sai, hay
hay dở, chứ không cứ là phải hành nghề lâu năm mới giỏi, dù rằng kinh nghiệm cũng rất
cần thiết. Vậy bạn hãy cứ vững tin nơi bạn, và đừng sợ ai cả, kể cả những bậc thầy.
Ứng dụng của khoa Tứ trụ :
– mô tả tính tình, tướng mạo, sự nghiệp, nghề nghiệp, điạ vị xã hội, học hành, tiền bạc ,
giàu sang nghèo hèn, cát hung, thọ yểu , hôn nhân, tình duyên, bệnh tật, tai nạn , rủi ro,
tử vong, lao tù , v..v.. của một người.
– vạch ra cuộc đời của một người, từ lúc còn bé thơ, thanh niên, trung niên, đến già,
chết;
– nêu rõ những việc liên quan đến các người thân của y : tổ nghiệp (âm đức tổ tiên), ông
bà , cha mẹ, anh chị em, vợ/chồng, con cái;
– Nắm vững khoa này có thể giúp ta tìm giải pháp cho các mệnh có vấn đề.
Ví dụ theo Ðông Y, một người sẽ bệnh nêú ngũ hành (thông qua ngũ tạng, lục phủ)
trong cơ thể không quân bình ; để định bệnh, phải xem mạch ; và để chữa bệnh, phải
dùng dược liệu, hay châm cứu ; tất cả đều dựa trên lý luận âm dương, ngũ hành, để
điều hoà ngũ hành của ngũ tạng, lục phủ. Ðó là y bệnh
Ðờì một ngườì cũng vậy, nêú ngũ hành của năm, tháng, ngày, giờ sinh thông qua
Can-Chi mất quân bình thì mệnh đó có bệnh, hung nhiêù, cát ít (tai nạn, bệnh tật, rủi
ro, chết yểu …). Phương pháp Tứ Trụ giúp ta định được các nguyên nhân, rôì có thể tìm
giải pháp cho mệnh (đó là y-mệnh) .
– Phương pháp này cũng rất thích dụng thời nay cho việc tuyển dụng nhân viên. Thật
vậy, hiện nay ở Tây phương, ngườì ta đã dùng các phương pháp phân tích chữ viết, chữ
ký (graphologie) , tử vi tây phương (zodiaque) trong việc tuyển người vào các xí nghiệp,
tại sao ta lại bỏ qua phương pháp Tứ Trụ, đã từng được lịch sử chứng minh trên hơn
1000 năm nay ? Ðiều này chắc chắn khoa Tứ Trụ sẽ có đóng góp nhất định.
– Trong các khoa Bát trạch – Phong thuỷ , ngoài Bát quái, thì Tứ Trụ của chủ nhà còn
giúp ta định được « hành bản mệnh (hay Dụng Thần) » của y, rồi qua nó mới định được
hướng nhà tối ưu, theo hành đó, trong khi khoa Bát trạch (cung phi) chỉ dùng có 1 trụ
năm, nên cục bộ hơn.
– Mệnh lý học phối hợp với nhiêù phương pháp khác để vận dụng trong các việc :
* Ðầu tư, kinh doanh, theo đúng thời vận;
* hướng nghiệp ;
* So tuổi trong việc kết hôn; mướn người ; chọn người hùn hạp ;
* Xây cất nhà cửa, mua nhà hay sửa nhà.
* v…v…
Chú ý : Người xin xem mệnh phải cung cấp đủ năm, tháng, ngày, giờ sinh chính xác, vàphái tính (Nam hay nữ) . Không có đủ 4 yếu tố này (bốn Trụ), không nên xem. Nếu bạn
không có đủ cả 4, đừng tốn tiền vô ích, bởi lẽ đó là số của người khác, không phải của
bạn.
Q1-Ch01-khoa Tu-Binh 3 02/01/2005
Ngoài ra, phải để ý đến nơi sinh, và ở những khoảng niên đại nào. Vì sao ?
Nhiều nước trong các giai đoạn lịch sử cận đại, giờ trong ngày đã có những thay đổi do
nhà cầm quyền chính trị đương thời áp đặt, khác với giờ tự nhiên, ví dụ Việt nam đã đổi
giờ nhiều lần. Cũng như ở Âu châu sau khủng hoảng năng lượng 1973, từ 1976 để tiết kiệm nặng lượng
sưởi vào muà đông, các chính phủ đã cho đổi giờ 2 lần trong năm tuỳ muà đông hay muà hè, ngoại trừ
nước Anh, vì kinh tuyến gốc của nó chạy qua London, làm chuẩn cho giờ quốc tế GMT, nên không đổi giờ
được. Vì thế chúng ta phải định lại giờ theo đúng giờ tự nhiên. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề
nầy, trong mục lập tứ trụ.
Có người cho rằng phải lấy giờ Bắc kinh làm chuẩn, tất cả trên toàn thế giới phải
qui ra giờ Bắc kinh mới đoán đúng được (sic ! ). Theo tôi, đây chỉ là một thứ tinh thần
chauvin nước lớn của mấy anh Tàu ! Vì sao ? Vì Giờ giấc là do mặt trăng, mặt trời quyết
định đêm ngày (âm dương) ở chỗ người đó được sinh ra, chứ đâu phải Bắc kinh quyết
định !
Về xem quẻ theo bát quái cũng vậy, ngày giờ là ngày giờ lúc và nơi người ấy gieo
quẻ, hay muốn hỏi. Lúc đó và ở đó Âm dương, nhật, nguyệt mới ảnh hưởng trực tiếp vào
y, và tâm tư y, rồi qua sóng điện não mà ra quẻ. Ngày nay, với phương tiện truyền thông
hiện đại (điện thoại, internet…), ta có thể trả lời trực tiếp cho người hỏi, bất cứ họ ở nơi
đâu. Kinh nghiệm cho thấy tôi ở Paris mà giải đoán cho mọi người, trên khắp thế giới,
qua điện thoại hay internet, đều luôn luôn chính xác, không khác gì họ ngồi trước mặt
tôi để xin đoán.

Share this: