Chương 4
TỨ TRỤ LÀ GÌ ?
(HAY BÀN VỀ NĂM, THÁNG, NGÀY, GIỜ SINH)
Trụ năm
Trụ tháng
Trụ ngày
Trụ giờ

Có thể nói tất cả các khoa chiêm tinh, bói toán của các nền văn minh trên thế giới đều
xoay quanh năm, tháng, ngày, giờ.
Trong các khoa bói toán xuất xứ từ Trung hoa, năm, tháng, ngày, giờ của một thời điểm
bất kỳ là theo âm lịch, gọi là Tứ trụ ; mỗi trụ được chỉ định bởi một cặp CAN CHI.
Chẳng hạn bói theo bát quái thường dùng « Tứ Trụ của lúc gieo quẻ ».
Vì cả khoa Tứ Trụ đều dựa trên 4 trụ này nên nó là đối tượng của cả cuốn sách. Phần chi tiết từng trụ sẽ
được đào sâu trong từng chương mục riêng liên hệ. Còn ở đây, chỉ bàn đại cương, cố tránh nói leo, nói
trước – được chừng nào tốt chừng nấy – khi bạn chưa có đủ những căn bản về đóan mệnh.
Ðối với khoa dự đoán theo Tứ Trụ thì đó thời điểm của năm, tháng , ngày, giờ sinh
của một người. Do đó ta phải nắm vững ý nghiã của từng trụ, và sự tương tác, phối hợp
giữa các trụ, qua tổng hợp các cách nhìn khác nhau :
Qua CUNG (Mỗi trụ là 1 Cung, ví dụ : trụ năm là cung tổ tiên, cha mẹ , trụ
tháng là cung anh em, trụ ngày là cung thân và chồng / vợ , trụ giờ là cung
con cái ;
Qua Lục thân (10 Thần / tổ tiên, cha mẹ, anh em, chồng (vợ), con cái) là SAO
(TINH) ; ý nghiã cũng gần giống như các Cung trên đây, cộng thêm tính
cách, hay nghề nghiệp ;
Qua Can, Chi ;
Qua ngũ hành ;
Qua các giai đoạn (tuổi) của cuộc đời, mỗi giai đoạn gọi là 1 hạn :
trụ năm trụ tháng trụ ngày trụ giờ
0 – 15 tuổi 16 – 31 tuổi 31 – 47 tuổi 47 – 65 tuổi
Nguyên tắc tổng quát để xem mỗi trụ là :
1- lấy Lệnh tháng để đo vượng , suy (qua bảng Trường Sinh);
2- xem quan hệ sinh khắc lẫn nhau giưã can và chi của trụ đó;
3- Cuối cùng, dựa vào sinh khắc, chế hoá của các trụ khác đối với nó để quyết định tăng
giảm độ mạnh yếu đó.
Con người có sinh ra, lớn lên, già, chết, nên người ta thường so sánh sự phân bố Tứ Trụ
(mệnh) của một con người với một cái cây , gồm gốc rễ, cành, hoa, quả, như sau :
I -TRỤ NĂM :
Trụ năm ví như gốc-rễ cây, như nền móng của nhà; là nguồn gốc của mệnh, nên nó vô
cùng quan trọng.
Vì Gốc khô thì cây chết ; rễ sâu thì cành lá xum xuê ; nền yếu thì nhà đổ, nền chắc thì nhà vững chải ;
nguồn hết thì mệnh hết ; nguồn dồi dào thì mệnh mạnh mẽ. Do đó trong Tứ Trụ, năm được ví như gốc
cây.

Trụ năm xác định « mệnh năm, hay đại mệnh, hay mệnh", ví dụ trường lưu thuỷ, đại
trạch thổ,… (xem bảng lục giáp, và phụ lục).
Năm là thái tuế, họa phúc một đời của người đó.
Trụ năm là cung chủ về ông bà, cha mẹ, tổ nghiệp, hay là cung phúc đức.
Muốn biết trụ năm mạnh hay yếu , phải :
1- lấy Lệnh tháng để đo vượng , suy;
2- xem quan hệ sinh khắc lẫn nhau giưã can và chi năm:
a- tương sinh : tốt;
– cha mẹ hoà thuận, gia đình êm ấm, thịnh vượng.
b- tương khắc (ví dụ : nhâm ngọ, giáp thân) : bất lợi cho cha mẹ,
– can khắc chi : không lợi cho mẹ;
– chi khắc can : không lợi cho cha;
Nếu trong tứ trụ không có gì chế ngự hoặc giải cứu sự xung khắc đó mà
ngược lại còn phù trợ cho lực khắc thì càng tai hại : cha mẹ chia lìa, hoặc 2
người chết một.
c- ngang hoà, cùng khí âm dương (ví dụ mậu thìn, nhâm tý…) : phần nhiều cha
mẹ bất hoà; việc nhà sóng gió, gia nghiệp khó khăn .
3- Cuối cùng, dựa vào sinh khắc, chế hoá của tháng, ngày, giờ đối với năm để quyết
định tăng giảm độ mạnh yếu đó.
chú ý : sự sinh khắc ở đây phải lấy nạp âm ngũ hành của các trụ để so sánh (dùng bảng lục
giáp), nghiã là ngũ hành được định từ cặp Can-Chi cuả trụ (ví dụ lộ bàng Thổ, tích lịch

hoả, trường lưu thuỷ, sa trung kim , v..v…), rồi mới so sánh sự tương tác với nhau.
– nếu năm được tháng, ngày, giờ đến sinh : tuyệt diệu;
* dưới sinh cho trên, làm cho can chi năm thêm bền vững, làm chủ cho sự
hưng vượng của cuộc đời.
* tổ tiên có phúc đức, được hưởng nhiều âm phúc của tổ tiên : con cháu
hiếu thuận, cha mẹ mạnh khoẻ sống lâu, bản thân người đó có
năng lực và hiển đạt.
– ngược lại, nếu năm sinh làm lợi cho tháng, ngày, giờ thì đó là sự rò rỉ tổn thất
nguyên khí (bị tiết khí), làm cho gốc yếu đi, tức tổ nghiệp sa sút, bất lợi
cho cha mẹ.
– nếu tháng, ngày, giờ hình xung , phá hại năm : không những tổ nghiệp sa sút,
bất lợi cho lục thân (cha và/hoặc mẹ mất sớm), mà bản thân cũng suốt đời khó khăn ,
mọi việc không thành và không thọ (vì gốc yếu).
Nói thêm (trước !) : Ai cũng vậy, năm 54 tuổi cũng là năm thái tuế (hay lưu niên) thiên khắc địa xung
với trụ năm, tức là với đại mệnh, nên thường xảy ra tai biến cho bản thân hay thân nhân, thậm chí tử
vong ! Ta cũng sẽ trở lại tiêu chí cực kỳ quan trọng này khi xét hành vận.
Phần này sẽ dùng lại trong chương dự đoán về CHA MẸ và TỔ NGHIỆP.
II- TRỤ THÁNG :
Ví như thân cây; thân mạnh khoẻ to lớn thì cành lá xum xuê.

Trụ Tháng là cung Huynh đệ (anh, chị, em), nhưng có sách cho là trụ tháng chủ về cha
mẹ.
– Nếu can chi tháng tương sinh cho nhau; hoặc can tháng gặp vượng địa, lại
được những trụ khác (năm, ngày, giờ) đến sinh trợ, không bị xung khắc phá hại : anh
em hòa thuận.
– nếu can tháng bị khắc; hoặc can chi tháng khắc nhau : anh chị em không
nương tựa nhau, hoặc bất hoà, hoặc mỗi người đi một ngã.
Phần này sẽ dùng lại trong chương dự đoán về ANH EM, và CHA MẸ.
Ngoài vai trò của Cung ra, chi tháng còn có một vai trò rất quan trọng trong tất cả các
khoa bói toán của Trung hoa (tử vi, bốc Dịch, Tử Bình), vì nó ấn định muà, tiết khí, và
do đó quyết định sự VS cuả một (ngũ) hành nào đó. Trong Tứ Trụ, nó có những vai trò
sau đây :
1) Chi tháng là Lệnh tháng. Nó là tiêu chuẩn duy nhất để đo lường VS của CAN CHI
năm, ngày, giờ, và 10 Thần (Tài, Quan, Sát, Ấn, Kiêu, Tỷ Kiếp, Thương Thực). Nó là cương lĩnh, chủ tể quyền sinh sát của cả một tháng; có thể trợ giúp cái yếu, hoặc khống
chế cái mạnh. Nó là ranh giới phân chia 1 tháng, và đôi khi 1 năm.
Lệnh THÁNG quyết định mùa, và người ta dùng ngũ hành và âm dương để miêu tả sự
cảm thụ của vạn vật đối với sự thay đổi thời tiết của các muà.
Ðặc biệt, Lệnh THÁNG nắm quyền chủ tể sinh sát của cả một tháng, nên nó vô cùng
quan trọng. Không biết được Lệnh THÁNG thì không có cách gì đo lường được sự VS
của Tứ Trụ, tức là không thể quyết đoán được sự chính xác của thông tin dự đoán.
Ðể đo lường vượng suy của tất cả những thứ trên, phải lấy Lệnh THÁNG làm tiêu chuẩn
kết hợp với CAN liên hệ, và lấy Sinh Vượng Tử Tuyệt làm căn cứ để xác định :
( xem bảng Sinh Vượng Tử Tuyệt – gọi tắt là bảng Trường Sinh)
– đối với CAN : lấy CHI tháng + CAN (từng trụ) để đọc bảng này ;
– đối với CHI : chuyển CHI thành CAN như dưới đây, rồi lấy CHI tháng + CAN đó
để đọc bảng.
Dần : Giáp ; Mão : Ất ; Thìn Tuất : Mậu ; Sửu Mùi : Kỷ ; Tị : Ðinh ;
Ngọ : Bính ; Thân : Canh ; Dậu : Tân ; Tý : Nhâm ; Hợi : Quý.
– hoặc xem bảng CAN tàng độn trong Ðịa chi là rõ nhất (phần này sẽ có chương
chuyên đề) .
Để thuận tiện, trong thực hành, lúc ta xác định 10 Thần trên các địa chi (tất cả các
Can tàng độn), Ta lấy luôn từng can tàng độn một phối với chi tháng để đọc bảng
Trường Sinh. Sau khi phối, chữ nào (can, 10 Thần) từ được Trường Sinh đến Đế Vượng
là mạnh (cường) ; từ Suy đến Tuyệt là yếu (nhược) ; còn Thai, Dưỡng là bình. (1)
Có thể nói không quá đáng là nắm vững được thế nào là Vượng Suy, Cường Nhược (VSCN) là đã nắm
vững được các môn bói toán trung hoa. Muốn quyết định VSCN thật không dễ chút nào !

(1) Ở đây ta chỉ nhấn mạnh đến công Dụng xem Cừơng/ Nhược của can, chi , và 10 Thần. Muốn hiểu
thêm về ý nghĩa của vòng Trường Sinh, xin xem phụ lục liên hệ. Nếu đề cập ở đây e loảng đi ý
nghiã của Tứ Trụ.
Vì Lệnh THÁNG có vai trò quyết định sự Vượng Suy Cường Nhược của những chữ kháctrong bát tự như thế cho nên khi dự đoán theo khoa Tử Bình, trước hết phải lấy Lệnh
tháng, sau đó mới xem nhật nguyên.
Hành chi tháng = hành can : (cực)Vượng ) được thời (được giờ, hay
Hành chi tháng sinh hành can : Tướng ) được Lệnh)
Hành chi tháng được hành can sinh : hưu (hơi suy) )
Hành chi tháng bị hành can khắc : tù (đã suy) ) không được thời
Hành chi tháng khắc hành can : tử (cực suy) ) (mất Lệnh)
2) Lệnh tháng còn dùng để xác định cách cục của mệnh.
Vì Dụng Thần – cái làm cho Mệnh Cục được quân bình – là yếu tố tối quan trọng
để dự đoán Vận Mệnh theo Tứ Trụ, cho nên muốn đoán cho một mệnh phải xác định
cho được Dụng Thần. Mà để định Dụng Thần, theo cách xưa trước hết người ta phải xác
định CÁCH CỤC. (Ngoài ra, cũng có cách khác để lấy Dụng Thần, dưạ trên sự cân nhắc toàn bộ các
trụ, chứ không đơn thuần dưạ trên lệnh tháng, dù LT vẫn luôn luôn giữ vai trò trọng yếu).
Vì phần này là tinh yếu của khoa Tứ Trụ, nên ta dành cho nó 1 chương riêng
(xem chương CÁCH CỤC và Dụng Thần).
3) Tháng là gốc cuả vận (vận nguyên) : Ðoán mệnh phải xét các hành vận (vận
trình), mà để xác định Ðại vận thì phải bắt đầu từ tháng sinh (xem mục xác định Ðại vận)
Vận có thể bổ sung cho những điều còn khiếm khuyết trong tứ trụ : nó có thể sinh trợ
phúc Thần, khắc chế hung Thần ; hay ngược lại có thể trợ giúp hung Thần của tứ trụ.
Vì vậy, nó có quan hệ mật thiết với mệnh suốt cả đời người; cho nên người ta thường
gọi "mệnh vận" là do vậy.
Trong suốt cuộc đời một người, bất kỳ là nam hay nữ, vận thuận hay nghịch, thời
kỳ từ 50 đến 69 tuổi đều xảy ra việc tháng sinh – tức cương lĩnh cuả mệnh – xung khắc
với đại vận của giai đoạn ấy, do đó dễ xảy ra nhiều việc, và phức tạp, biến động nhiều :
– người mệnh cục mạnh, nhật vượng : xảy ra ít việc hoặc vô sự, hoặc gặp điều
tốt;
– người mệnh cục yếu, nhật suy : gặp nhiều việc có hại, hoặc thân nhân chia lià.
Nhắc lại : nên nhớ là Lệnh tháng là cương lĩnh của mệnh, không nên bị xung khắc, không được vô lễ
xung khắc nó; nếu không thì có họa, đó là lẽ thường tình;
Vì sự quan trọng của Lệnh THÁNG như vậy, nên chúng ta chỉ khái quát ở đây, và sẽ trở lại chi tiết
ở phần cuối chương, và nhắc đi nhắc lại nhiều nơi, để dễ nhớ.
III- TRỤ NGÀY :
Ví như hoa của cây; thịnh vượng thì hoa nhiều như gấm; suy nhược thì hoa ít lại không
màu.
Ta đã biết can ngày là nhật nguyên, là mệnh chủ, là Thân, là TA. Tất cả đều xoay
quanh nó để tạo ra khoa Tử Bình !

1) Từ CAN ngày (là TA) mà xác định lục thân hay 10 Thần; Lục thân do thiên can
biểu thị, và được xác định do quan hệ sinh khắc của từng can trụ (yy,mm,hh) đô'i với
CAN NGÀY; sẽ xét kỹ trong chương 10 Thần, hay lục thân.
2) CAN ngày là mệnh chủ, là TA : ( mục này đã là một mục "nói leo" rồi đấy !)
Ngày là chủ của cả đời người, là mảnh đất cát hung họa phúc của cả cuộc đời.
Do đó sự sinh, vượng, hưu tù, suy, nhược của trụ ngày quan hệ đến vận mệnh tiền đồ
suốt cả cuộc đời .
– Nếu sinh vượng : giống như thân thể khoẻ mạnh, có thể thắng của cải, đề
kháng sự sát hại, bảo vệ được lục thân, thông minh, tháo vát, nuôi dưỡng được gia
đình, gặp việc phần nhiều biến hung thành cát.
– Nếu suy nhược , hưu tù : giống như người yếu, bệnh nhiều, tinh Thần bạc
nhược, không thể bảo vệ được của cải của mình; chắc chắn là xấu nhiều tốt ít, làm việc
gì cũng không thành.
– Nếu trung hoà là quý, mạnh thì tốt, yếu thì xấu (phải cân ngũ hành).
– Nhưng nếu Vượng quá hoặc yếu quá : xấu nhiều hơn.
Ðã đành nguyên lý là như vậy, nhưng muốn xác định thế nào là Thân vượng hay Thân nhược không phải
việc dễ dàng !
Phần này sẽ dùng lại trong chương dự đoán tổng quát cho một mệnh.
Then chốt của phương pháp dự đoán mệnh theo tứ trụ là phải xác định được nhật chủ
(Can ngày) vượng hay nhược, rôì nhờ đó ta mới xác định được Dụng Thần, hỷ Thần, kỵ
Thần. Ðược 3 yếu tố này, nhất là Dụng Thần, ta mới có thể kết hợp với vận trình để
phán xét các vận là tốt, xấu, hay bình thường ; tức là những điểm chính yếu (mạch
chính) của một mệnh, trước khi đi vào chi tiết rườm rà.
Khi đã nắm được mạch chính rồi thì bạn có thể dưạ vào đó mà đoán, không sợ sai; còn không nắm vững được Vượng Suy thì vận lúc nào tốt, lúc nào xấu cũng không biết; dù bạn có nói đúng cũng chỉ là may
mắn "chó ngáp táp phải ruồi" mà thôi . OK ?
Vì sự vượng suy của Can ngày cực kỳ quan trọng trong khoa Tứ Trụ, ta sẽ đào sâu
trong một chương riêng.
3) Trụ ngày là cung hôn nhân : Can ngày là mình, chi ngày sát cánh bên can ngày,
vậy cũng là vợ (hoặc chồng) cuả TA.
– can chi cùng sinh cho nhau : vợ chồng hoà thuận;
– chi sinh can : nam lấy được vợ hiền giúp đỡ, nữ được chồng tốt giúp sức.
– can sinh chi : nam yêu vợ, nữ giúp chồng;
– can chi tương xung, tương khắc : có nguy cơ vợ chồng xa nhau; tượng hôn
nhân muộn.
– can chi tương khắc nặng : không ly hôn cũng chết một trong hai;
– can chi có cùng (ngũ) hành : tượng bất hoà.

Phần này sẽ dùng lại trong chương dự đoán về HÔN NHÂN.
IV- TRỤ GIỜ :
Ví như quả cây; nó không những chủ về vượng suy của con cái mà còn có vai trò phù
trợ cho ngày.
Trụ giờ mạnh là quả nhiều chồng chất, vừa ngon vừa đẹp.
Trụ giờ suy nhược là quả kém, thậm chí có hoa mà không có quả.
1) Trụ giờ là cung con cái,
– sinh vượng : con cái thịnh vượng, thân thể khoẻ mạnh, đẹp đẽ, thông minh,
tiền đồ rộng mở.
– hưu tù, tử tuyệt : con cái tai nạn nhiều, hoặc chết yểu.
-Trụ giờ sinh phù trụ ngày : con nhiều mà trung hiếu, về già đựơc nhờ, bình yên,
êm ấm.
-Trụ giờ xung trụ ngày : con nhiều nhưng bất hiếu, về già cô độc, tình thân bạc
bẻo.
Phần này sẽ dùng lại trong chương dự đoán về CON CÁI.
2) Giờ là quan tả hữu của ngày, ngày là vua, giờ là Thần :
– Ngày giờ tương sinh , tương hợp : như vua tôi hoà hợp.
– Giờ bổ trợ cho ngày ở chỗ :
1- có thể sinh trợ cho ngày;
2- có thể trợ giúp hỉ Thần hay Dụng Thần trong cách cục;
3- có thể chế ngự kỵ Thần trong cách cục;
nếu không thì không làm tròn vai trò bổ trợ.
Giờ không những có quan hệ mật thiết với các trụ của năm, tháng, ngày mà còn là chỗ
thâu tóm của tứ trụ hoặc cách cục .Giờ nên sinh vượng, kỵ suy tuyệt. Trong cách cục, nếu trên trụ giờ :
– có hỉ Thần, nếu gặp sinh vượng thì càng thêm tốt; gặp suy tuyệt : không tốt.
– có kỵ Thần, nếu gặp sinh vượng thì càng thêm xấu; gặp suy tuyệt : không xấu.

Share this: