Chương 2
ÂM DƯƠNG – NGŨ HÀNH
ÂM DƯƠNG
NGŨ HÀNH
ÂM DƯƠNG
Ðịnh nghiã , phân loại :
Âm dương là 2 yếu tố quan trọng trong cuộc sinh thành tiến hoá của muôn vật. Ý nghiã tuy
trái ngược nhau nhưng trong sự sinh hoá, Âm dương luôn luôn dung hoà lẫn nhau, tương giao cùng nhau, bổ túc lẫn nhau, liên kết với nhau mật thiết.
Âm dương là lưỡng nghi, sẽ phân ra làm 4 gọi là tứ tượng :
Thiếu dương : khí dương còn non;
Thái dương : dương cang cực;
Thiếu âm : âm mới sinh;
Thái âm : âm dày đặc.
Ðặc tính :
Dương : động, nóng, sáng, trong, nhẹ, nổi lên trên, khô ráo, cứng, mạnh, tiến đi ra,
đến mau lẹ, mở;
số lẻ, nam, ngày , trời, mặt trời, hoả, bên trái cơ thể;
Âm : Tĩnh, lạnh, tối, đục, nặng chìm xuống dưới, ẩm ướt, mềm, yếu, lùi trở lại,
đến chậm chạp, đóng;
số chẵn, nữ, đất, đêm, mặt trăng, thuỷ, bên phải cơ thể.
Tính tình :
Dương : bất khuất, nóng nảy , vui vẻ, bướng bỉnh, ngang ngược, quang minh chính
đại, khảng khái, hào hiệp, có lòng từ thiện, ít suy xét, giữ vững lập trường, quyết định mau
chóng, làm cái gì cũng hay quá đáng.
Âm : Chiụ đựng, mềm mỏng, lo sầu, nhịn nhục, nhút nhát, tiểu nhân, dối trá, nhỏ
nhen, a dua, nịnh hót, trục lợi, thích an nhàn, hay nghĩ ngợi, không có định kiến, thay đổi ý
kiến luôn, quyết định chậm chạp, làm cái gì cũng rụt rè sợ hãi.
Âm dương phối hợp điều hoà : quân tử, thuần hậu, cư xử đứng đắn, hành động cân
nhắc điều hoà.
Sự biến chuyển :
Trong sự biến hoá tuần hoàn : âm trưởng thì dương tiêu; dương trưởng âm tiêu; âm tăng
đến chỗ cực thịnh thì dương sẽ phát sinh và âm sẽ thoái dần; và dương tăng đến chỗ cực
thịnh âm sẽ phát sinh và dương sẽ thoái dần .

Ví dụ : Trong 1 năm 12 tháng,
– mùa đông âm khí nhiều, khí hậu lạnh; gần cuối đông âm khí thịnh dương khí bắt
đầu sinh;
– qua mùa xuân, dương khí mới phát sinh còn non, khí hậu ấm áp;
– đến muà hạ, dương khí tăng trưởng khí hậu nóng, gần cuối hạ dương khí cựcthịnh, khí hậu nóng bức, âm khí phát sinh;
– qua muà thu, âm khí mới sinh khí hậu mát, âm khí dần dần tăng trưởng bước qua
mùa đông ; rồi cứ thế tiếp diễn.
Trong 1 ngày 12 giờ cũng vậy : nửa đêm, sáng sớm, giữa trưa, buổi chiều, lại nửa đêm.
Giưã năm và ngày có một sự tương đồng khá kỳ lạ.
Âm dương tương giao hoà hợp
Âm dương giống như 2 cực của nam châm, cùng tính thì chống đẩy nhau, khác tính
thì thu hút lẫn nhau, nên dù ý nghiã trái ngược nhau, nhưng trong mọi vật 2 yếu tố ấy luôn
luôn dung hoà lẫn nhau, tương giao cùng nhau. Cả hai đều đóng vai trò quan trọng trong
cuộc sinh thành của muôn vật; dương có tác động gây ra mầm trước, và âm sẽ hoàn thành
sau, thiếu một cái thì không thể hình-thành được, vì "cô dương bất sinh, cô âm bất trưởng"
, nghiã là chỉ có dương thì vạn vật không sinh, và chỉ có âm vạn vật không lớn được.
Giai đoạn Âm dương của đời người
dương âm
Sơ sinh Phát dục trưởng Tráng thịnh cực Suy Lão đại tử tuyệt
thành vượng nhược (già nua)
mới sinh 30 tuổi lúc chết
hướng vượng (tiến) hướng suy (thoái)
Từ sơ sinh đến 30 tuổi, cơ thể mỗi ngày một lớn mạnh nên thuộc dương; 30 tuổi là
lúc cực thịnh, nhưng rồi cơ thể sẽ dần dần suy, nên từ sau 30 tuổi đến khi chết thuộc âm.
NGŨ HÀNH
Ðịnh nghiã :
ngũ hành là 5 hành : mộc, hoả, thổ, kim, thuỷ.
Hành có nghiã là lưu hành ; 5 hành này luôn luôn vận chuyển sinh khắc chế hoá ảnh
hưởng trên vận mệnh con người.
Ngũ hành, qua can chi của 4T của 1 người, đại biểu cho :
Tính tình ; Nhân thể ;
Màu sắc ; 4 mùa ;
Mùi vị ; phương vị ;

đó đều là những đặc tính căn bản.
Sự sinh thành :
Khí Âm dương luân chuyển biến hoá mà tạo ra ngũ hành, 5 hành của ngũ hành được
hình thành qua 2 giai đoạn.
1) Giai đoạn sinh :
Nói về số thì : Trời 1 sinh thuỷ, đất 2 sinh hoả, trời 3 sinh mộc, đất 4 sinh kim, trời 5
sinh thổ. Vậy số 1,2,3,4,5 là số sinh của ngũ hành.
Diễn tả về ý nghiã :
– khi trời đất vừa thành lập, dương khí sinh ra nước trước nhất; thuỷ sinh ra ở lần
thứ 1,
– dương khí sinh ra nước, âm khí sinh ra lửa đối lại nên hoả sinh ra ở lần thứ 2,
– có thuỷ hoả tất khí nóng lạnh xô xát nhau mà tạo ra gió nên mộc sinh ở lần thứ 3
(phong là gió sinh mộc) bởi dương khí,
– dương khí sinh mộc thì âm khí phải sinh kim đối lại nên kim sinh ra ở lần thứ 4;
– cuối cùng thổ sinh ra để bao dung cả 4 hành trên, nên thổ sinh ra ở lần thứ 5 bởi
dương khí.
2) Giai đoạn thành :
Ở trên là lẽ sinh của ngũ hành, nhưng đã có sinh thì phải có thành, sinh bắt đầu bởi dương
khí thì thành bắt đầu ở âm khí; Âm dương phối hợp có công dụng sinh-thành.
Nếu nói về số thì :
Trời 1 sinh thuỷ, đất 6 thành thuỷ;
đất 2 sinh hoả, trời 7 thành hoả;
Trời 3 sinh mộc, đất 8 thành mộc;
đất 4 sinh kim, trời 9 thành kim;
Trời 5 sinh thổ, đất 10 thành thổ;
vậy số 6,7,8,9,10 là số thành của ngũ hành.
Tóm lại 1,6 sinh-thành thuỷ; 2,7 sinh-thành hoả; 3,8 sinh-thành mộc; 4,9 sinh-thành kim;
5,10 sinh-thành thổ.
Phương hướng :
Mộc ở phương đông, hoả ở phương nam; thổ ở trung ương (chính giữa), kim ở phương tây,
thuỷ ở phương bắc. Ðây chính là phương vị ngũ hành trong Hà đồ.
Q1-ch02-Amduong-Nguhanh 3 02/01/2005
(Hình vẽ)

Ngũ khí : – Phong khí thuộc mộc;
– Thử khí (khí nóng gay gắt của mùa hạ) và nhiệt khí thuộc hoả;
– Thấp khí (khí ẩm ướt) thuộc thổ;
– Táo khí (khí khô do mát mà thành) thuộc kim;
– Hàn khí (tức khí lạnh) thuộc thuỷ.
Ngũ thường :
Là 5 đức thường của con người : nhân, nghiã, lễ, trí, tín. Tương ứng qua ngũ hành :
mộc chủ nhân, hoả chủ lễ, thổ chủ tín, kim chủ nghiã, thuỷ chủ trí.
– Con người sinh ra tính vốn bản thiện, nên mộc chủ nhân vì mộc là sơ khí.
– Ðức nhân đã có , phải học tập để biết cách cư xử cho đúng phép, hoả chủ lễ; vì
mộc sinh hoả và hoả là nhị khí;
– Hiểu lễ thì bao giờ cũng thành thực, thổ chủ tín vì hoả sinh thổ.
– Nhân lễ tín đã có, ắt hành động theo lẽ phải; kim chủ nghiã, thổ sinh kim.
– 4 đức trên đã sẵn sàng, trí sẽ nảy sinh để hiểu rõ sự lý, con người trở nên hoàn
toàn, thuỷ chủ trí vì thuỷ là chung khí.
Tạng phủ : xem bảng tổng hợp;
Biểu tượng vật chất : xem bảng tổng hợp;
Sinh khắc :
Sự sinh khắc ngũ hành là nguồn gốc của sự chế hoá trong vũ trụ; hợp với nhau là sinh, mà
sinh thì tiếp tục tăng lên; trái với nhau là khắc, mà khắc thì bị hạn chế bớt lại.
1) Tương sinh : mộc sinh hoả, hoả sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thuỷ, thuỷ sinh mộc;
– đốt cây sẽ có lửa : mộc sinh hoả
– mọi vật đem đốt cháy sẽ trở thành tro bụi trở về đất : hoả sinh thổ,
– trong đất có quặng mỏ kim loại : thổ sinh kim,
– kim loại nấu chảy thành nước : kim sinh thuỷ
– nước rất cần thiết cho sự sống của cây : thuỷ sinh mộc;
2) Tương khắc : mộc khắc thổ, thổ khắc thuỷ, thuỷ khắc hoả, hoả khắc kim, kim khắc mộc.
– trồng cây lâu đất trở nên cằn cỗi : mộc khắc thổ,
– đất lấp được sông biển ao hồ : thổ khắc thuỷ,
– nước dập tắt được lửa : thuỷ khắc hoả,
– lửa làm chảy kim loại : hoả khắc kim,
– dao bằng kim loại chặt đứt cây : kim khắc mộc.Q1-ch02-Amduong-Nguhanh 5 02/01/2005
trên vòng tròn, 2 hành liên tục theo chiều kim đồng hồ là ngũ hành tương sinh;
cách ngôi , theo ngôi sao, theo chiều mũi tên là ngũ hành tương khắc. Ở đây, bạn chưa
cần để ý tới hình bên phải vội.
Nhưng giưã các hành, không chỉ đơn giản là tương sinh, tương khắc. Cần chú trọng mặt
thái quá và mặt bất cập của các hành :
* Kim vượng : gặp Hoả sẽ thành vũ khí (có ích) ;
* Hoả vượng : gặp Thuỷ thì trở thành cứu ứng cho nhau ;
* Thuỷ vượng : gặp Thổ sẽ thành ao hồ ;
* Thổ vượng : gặp Mộc thì việc hanh thông ;
* Mộc vượng : gặp Kim sẽ trở thành rường cột ;
Theo Chu Dịch : "mọi việc, mọi vật trong thế gian đều thống nhất ở thái cực". Ngũ hành là
sự thể hiện rõ nhất, lớn nhất của vạn vật ; cho nên mọi việc, mọi vật thống nhất ở âm
dương, ngũ hành.
Con người là một linh vật trong vạn vật, nên tất nhiên nó phải chịu ảnh hưởng của sự vận
động không ngừng của vũ trụ. Khoa Tử Bình dự đoán theo Tứ trụ là một khoa dự đoán có
tham vọng giải thích toàn diện về cuộc sống của 1 cá nhân – tiểu thiên địa – nó nghiên cứu
các qui luật chi phối sinh mệnh con người, vận dụng các qui luật sinh, khắc cuả ngũ hành
để giải thích tương quan giữa con người và trời đất.
Ngũ hành trong 4T có cái thiên vượng, có cái thiên nhược.
Mặt vượng : chỉ những đặc tính lộ rõ , nổi trội ;
Mặt nhược : chỉ những đặc tính chìm ẩn hoặc yếu hơn ;
Mặt thiếu khuyết : Ta có thể bổ sung cho người đó, để hướng tới cái tốt, tránh cái
xấu ;
Ví dụ : người trong 4T không có hành Thuỷ thường thích màu đen (xe cộ, y phục, trang trí …, và
thường bị bệnh về thận, bàng quang ; họ sẽ được bổ sung bởi màu sắc đen, phương Tây (kim, sinh thuỷ) ;
hay phương Bắc (Thuỷ vượng).
Q1-ch02-Amduong-Nguhanh Qua sự bổ sung lý tính, hoặc qua sự lựa chọn có lợi cho sự nghiệp, nghề nghiệp, tiền đồ,
hôn nhân, tài phú, quan lộc, phúc thọ, lục thân, sức khoẻ, để cân bằng tổng hợp cho 4T,
tức là ta đã chọn sự bổ sung có lợi, không có hại.
Chữ bổ là chià khoá vàng của Khoa Tử Bình : đó là bổ khí âm dương ngũ hành, bao gồm
không gian và thời gian của vũ trụ, mà người đó nhận được lúc sinh ra.
Qua các khí của ngũ hành trong 4T ta có thể dự đoán được các mặt sau đây của 1 người :
Nhân dáng, tính tình :
Từ mệnh lý có thể đoán biết được bẩm tính, diện mạo, vóc dáng, nói năng, cử chỉ,
thiện ác . . . của con người. Nếu biết nhiều phương pháp dự trắc khác, và tổng hợp
được với phương pháp 4T thì kết luận càng chính xác, có thể thấy thêm được các
mặt lộ ra về âm đức, phong thuỷ, nhà cửa, di truyền.
Bản tính cuả con người là phẩm chất bẩm sinh vốn có. Tính tình con người có quan
hệ mật thiết với ngũ hành ; tuy có thể thay đổi do ảnh hưởng của hậu thiên (hoàn
cảnh gia đình, môi trường giáo dục …), nhưng căn cứ vào sự Vượng Suy Sinh Khắc
của âm dương , ngũ hành đã được thể hiện trong tứ trụ (tiên thiên) , thì về căn bản,
thiên tính con người không dễ thay đổi.
Ngành nghề, phương vị thích hợp : cho biết ngành nghề thích hợp, và phương hướng có
lợi ;
Các bộ phận và tạng phủ : cho biết sức khoẻ ; bệnh tật có thể gặp phải.
Ngũ hành phản sinh và phản khắc :
Tuy nhiên, trong Ngũ hành sinh khắc, nếu chúng ta chỉ biết thuần sinh và thuần khắc, mà
không biết được sự phản sinh, phản khắc thì sẽ vận dụng không tốt lý luận Ngũ hành sinh
khắc để tiến hành dự đoán các thông tin về nhân thể.
a) Tự thân vượng mà có cái khắc bớt : sẽ tốt.
Về Ngũ hành sinh khắc, trong sách "Nguyên lý phú" của Từ đại Thăng có nói :
Kim Vượng mà được Hỏa sẽ thành vũ khí
Hoả Vượng mà được Thuỷ sẽ thành cứu nhau
Thuỷ Vượng mà được Thổ sẽ thành ao đầm
Thổ Vượng mà được Mộc sẽ thành thông thương
Mộc Vượng mà được Kim sẽ thành trụ cột. Khi nói Kim Vượng mà được Hỏa sẽ thành vũ khí là nói Nhật nguyên là KIM vượng (trong
tứ trụ lấy can ngày làm mệnh chủ, còn gọi là thân, hay Nhật nguyên), phải có Hỏa khắc
KIM để rèn luyện thì Kim đó mới thành vũ khí.

Những hành khác cũng lý luận tương tự.
Can ngày VT, đắc thời, đắc địa mới có thể làm quan đảm nhiệm trọng trách với dân với
nước , hoặc để đối chọi lại được cái Sát (khắc) tôi. Tức là nói tổ hợp tứ trụ phải tốt thì lưu
niên, đại vận mới có thể tốt được.
b) Nếu tự thân yếu, suy mà còn bị khắc (can ngày yếu lại gặp Sát) thì tứ trụ
thiên nhược, lưu niên, đại vận tất nhiên sẽ xấu nhiều tốt ít ;
c) Phản sinh là khắc (cái SINH quá nhiều) ;
d) Tiết khí nhiều là khắc (cái được SINH quá nhiều) ;
e) Phản khắc (cái bị khắc lại quá mạnh hay nhiều, thì chính cái đi khắc sẽ bị thiệt
hại)
Ngũ hành quá dư thưà (tự thân đã vượng lại còn được phù trợ) : thái quá bao giờ cũng
xấu.
Bảng tóm tắt Âm dương, ngũ hành
dương âm
đặc tính động, nóng, sáng, trong, nhẹ, tiến, Tĩnh, lạnh, tối, đục, nặng, lùi,
cứng, mạnh mềm, yếu
Tính bất khuất, nóng nảy, hào hiệp, chịu đựng, mềm mỏng, lo sợ, nhút
tình thích hoạt động, quyết định mau nhát, quyết định chậm chạp…
chóng …
số lẻ chẵn

Ngũ mộc, hoả Kim, thuỷ
hành
mùa Xuân, hạ Thu, đông
Thiên Giáp, bính, mậu, canh, nhâm ất, đinh, kỷ, tân, quý
can
điạ chi Tý, dần, thìn, ngọ, thân, tuất sửu, mão, tị, mùi, dậu, hợi
Xem mệnh là xem tất cả mọi khiá cạnh cho một con người , bảng này cho ta một số ứng dụng về mặt tính
cách, và tính tình ;
Sách "Hoàng đế nội kinh" đã luận về âm dương như sau : "âm dương là đạo của trời
đất, là kỷ cương của vạn vật, là cha mẹ của sự biến hoá, là nguồn gốc của sự sinh sát";
"Sự hợp của trời đất gắn chặt với âm dương ngũ hành". Mọi vật trong đời này, sinh diệt,
diệt sinh cứ thế luân hồi gắn chặt với quy luật âm dương ngũ hành tương sinh tương khắc.
Người là tiểu thiên địa ; cơ thể có ngũ tạng lục phủ thể hiện qua ngũ hành; do đó ta mắc
bệnh là do âm dương ngũ hành bất quân bình gây ra ; Về điểm này, y học hiện đại ngày
nay đã chứng minh rõ.

Và tứ trụ cũng vậy; nó thể hiện ngũ hành qua các can chi, con người gặp phải những
đau khổ hay tai hoạ bất ngờ cũng là do âm dương ngũ hành gây ra cả . Ðiều này có tính
cách mệnh lý.
Âm dương ngũ hành, giới triết học thường cho đó là một danh từ trừu tượng, thực ra
nó không trừu tượng, mà là một loại vật chất có lượng, có chất. Nó là "khí" nguồn gốc của
vạn vật. Khí tụ lại thành vật, vật hoá thành khí, cho nên khí là một loại vật chất.
Âm dương ngũ hành trong cơ thể người là một loại vật chất rất tinh vi, không những
ngày xưa mà cả ngay khoa học hiện đại ngày nay cũng chưa có máy móc nào có thể đo
được. Những khái niệm về ngũ hành, qui ngũ hành qua tạng phủ đã có cơ sở lý luận qua
đông y đông dược, châm cứu …
Còn từ năm tháng ngày giờ sinh, mà qui ra âm dương ngũ hành, qua trung gian cuả Can –
Chi, thì quả thật chúng ta phải chấp nhận như vậy (là một bí nhiệm) nếu muốn đi xa trên con đường tìm hiểu về mệnh lý, bói toán… Và mệnh lý chẳng qua là tương tác giưã âm
dương, ngũ hành cuả ngày giờ sinh và âm dương ngũ hành cuả vận trình (đại vận, lưu
niên, tiểu vận…)
Người xưa, để nắm vững quy luật sinh khắc biến hoá của âm dương ngũ hành trong tự
nhiên và cơ thể, đã phát minh ra mười thiên can và mười hai địa chi để biểu thị :
– bốn phương tám hướng trong trời đất để, định phương hướng;
– bốn mùa xuân hạ thu đông của một năm, để định các tiết lệnh;
– lục phủ ngũ tạng trong cơ thể, để biết khoẻ hay bệnh.
Thiên can địa chi đã chia âm dương ngũ hành ra không những có khí mà còn có sắc, có
ánh sáng và có điện, như :
– khí mộc thuộc màu xanh, sinh gió;
– khí hoả thuộc màu đỏ, sinh nhiệt;
– khí thổ thuộc màu vàng, sinh táo;
– khí kim thuộc trắng, sinh hàn;
– khí thuỷ thuộc đen, sinh thấp;
Nên cơ thể người ta có sự thay đổi về phong nhiệt táo hàn thấp; khi âm dương ngũ hành
của cơ thể không điều hoà thì lục phủ ngũ tạng mất sự thống nhất. Ngũ hành thông với
năm tạng, lục phủ thông với chín khiếu. Mười can bị khắc thuộc lục phủ, mười hai chi bị
khắc thuộc ngũ tạng. Do đó căn cứ theo sự biến hoá thịnh suy của âm dương ngũ hành
mười can, mười hai chi mà biết được sự thịnh suy của tạng phủ. Cho nên có thể đạt được
mục đích phòng bệnh, trị bệnh.

Share this: