Chương 6
TAM NGUYÊN CỦA TỨ TRỤ
I- THIÊN NGUYÊN (THIÊN CAN)

Thiên can tương sinh
Thiên Can tương khắc
Thiên Can ngũ hợp
II- ÐIẠ NGUYÊN (ÐỊA CHI)
Ðiạ chi lục xung
Ðịa chi lục hợp
Ðịa chi tam hợp
Ðiạ chi tam hội
Ðịa chi lục hại
Ðiạ chi tam hình
III- Nhân nguyên (Can tàng độn trong địa chi)
IV- Quan hệ giữa Can và Chi
BẢNG NẠP ÂM 60 HOA GIÁP – Ứng dụng :
So tuổi
Mệnh năm / tính tình
những ứng dụng khác
BẢNG SINH VƯỢNG TỬ TUYỆT CỦA 10 THIÊN CAN
TAM NGUYÊN là : Thiên nguyên, địa nguyên, nhân nguyên. Ðó chỉ là cách gọi khác cuả
Thiên can, Ðiạ chi, và Can tàng độn trong địa chi mà thôi.
Trong trời đất (*) thì có thiên địa nhân hợp nhất.
(*) Người ta hay nói « trong vũ trụ … », nhưng xét cho cùng, thời của Kinh Dịch, bát quái, ngũ
hành, người Trung hoa chưa thấy xa hơn khỏi Thái dương hệ, trong đó các hành tinh cũng được
qui về, đặt tên cho, như ngũ hành.
Con người là tiểu thiên địa, nên trong con người cũng có thiên điạ nhân ; tiểu thiên địa
này tương thông với đại thiên địa (trời đất) qua các luân xa (bạn nào có hứng thú thì nên tìm
đọc các sách về luyện khí hay nhân điện – trường sinh-học). Ở đây ta không bàn về thuật luyện
khí, hay châm cứu, nhưng lại xét sự thể hiện của khí ngũ hành vào số mệnh, và nhân
thể, qua tứ trụ (can-chi) . Trên mỗi trụ đều có thể hiện thiên địa nhân :
– Thiên can là Thiên nguyên : chủ về Lộc, lộ rõ;
– Ðịa chi là Ðịa nguyên : chủ về Thân, về người ;
– Con người sống trong trời đất, thì tương ứng trong địa chi cũng có tàng chứa khí trung
hoà bẩm sinh của âm dương ngũ hành nhiều CAN (đất mang chở và nuôi dưỡng con
người) , gọi là Nhân nguyên : là dụng của điạ chi, ẩn dụ về người và sự việc, chủ về
Mệnh .
Dùng các chữ can, chi khơi khơi thì không thấy tính cách mệnh lý, còn dùng tam nguyên (thiên địa nhân),
tuy cũng là một cách gọi nhưng hàm ngụ mệnh lý nhiều hơn. Bạn quen dùng cách gọi nào cũng được.
Vì Tam nguyên thống nhất nên sự phán đoán tổng hợp cả 3 trong mệnh lý học có một ý
nghiã vô cùng quan trọng, nó là cơ sở qua đó ta có thể chỉ ra toàn bộ tiền đồ, cát hung,
họa phúc, thuận nghịch của cả đời người.

I- THIÊN NGUYÊN : là các Thiên can của Tứ Trụ .
Nguồn gốc :
Dương số hay thiên số (số lẻ) của Hà đồ là 1,3,5,7,9. Người ta lấy số 5 ở giữa các
dương số đó , gấp đôi lên để bao hàm cả âm lẫn dương, tạo ra 10 thiên can, gọi tắt là
10 can. 5 là thiên số nên đặt là thiên can; 5 là dương số nên lấy can làm tuế dương.
10 Thiên can dùng để chỉ chu kỳ tuần hoàn của mặt trời có ảnh hưởng trực tiếp đến sự
sinh trưởng của vạn vật.
Số tt 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Tên giáp ất Bính đinh mậu kỷ canh tân nhâm quý
+/- + – + – + – + – + –
Tuỳ theo can dương hay can âm, và căn cứ vào đặc tính của âm dương cùng thứ tự
trước sau, người ta phân biệt :
Giáp : là thời kỳ mầm mống của vạn vật nảy sinh bừng dậy sống; là cây lớn;

Ất : khí hậu đã ấm áp, vạn vật vui hoà tươi tốt; là loài cỏ;
Bính : sức nóng nhu hun; là lửa của mặt trời;
Ðinh : nóng mà không gắt; là lửa của đèn đuốc hay bếp lò;
Mậu : đất cao ráo; đất ở thành quách hoặc bờ đê;
Kỷ : Ðất thấp ẩm; đất ở ruộng vườn;
Canh : khí hậu thu liễm; là đao kiếm;
Tân : khí hậu trong mát; là đồ vàng bạc trang sức.
Nhâm : nước đến lẫm liệt; nước ở sông hồ;
Quý : ẩm thấp ướt át; nước mưa hoặc sương rơi từng giọt.
Ý nghiã của thiên can đối với con người
Trong dự đoán vận mệnh, thiên can vô cùng quan trọng. Can ngày là mệnh chủ, nên
nếu VT và không bị khắc hại thì có thể dùng nó làm tiêu chí để dự đoán tính tình của
người ấy theo ngũ hành cuả nó.
A – Tính chất của dương CAN
Cang cường, oai võ, bất khuất;
Có lòng trắc ẩn; xử thế không cẩu thả.
B – Tính chất của âm CAN
Nhu thuận, chiù thế lực của người ta;
Có lòng ích kỷ; xử thế kiêu căng, và cũng có thái độ nịnh hót; trục lợi ,

vong nghiã.
Nếu nguyên cục thiên can thuần dương (toàn là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm) : hào
hiệp, khẳng khái, làm việc mau lẹ, thiếu suy xét; tốt thì quá tốt, xấu thì quá xấu, ít hàm
dưỡng (tự chế); mưu sự chỉ có tính về một mặt, không có lo xa phòng bị.
Q1-ch06-tamnguyen 2 02/01/2005
Nếu nguyên cục thiên can thuần âm (toàn là Ất, Ðinh, Kỷ, Tân ,Quý) : âm thầm, có
nhiều mưu kế, ích kỷ hại người; làm việc chậm chạp, lo điều này, nghĩ điều kia, vô định
kiến. Ưa canh cải, thấy thế không thắng được người thì lại a tòng, nịnh hót.
Nếu nguyên cục thiên can âm dương điều hoà (2 âm, 2 dương) : được thuần hoà,
trung hậu, xử thế không ngã qua bên nào (trung dung); quang minh chính đại.
Ý NGHIÃ CỦA CÁC THIÊN CAN
(theo sách Quần thư khảo dị)
Thiên Ý nghiã Chỉ về
can
Giáp mở ra vạn vật tách ra
Ất kéo vạn vật lúc ban đầu được kéo lên
Bính đột nhiên vạn vật đột nhiên lộ ra
Ðinh mạnh vạn vật bắt đầu mạnh lên
Mậu rậm rạp vạn vật xum xuê
Kỷ Ghi nhớ vạn vật bắt đầu có hình thể phân biệt
Canh chắc lại vạn vật bắt đầu chắc lại; có quả
Tân mới vạn vật bắt đầu có sự thu hoạch

Nhâm Gánh vác Dương khí chiụ nuôi dưỡng vạn vật
Quý Ðo, đoán được sự vật đã có thể đo lường được
Theo đó, ta thấy 10 thiên can không có liên quan gì đến việc mọc hay lặn của mặt trời; mà chỉ có chu kỳ
tuần hoàn của mặt trời , nói cho đúng là của quả đất chung quanh mặt trời, mới có ảnh hưởng trực tiếp
đến sự sinh trưởng của vạn vật.
Sự suy đoán về thiên nguyên chủ yếu thông qua sự hoá hợp, sinh khắc cuả can ngày
với 3 can còn lại, cũng chính là sự phán đoán sự mạnh yếu, tổn hại hay có ích của 10
thần lộ ra trên thiên can của Tứ Trụ đối với can ngày, tức là TA (xem nhật nguyên và 10
thần).
Chẳng hạn dưới điều kiện tiên quyết là sự VS mạnh yếu của Tứ Trụ không bị phá, thì tổ
hợp các Thiên can của Tứ Trụ nếu lộ ra :
– Thực (Thương) sinh Tài, Tài sinh Quan (Sát), Quan (Sát) sinh Ấn ;
– Thực thần chế Sát, Thương Quan hợp Sát, Thương (Thực) mang Ấn.. .
thì đó thường là tổ hợp tốt – mệnh phú quý (phú quí là có Lộc, có quan chức).
– Những tổ hợp khác cần phải căn cứ vào tình hình khác nhau mà kết luận.
Giữa các Thiên can thì có thể có tương sinh, tương khắc, hoặc tương hợp, do các thuộc
tính âm dương và ngũ hành của chúng, theo những qui tắc sau đây :
1) tương sinh
– gần thì mạnh, xa thì yếu;
– cùng tính (âm dương) thì mạnh, khác tính thì yếu hơn ;
– can sinh khí bị giảm; can được sinh thì khí mạnh thêm.
2) tương khắc

10 thiên can đại biểu cho ngũ hành, chia ra làm 2 mộc, 2 kim, 2 thổ, 2 thuỷ, 2 hoả.
Kim khắc mộc, nên Canh, Tân khắc Giáp, Ất.
Mộc khắc Thổ, nên Giáp, Ất khắc Mậu, Kỷ

Thổ khắc Thuỷ, nên Mậu, Kỷ khắc Nhâm, Quý
Thuỷ khắc Hỏa, nên Nhâm, Quý khắc Bính, Ðinh;
Hoả khắc Kim, nên Bính, Ðinh khắc Canh, Tân.
Thiên can tương khắc là ngũ hành chiến đấu (đánh nhau).
Ảnh hưởng của Thiên can tương khắc : 1 ví dụ để lý luận :
Canh gặp Giáp : Canh là chủ động đi khắc Giáp (tạm gọi là chủ khắc), Giáp chịu
khắc thì bại trận, nhưng Canh cũng phải tổn sức, vậy 2 hành này bị sứt mẻ. Chẳng hạn
Can năm là Canh, Can tháng là Giáp,
nếu Giáp là hỷ thần của NC thì có hại cho NC;
nếu Giáp là kỵ thần của NC thì lại tốt đẹp cho NC;
Hàng Can khắc có nặng, có nhẹ, nên được phân biệt như sau (không kể can ngày vì nó là TA, mà chỉ kể
can năm, can tháng và can giờ thôi) :
Năm Tháng Giờ
1 Canh Giáp khắc nặng, vì ở gần
2 Canh Thân Giáp Dần thiên khắc điạ xung : quá nặng
3 2 Canh 1 Giáp 1 Giáp đã thua cho 1 Canh, nay có
2 Canh, cũng như đẩy cây mục vậy
nên khắc này là khắc nhẹ.
4 1 Canh 2 Giáp Canh phải tổn sức
5 Canh Giáp khắc nhẹ, vì ở xa

6 Canh Nhâm Giáp Kim sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc,(liên
tục sinh) không gọi là khắc
7 Canh Bính Giáp Bính hộ Giáp, chuyển thành Bính Canh
tương khắc; Canh không còn khắc
Giáp nữa
8 Canh Giáp Nhâm Thuỷ sinh Mộc, Kim khắc Mộc : cũng
vẫn là tương khắc.
9 Canh Giáp Bính Canh khắc Giáp, Bính không giúp Giáp
được.
10) – nếu Can Dương gặp can dương mà có ngũ hành tương khắc thì tương khắc
mạnh, như Canh-Giáp, Giáp-Mậu, Mậu -Nhâm, Nhâm- Bính, Bính -Canh;
– nếu Can Âm gặp can Âm mà có ngũ hành tương khắc thì cũng khắc nhưng khắc
rất nhẹ, vì âm khí mềm dẽo (xem thí dụ về mệnh của một ông Ðề đốc).
Q1-ch06-tamnguyen 4 02/01/2005
11) a- Can Dương gặp can Âm, hay can Âm gặp can Dương mà có ngũ hành tương
khắc, và Can + là chủ khắc còn Can âm là bên chịu khắc, thì gọi là tương hợp chứ
không gọi là tương khắc : như Canh-Ất, Giáp-Kỷ, Bính-Tân, Nhâm-Ðinh, Mậu-Quý. 2 can
âm dương này cũng như 2 vợ chồng vậy (tham hợp vong khắc).
Vậy trước hết ta nên xem 2 Can có tương sinh không, nếu không thì xét có hợp hay không, chừng
nào không có hợp thì mới xét có khắc không.
b- Can Dương gặp can Âm, hay Can Âm gặp can Dương mà có ngũ hành tương
khắc, và Can âm là chủ khắc còn Can + là bên chịu khắc, thì không gọi là tương hợp
mà vẫn là tương khắc , như : Tân-Giáp, Ðinh-Canh, Quý-Bính, Ất-Mậu, Kỷ-Nhâm,
nhưng vì âm yếu dương mạnh, nên khắc nhẹ lắm.
Nên nhớ :
Hai cát thần tương khắc là hung; hai hung thần tương khắc là cát;
Hai can tương khắc đều bị tổn thương; can bị khắc tổn thương lớn hơn.
Khắc cách Can (ví dụ giữa trụ năm và trụ giờ), mà Can ở giữa (tháng) hoá (giải)
cái khắc thì không gọi là khắc nữa, mà là liên tục sinh. Ví dụ :Bính hoả Khắc cách Can Canh kim
ở giữa có can mậu hay kỷ thổ , thì Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim.
Trong khắc có hợp (tham hợp vong khắc), hay cái chủ khắc bị hợp, hợp mất sự khắc
thì không còn khắc nữa. Ví dụ :
Bính hoả Khắc Canh kim, nhưng trong 4T có Tân, Bính – Tân hợp hoá Thuỷ, Thuỷ khắc hoả,
nên Bính hoả không khắc nổi Canh Kim nữa.
Can ngày bị Can khác khắc; nhưng Can khắc đó lại bị 1 Can khác chế ngự, thì Can
ngày không bị khắc nữa.
Ví dụ : can ngày Canh, bị can tháng Bính khắc, nhưng Can tháng Bính bị can năm Nhâm chế
phục. Như thế thì không gọi Bính – Canh khắc nhau, mà chỉ gọi là Nhâm – Bính khắc nhau.
Bạn có thể lý luận tương tự cho những trường hợp tương khắc khác.
3) Ngũ hợp của Thiên can
Bảng thiên can hợp hoá
Can 1 Giáp + ất – Bính + Đinh – mậu +
Can 2 kỷ – Canh + Tân – Nhâm + Quý –
Hành hoá ra thổ kim thuỷ mộc hoả
Tính chất (a) Trung chính Nhân nghiã Uy nghiêm Dâm loạn Vô tình
(a) xem bảng .
Ngũ hợp của 2 thiên can là sự hợp từng cặp âm dương, như nam nữ, vợ chồng.
Nếu hợp hoá thì hành hoá ra đối với sự mạnh yếu, vượng suy của nhật nguyên có một
vai trò quan trọng : nó làm tăng thêm sự sinh phù, hay sự khắc chế đối với nhật
nguyên. Tuy nhiên, không cứ hễ có hợp thì hoá ngay.
Q1-ch06-tamnguyen 5 02/01/2005
Vậy Khi nào là hợp hoá, khi nào là chỉ hợp không hoá ?
Trong 4T, khi xét sự hợp giữa 2 Thiên can, ta chỉ xét giữa 2 can kề sát nhau mà thôi :
a) quan trọng nhất là xét Can ngày với 2 can kế bên (tháng và giờ) :
– Có Hợp hay không ?
– Nếu Hợp thì có hoá hay không ?
Có hoá khi nào hành hoá ra (x) = hành của chi tháng (m) : x = m;
nếu hợp không hoá (x <>m), xét tiếp xem nếu 3 chi còn lại (năm, ngày,
giờ) nằm trong tam hợp cục hay tam hội cục trong đó có 1 chi có hành

(x), thì vẫn là hợp có hoá.
Ví dụ :
Can ngày là giáp ; can tháng hoặc can giờ là kỷ, hoặc
Can ngày là kỷ ; can tháng hoặc can giờ là giáp
thì Giáp-Kỷ hợp, nếu hoá thì sẽ hoá Thổ; ta xét tiếp :
– nếu Chi tháng là thìn, hay tuất hay sửu hay mùi (thổ) thì có hợp hoá (hoá Thổ);
– nếu không có chi tháng như thế, ta chưa kết luận là không hợp hoá vội, mà xem
nếu 3 chi còn lại (năm, ngày giờ) là tam hợp hay tam hội cục, và hành hoá ra (ở ví dụ
này là thổ) là hành của 1 trong 3 chi trên, thì vẫn có hợp hoá (hoá Thổ);
– nếu hoàn toàn không có gì hết thì kết luận là có hợp không hoá.
b) Can năm và can tháng hợp hoá ra hành (x) = hành bản khí của chi năm (y) : x = y là
có hoá.
c) Tất cả những trường hợp can hợp khác của 2 can kề nhau đều là hợp không hóa;
Ứng dụng :
hợp hoá được ứng dụng trong việc xác định cách cục khác thường (xem ngoại cách
"hoá khí ngũ cách");
Về thiên can hợp hoá, hàng cuối của bảng cho biết tên gọi, hay tính cách của các
trường hợp.
Tác động của thiên (can) hợp:
– sau khi hợp có hóa, ta lấy hành hoá ra (h) để bàn, còn 2 hành đầu đã mất tác dụng;
– nếu chỉ hợp mà không hoá thì hành hoá lý thuyết ấy (h) đứng độc lập, không có
sinh khắc đối với những can chi khác. Tuy nhiên , khi đến đại vận hay LN nào có xuất
hiện hành (h) đó thì lực của nó được tăng lên.
Tác dụng của Thiên can hợp hoá :
Nếu là hợp hóa thật thì có thể phú quí đến bậc công hầu khanh tướng;
Nếu là hợp hóa giả thì có thể hoặc mồ côi hoặc đi tu.
Về tác dụng của Thiên can hợp hoá, xin xem phụ lục "Thiên can hợp hoá ", được sắp riêng để dễ
tra cứu, vận dụng khi dự đoán. Bạn nên xem để có khái niệm thế nào là hợp hoá thật, thế nào là
hợp hoá giả.

Nói chung 4T có can hợp thường là người kết hôn sớm; ngày nay có thể nói là có
quan hệ nam nữ sớm.
Thiên Can ngũ hợp về hiệu lực có khác biệt tuỳ 12 tiết khí (tháng). Phần này có tính cách
thâm cứu, bạn có thể đọc thêm phần phụ lục liên hệ về sau.
Bảng THIÊN CAN HỢP HOÁ
Can Can Hành Tên hợp chủ về (-) hóa
giáp kỷ thổ Trung chính nếu ngũ hành sinh vượng thì được người tôn kính; phúc hậu;
thẳng thắn;
nếu ngũ hành vô khí (tử tuyệt) có lẫn Sát thì tính hay giận
ất canh kim Nhân nghiã nếu ngũ hành sinh vượng thì cốt cách thanh tú; có chí tiến
thủ;
nếu tử tuyệt có lẫn Sát thì dũng cảm hiên ngang; ưa can
thiệp chuyện người
bính tân thuỷ uy nghiêm nếu ngũ hành sinh vượng thì bề ngoài uy nghi, nghiêm túc;
được người khác nễ sợ; nhưng cũng hay nghiện ngập, ham
cờ bạc; đa dâm (thuỷ);
nếu tử tuyệt có lẫn Sát thì hay vong ơn bội nghiã; vô tình
đinh nhâm mộc Dâm loạn mắt sáng, thần sắc đẹp; đa tình, dễ rung động; gặp việc thì
không có chí nhưng lại thích nhan sắc; gia phong ô tạp; nặng
tính cách tiểu nhân; tham lam , lừa dối;
nếu lúc trẻ mà bán trời không văn tự thì về già lại tốt;
ngược lại nếu lúc trẻ mà tốt thì về già lại hư hỏng;
Nữ : lấy chồng già hoặc tuổi cao lấy chồng không cưới;
mậu quý hoả Vô duyên người hoặc tốt hoặc xấu;
Can ngày là Mậu, được Quý : người đẹp đẽ, kiều diễm; lấy vợ
hay chồng đẹp;
Can ngày là Quý , được Mậu: dung nhan thô lỗ; lấy vợ hay
chồng già

Bảng tổng hợp âm dương ngũ hành, thiên can, địa chi, mùa, nhân thể,
phương vị (đầy đủ nhất)
Ngũ mộc hoả thổ kim thuỷ
hành
Thiên giáp ất Bính đinh mậu kỷ canh tân nhâm quý

can
Can Đinh – nhâm mậu – quý Giáp – kỷ ất – canh Bính – tân
hợp
hoá
Ðịa chi dần mão ngọ tị Thìn sửu thân dậu tuất hợi
tuất mùi
Chi hợp dần – hợi Mão – tuất Tý – sửu Thìn – dậu tị – thân
hoá ngọ – mùi
Âm + – + – + – + – + –
dương
Tạng gan Tim tỳ phổi thận
Tâm-
(lách)
bào
Phủ mật ruột non dạ ruột Bàng
tam tiêu
dày già quang
Muà xuân hạ tứ quí (18 ngày thu đông
vượng cuối mỗi muà)
Phương đông nam ở giữa tây bắc
vị
Bát chấn tốn ly cấn khôn Càn đoài khảm
quái
Tam hợi mão mùi dần ngọ tuất Tị dậu sửu Thân tý thìn
hợp cục
Tam dần mão thìn tị ngọ mùi Thân dậu Hợi tý sửu
hội cục tuất
Ngũ nhân lễ tín nghiã trí
thường
khí phong thử, hoả, nhiệt thấp táo Hàn
vật gỗ lửa, sức nóng đất Vàng, kim nước
chất loại
Xem mệnh là xem tất cả mọi khiá cạnh cho một con người ; bảng này cho ta một số ứng dụng về mặt sức
khoẻ (qua các tạng phủ); thời gian ứng nghiệm (qua các địa chi / tháng – muà – năm ); tính tình (qua
ngũ thường) ; hướng tốt, xấu (qua phương vị), chi hợp, tam hợp, tam hội, can hợp sẽ cho ta những hành
hoá, hay hành vượng … để ứng dụng vào tất cả các mặt. Ngoài ra cũng có thể ứng dụng khi dự đoán
bằng bát quái.

II – ÐIẠ NGUYÊN : là các điạ chi trong 4T.
Nguồn gốc :
Âm số, hay điạ số (số chẵn) của Hà đồ là 2,4,6,8,10. Người ta lấy số 6 ở giữa các âm số đó, gấp đôi lên để bao hàm cả dương lẫn âm, tạo ra 12 điạ chi, gọi tắt là 12 chi. 6 là điạ
số nên đặt là điạ chi; 6 là âm số nên lấy chi làm tuế âm.
12 địa chi có liên quan tới sự tiêu trưởng âm dương của mặt trăng. Chu kỳ tuần hoàn
của mặt trăng ảnh hưởng đến sự sản sinh của vạn vật.
Bảng 12 địa chi
Tên tý sửu dần mão thìn tị ngọ mùi thân dậu tuất hợi
+/- + – + – + – + – + – + –
số tt 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Ý NGHIÃ CỦA CÁC ÐIẠ CHI
(theo sách Quần thư khảo dị)
Ðiạ Ý nghiã Chỉ về
chi
Tý Tư bổ, nuôi dưỡng mầm mống của vạn vật được nảy nở nhờ dương khí
Sửu kết lại Các mầm non tiếp tục lớn lên
Dần đổi dời, dẫn dắt mầm vừa mới nứt đã vươn lên khỏi mặt đất
Mão đội vạn vật đội đất mà lên Thìn chấn động vạn vật qua chấn động mà lớn lên
Tị bắt đầu vạn vật đến đây đã có sự bắt đầu
Ngọ bắt đầu toả ra vạn vật bắt đầu mọc cành lá
Mùi ám muội âm khí bắt đầu có, vạn vật hơi suy giảm
Thân Thân thể Thân thể vạn vật đã trưởng thành
Dậu già vạn vật đã già dặn, thành thục
Tuất diệt vạn vật đều suy diệt
Hợi hạt vạn vật thu tàng về thành hạt cứng
Ý nghiã ban đầu chỉ có thế, chứ không liên hệ gì tới 12 con vật như ta thường biết. Người xưa đã
dùng 12 con vật (cầm tinh, con giáp) để biểu thị cho dễ nhớ, trong một xã hội nông nghiệp còn sơ
khai, con người sống với gia cầm, hay gần thiên nhiên, rừng núi, và kể cả huyền thoại (thìn là
rồng ). Ở đây ta không cần phải mất thì giờ đào sâu thêm; xin xem phần phụ lục.
Khi xét các địa chi, bạn nên có đồ hình điạ chi trên bàn tay (tay trái), và nên thuộc lòng
cách sắp xếp, vị trí. Khi chưa thuộc lòng thì bạn nên có trước mặt một đồ hình
photocopy.

Ghi nhớ trên hình bàn tay trái theo bảng dưới đây : 4 cột là 4 ngón tay (không kể ngón
cái ) ; các ngấn đốt ngón tay (và mút trên đầu ngón tay) tương ứng với các điạ chi,
khởi đầu từ Tý, ngón tay áp út, theo chiều kim đồng hồ.———–>
Tị Ngọ Mùi Thân
Thìn Dậu
Maõ Tuất
Dần Sửu Tý Hợi
<———- !
ngón ngón
trỏ út
chiều dọc : từng ngón cho ta các cặp điạ chi tương hại ;
dần – tị; mão – thìn; sửu – ngọ; tý – mùi ; hợi – thân; tuất – dậu.
chiều ngang : các cặp cho ta 2 chi tương hợp ;
tý -sửu ; dần – hợi ; mão – tuất ; thìn – dậu ; tị -thân ; ngọ – mùi.
đối xứng qua tâm : các cặp lục xung (dần-thân, tị hợi, thìn tuất …)
hình bàn tay cũng giúp ta thấy ngay : tam hội, tam hợp, phương hướng và cung
bát quái.
Sắp xếp trên bàn tay còn dễ vận dụng để nhớ các cặp lục xung (đối xứng), lục hợp
(hàng ngang), lục hại (hàng dọc).
Các điạ chi được phân ra thành âm, dương, có tính chất khác nhau :
A- Tính chất của dương chi (Tý , Dần, Thìn, Ngọ, Thân , Tuất) : động, cường
tráng, do đó Cát hay Hung ứng nghiệm mau lẹ; khi gặp xung sẽ có tai họa lập tức. Do
đó khi xem hành vận nên coi kỹ những địa chi này.
B- Tính chất của âm chi (Sửu, Mão, Tị, Mùi, Dậu, Hợi) : âm thầm mềm dẽo, nên
Cát hay Hung ứng nghiệm trễ, nhưng nói chung gặp xung là không tốt.
Vì địa chi có ẩn tàng nhiều Can (xem bảng Can tàng độn trong điạ chi), nên sự xung , khắc,
hình làm nó động, và có nhiều biến hoá, nhưng luôn luôn phải lấy bản khí coi trước (là
khí gốc – đã là gốc thì phải quan trọng, và nó quyết định Hành của điạ chi đó) . Ví dụ :
chi Dần nên coi bản khí Giáp trước, rồi mới lần lượt tới Bính, Mậu.chi Thân nên coi bản khí Canh trước, rồi mới lần lượt tới Nhâm, Mậu.
Khi Bản khí bị xung ở nguyên cục, nếu là DT thì không được kiện toàn, nên bỏ đi và tìm
chữ khác làm DT.

Trong 12 địa chi phân thành Âm Dương, phối hợp với bảng Trường sinh người ta chia
ra thành 3 loại :
Tứ sinh (TS) : Dần, Thân, Tị, Hợi
Tứ bại (MD) : Tý, Ngọ, Mão, Dậu
Tứ mộ (MO) : Thìn, Tuất, Sửu , Mùi
Giữa các điạ chi có những tương tác như : hợp, hình, xung, hại, phá, hoặc không vong.
Ðiạ Chi ở trên các trụ, mà mỗi trụ tương ứng với 1 trong lục thân (cung), vì thế nên chú
ý vai trò cuả mỗi trụ; ta sẽ thấy rõ những tương tác sẽ tác động trên lục thân, ví dụ trụ
năm là Cung cha mẹ, vậy cha mẹ có vấn đề; trụ giờ là cung con cái, vậy chú ý xem con
cái.
Tuy nhiên, ban đầu bạn chỉ nên chú trọng tìm hiểu thế nào là hợp, hình, xung, hại, phá;
trong mỗi trường hợp chúng biểu thị những vấn đề gì, mà chưa nên tìm hiểu chi tiết
ảnh hưởng của mỗi trường hợp vào vận mệnh vội. Sở dĩ trình bày luôn ở đây là vì chúng ta
đang khảo sát về chúng mà thôi, vậy phần đó bạn có thể lướt qua, và trở lại đọc kỹ về sau, khi đoán
mệnh.
1) Ðiạ chi lục xung
lục xung là : dần thân ; tị hợi ; thìn tuất ; sửu mùi ; tý ngọ ; mão dậu.
Tương xung là đối xung, hình các điạ chi trên bàn tay cho thấy rất rõ các Chi đối xung.
Tương xung có nghiã là tương khắc. Nhìn hai điạ chi ta sẽ thấy ngay đối xung; còn sao
lại nói khắc ? Bạn hãy xét các CAN tàng trong 2 điạ chi ấy sẽ thấy;
ví dụ : Tý – Ngọ xung
Tý Ngọ
Quý đinh kỷ
Quý thuỷ khắc đinh hoả
Kỷ thổ khắc quý thuỷ;
ví dụ : Dần – Thân xung

Dần Thân
Giáp Bính Mậu canh nhâm mậu
Giáp mộc khắc Mậu thổ
Canh kim khắc giáp mộc
Nhâm thuỷ khắc bính hoả
Ngoài ra, về xung khắc cũng phải hiểu rõ "xung lẫn khắc" hay chỉ "xung" mà thôi.
Ví dụ Tý – Ngọ tương xung : tý xung khắc ngọ; còn ngọ chỉ xung tý mà thôi;
Mão – dậu tương xung : mão xung dậu, còn dậu xung khắc mão.
Nhìn dưới khiá cạnh ngũ hành bạn sẽ phân biệt rõ; và suy luận cho các cặp lục xung
khác; ngoài ra người Việt thường nhạy cảm về tứ hành xung, nên ai cũng biết 4 cặp lục

xung (nói tứ hành xung là xung-khắc / đó là tứ sinh và tứ bại); còn 2 cặp Thìn-Tuất,
Sửu-Mùi chỉ có xung mà không khắc, vì có cùng 1 hành Thổ (đó là tứ mộ).
Trên đây có chia lục xung thành tứ sinh, tứ bại và tứ mộ. Ảnh hưởng như sau :
Tứ sinh : gặp xung thì nặng lắm, vì 4 chi này thuộc về sinh khí, giống như cây mới
manh nha, còn yếu, nếu xung thì phá vỡ liền.
Tứ bại (Mộc dục) : tráng kiện hơn , gặp xung nên cẩn thận, cân nhắc hành nào đắc
thời thì thắng, hành nào thất thời thì bại, rất dễ phân biệt.
Tứ mộ : là chỗ bế tắc, gặp xung không kỵ.
Bạn cũng nên ghi nhớ qui luật gần thì mạnh (nạn nặng), xa thì yếu (nạn nhẹ); và xung
thuận hay xung ngược. Xem 4T sau đây :
Bính ngọ canh tý ngày đinh mão kỷ dậu
Tý xung ngọ là ngược; dậu xung mão là ngược (ngược theo tôn ti giữa các trụ năm,
tháng, ngày, giờ; và xung lẫn khắc); đây là tượng không tốt; cách cục tứ xung này rất xấu,
về sau bạn sẽ gặp trong vài ví dụ điển hình.
Ðặc biệt nếu 4T có cả tý-ngọ mão-dậu mà xung thuận, lại đắc thế, đắc điạ thì đó là
mệnh đại quí cách. Nhưng cả chục triệu người chưa chắc đã có một.
Khi nghe nói Tương xung là người ta có ngay cảm tưởng không tốt, nhưng cần phân biệt :
– nếu kỵ thần yếu, hỷ thần mạnh, xung mất kỵ thần làm cho NC được sạch sẽ
là tốt;
– nếu kỵ thần mạnh, hỷ thần yếu, xung mất hỷ thần làm cho NC xấu thêm.
vậy trong 4T gặp xung thì có cát có hung : Xung mất phúc thần (ví dụ hỷ thần, DT, hay
lộc) thì hung; xung mất hung thần (ví dụ kỵ thần, KV) thì cát.
Khi địa chi gặp xung khắc nên thật chú ý lúc vận dụng đoán mệnh , kết hợp với vai trò
của mỗi trụ (cung lục thân).
và nên nhớ " Bị xung nhưng có không vong thì xấu hoá thành tốt; hoạ biến thành
phúc".
Hậu quả cuả xung:
– Tý Ngọ xung : thân lúc nào cũng lo lắng, bất an.
– Sửu Mùi xung : mọi việc bê trễ, không được nhanh chóng theo ý muốn; việc
gì cũng trắc trở;
– Dần Thân xung : đa tình đa cảm;
– Tị hợi xung : ham làm; ham giúp đỡ người;
– Mão Dậu xung : lúc nào cũng lo buồn, thất tín bội ước; hay bội phản người
thân;
– Thìn Tuất xung : ham sắc dục; gia đình tan nát (khắc người thân, làm thương
tổn con cái); đau ốm; chết non; đàn bà hại chồng khắc con.
Chú ý : Tý-Ngọ, Mão -Dậu tương xung thì xung mạnh (vì là 4 phương chính), nên người ấy hay thay đổi
chỗ ở; còn nghề nghiệp vẫn như cũ;

Dần-Thân, Tị-Hợi tương xung, là xung vừa (4 hướng phụ), xung về nghề nghiệp và chỗ ở ; cả hai
đều thay đổi;

Thìn -Tuất , Sửu- Mùi tương xung : hầu như không xung; đây là xung về nghề nghiệp; nghề thay
đổi, nhưng chỗ ở không thay đổi.
– bất cứ chi trụ nào xung với ngày hoặc tháng, hay nói chung nếu 4T có xung :
không ở chung với cha mẹ được.
– hai trụ có cùng Thiên can, mà điạ chi xung nhau : lao khổ, phá tan tổ nghiệp;
– Chi năm xung chi tháng : sớm xa gia đình, sống tha hương; cha mẹ / anh em
có người mất sớm.
– Năm – Ngày xung : bất hoà với người thân;
– Năm – Ngày – Giờ xung : khắc con; cha mẹ con cái bất hoà;
– Năm – Giờ xung : bất hoà với con cái;
– Năm xung Tháng – Ngày – Giờ : tính thô bạo, hoặc hay bệnh tật
– Tháng-Ngày-Giờ , hoặc Năm-Giờ xung : tính cuồng bạo; vong ân bội nghiã; suốt
đời gặp chuyện không may; hoặc mắc bệnh hoạn;
– Chi tháng xung chi ngày : hay xúc phạm cha mẹ, anh em; người phối ngẫu với
cha mẹ / anh em của mình không hoà thuận;
– Chi ngày xung chi giờ : khắc vợ con ; người phối ngẫu và con có người bị
mất; có thể có 2 vợ/chồng; hoặc có con dị bào; chung cuộc vẫn không tốt;
thường có tai hại về gia đình; bản thân chết bất đắc kỳ tử; chết trong tai
nạn.
– Thực thần bị xung : sơ sinh cha mẹ đói khổ; mẹ không đủ sữa cho con
bú; xung khắc con.
– Chính quan bị xung : tinh thần không yên, hay sợ hãi;
– Chính tài bị xung : tâm trí phiền não;
Nữ mệnh:
– chi ngày = Thìn; chi giờ = Tuất, hoặc ngược lại : thường sống cô quả;
– 4T có Quan hoặc Sát hay Thực, nếu có chi cùng trụ bị chi khác trong 4T xung
hoặc hình : khắc hại chồng con;
– 4T có nhiều Ấn, các Chi hình xung lẫn nhau, nếu không có Thực thần : thường
bị hãm sống trong cảnh bần cùng.
2) Ðịa chi lục hợp
Hợp là hoà hợp, Âm – Dương 2 khí tương hoà với nhau. Trong khí, số dương làm chủ,
tạo hoá cho 2 khí này tương hợp kể như vợ chồng, để phối hợp với nhau thành số.
Trong 4T nếu có 2 điạ chi hợp nhau thì có nghiã là tốt ; nhưng cần phân biệt :

1) Trong hợp có khắc : trước tốt sau xấu ; trước nóng sau lạnh ; trước hợp sau tan.
Đó là trường hợp của quan hệ bạn bè hay vợ chồng, lúc bắt đầu thì rất tốt , nhưng về
sau thì cải vã, vợ chồng ly hôn, bạn bè chia rẽ. Ví dụ :
Tý – sửu : thuỷ – thổ
Mão – tuất : mộc – thổ
tị – thân : hoả – kim.
2) Trong hợp có sinh : quan hệ bạn bè hay vợ chồng ngày càng tốt hơn. Ví dụ :

dần – hợi : mộc – thuỷ
thìn – dậu : thổ – kim
ngọ – mùi : hoả – thổ.
Trong MC, gặp lục hợp nhiều là người không có đại chí, nhưng được ổn định.
Bảng điạ chi lục hợp
(đọc theo chiều dọc / cột)
chi 1 Tý dần mão thìn tị ngọ
chi 2 sửu hợi tuất dậu thân mùi
Hành hoá thổ mộc hoả kim thuỷ thổ (1)
(1) có sách cho rằng ngọ là thái dương (mặt trời) , mùi là thái âm (mặt trăng), hợp nhau hoá Hoả –
chiếu sáng.
Qui tắc địa chi hóa hợp giữa 2 chi : nếu
– không nằm sát bên mà hợp thì gọi là hợp xa, lực yếu, không đủ để thành khí ;

– kề sát bên : nếu hợp hóa ra hành (x) = hành của can lộ trên 1 trong 2 chi (y) :
x = y là hợp hoá;
nếu không : goị là hợp mà không hoá .
Chú ý : có sách cho rằng 2 thiên can hợp thì hoá ngay vì chỉ có 2 (ngũ) hành, còn địa chi thì hợp nhưng
không thể hoá được, vì trong địa chị có chứa nhiều thiên can, có hành khác nhau.
Tác động của địa (chi) hợp :
– sau khi hợp có hóa, ta lấy hành hoá ra (h) để bàn, còn 2 hành đầu đã mất tác dụng;
– nếu chỉ hợp mà không hoá thì hành hoá lý thuyết ấy (h) đứng độc lập, không có
sinh khắc hoặc hình xung đối với những can chi khác. Tuy nhiên , khi đến đại vận hay
LN nào có xuất hiện hành (h) đó thì lực hợp của nó được tăng lên.
3) Ðịa chi tam hợp
Tam hợp hoá cục gọi tắt là tam hợp cục (THC) là 3 chi Sinh, Vượng, Mộ của 1 HÀNH. Ví
dụ Hành Hoả TS ở Dần, ÐV ở Ngọ, và Mộ ở Tuất nên Dần-Ngọ-Tuất hợp thành Hoả
cục. Những cái khác cũng tương tự.
Dần – Ngọ – Tuất : hoả
Hợi – Mão – Mùi : mộc
Thân – Tý – Thìn : thuỷ
Tị – Dậu – Sửu : kim
Khi có tam hợp hoá cục thì hành của cục rất mạnh. Tạm thời ta chấp nhận THC thì hoá
ra 1 hành nào đó ngay.
Nhưng về sau ta sẽ thấy các Ðịa chi trong 4T tam hợp tuỳ 12 tiết khí (tháng) mà có hoá hay không.
Ðể thâm cứu phần này, bạn có thể đọc phần phụ lục liên hệ, thật ra cũng không cần thiết mấy.
Q1-ch06-tamnguyen 14 02/01/2005
12 điạ chi có 12 : 3 = 4 THC , chỉ có 4 hành Kim, mộc, thuỷ, hoả mà không có Thổ. Bạn
có thể tự hỏi tại sao ? Trường hợp này sách Tam mệnh thông hội giải thích như sau :
"Ngũ hành không nói đến Thổ mà 4 hành đều trở thành Thổ cục; vạn vật đều trở
về với đất". Nếu có cả thìn tuất sửu mùi thì đương nhiên mệnh đó có Thổ cục.
THC có cát, có hung :
1) hợp hoá sinh : tốt. Ví dụ 1 4T :
canh thân ất dậu ngày giáp thìn giáp tý

sinh tháng Dậu, kim vượng; Mộc ở tử địa;
chi ngày Thìn thổ khắc Tý thuỷ của giờ, nên Tý thuỷ không giúp cứu được Mộc;
can ngày và can giờ Giáp mộc, can tháng Ất mộc đều bị Kim vượng khắc, lại không
được Thuỷ sinh (bị khắc vô sinh) nên là tượng xấu.
Nhưng nhờ thân-tý-thìn tam hợp Thuỷ cục, Thuỷ lại được Kim của trụ năm (Canh) và
lệnh tháng (dậu) sinh cho; nên Thuỷ vượng sinh Mộc, vậy là điều tốt; tức là bị
khắc nhưng có cứu.
Trường hợp này gọi là hợp hoá sinh (cho Thân / TA).
2) hợp hoá khắc : xấu. Ví dụ 1 4T :
canh thân mậu tý ngày bính ngọ nhâm thìn
sinh tháng Tý nên Thuỷ vượng; can ngày bính hoả ở tử địa, lại bị Thuỷ vượng khắc là
tượng rất xấu;
đã thế, thân-tý-thìn tam hợp Thuỷ cục, lại đế thêm cho Thuỷ để khắc Can ngày Bính
hoả, và chi ngày Ngọ hoả;
Hoả bị khắc vô sinh, không có cứu, nghiã là đã xấu càng thêm xấu.
Trường hợp này gọi là hợp hoá khắc (Thân / TA).
Hậu quả cuả chi hợp :
Phàm những người có THC hay lục hợp thường có dáng người thanh tú, tư thế đẹp;
thần khí ổn định; lòng dạ ngay thẳng; thông minh, tháo vát, toàn diện, nhanh chóng.
Nam : thường thanh tú;
Nữ : đa dâm; nên nữ kiêng kỵ tam, lục hợp.
Nếu hợp hoá sinh : người ấy gặp việc gì cũng toại nguyện; nhiều tài năng; nói năng vui
vẻ lưu loát; không cải vã; có quí nhân thần phúc; suốt đời phúc hậu (điạ chi hợp cục là phúc
đức); nhưng đôi khi cũng hay xãy ra những việc xấu .
Nếu hợp hoá KHẮC : người ấy thường gặp hung lẫn sát; càng năng động thì càng tổn
thất; nhiều việc xấu dồn dập; có thể xãy ra tai nạn ghê gớm.
Người có tam hợp, lục hợp :

nếu tử tuyệt (lấy hành cuả hợp so với chi tháng ?/ hay phối hành Can Ngày với
chi cuả Hợp, theo bảng TS) : hay hành động nhưng ít thành công; tinh thần ủ
rũ, thô lậu, ít bạn bè; ý chí thấp kém; lòng dạ hẹp hòi; thích tiểu nhân không
ưa quân tử; cả đời thấp hèn;

nếu Kiến lộc (LQ) thì được phúc ngoài ý muốn;
nếu hợp với quí nhân, Chính ấn thì được phúc, có quí nhân nâng đỡ, đề bạt;
nếu Hợp với Thực thần thì y lộc phong phú;
nếu Hợp với đại hao thì là người vô lễ; nói năng thô tục; thích tiểu nhân không
ưa quân tử;
nếu có thêm hàm trì thì tư thông , gian ác, dâm loạn, tham ô, bất lương;
THC hoá Tài thì tài vượng (Tài cục);
Hoá Quan thì quan vượng (quan cục);
Hoá ấn thì văn thư vượng (Ấn cục): khoa bảng;
Hoá Sát thì sát vượng (Sát cục);
tóm lại hoá ra cát thì càng cát; hoá ra hung thì càng hung.
4) Ðịa chi tam hội
đó là 3 vị trí cùng nằm về 1 phương của mỗi (ngũ) hành.
Dần – mão – Thìn : mộc / phương đông
Tị – ngọ – mùi : hoả / phương nam
Thân – dậu – tuất : kim / phương tây
hợi – tý – sửu : thuỷ / phương bắc.
Khi có tam hội cục, thì hành của cục rất mạnh, còn mạnh hợn cả tam hợp cục nữa, đặc
biệt mạnh về 1 phương.
5) Ðịa chi lục hại (tương hại)
Đó là : dần – tị; mão – thìn; sửu – ngọ; tý – mùi ; hợi – thân; tuất – dậu.
Hại là tương hại với nhau, biểu tượng cho sự đố kỵ, ghen ghét, bất mãn, chủ về làm hại
cho bản thân; cô độc; người thân trong gia đình bị tổn thất; của cải mất mát. Nữ rất kỵ
gặp.
Nếu sinh vượng thì còn đỡ;
Nếu tử tuyệt ắt có khi tự vận chết một cách thê thảm (như sao Hoá kỵ trong

khoa tử vi).
Tý Mùi hại : anh em bất hoà, không giúp đỡ lẫn nhau ;
da thịt khô khan;
Sửu- Ngọ hại, Mão- Thìn hại, nếu gặp :
TS, hoặc ĐV, hoặc LQ : tính hay giận dỗi ; làm việc không nhẫn nại, chóng
chán ;
Suy, BH, TU, TT : bị thương đến tàn tật ;
Dần-Tị hại : về già bị phế tật (không làm việc được nữa); nếu
trong 4T có nhiều hành Kim thì bệnh tật đầy thân;

Dậu-Tuất hại , Thân Hợi hại : xung khắc họ hàng ; câm điếc, hoặc mặt có nhiều
nhọt độc.
Ngày Dậu – giờ Tuất : về già có thể bị câm điếc ; đầu mặt có sẹo ;
Chi tháng hại Chi trụ khác : khắc hại vợ con anh em ; sống cô độc ; bạc mệnh;
Trong lục hại thì xấu nhất là ngày – giờ tương hại :
– về già thì tàn tật không nơi nương tưạ,
– nếu còn gặp kình dương thì có thể bị chết hay hoạ về tên, đạn hay thú dữ.
Ngoài ra tương hại cũng có nghiã là tương khắc ; ví dụ 4T :
Bính thân ất mùi ngày mậu tý đinh tị
Tý – mùi tương hại; Mùi thổ khắc Tý thuỷ.
Tương hại đương nhiên là không tốt, nhưng phải xem nó có bị chế ngự không; nếu có
thì không sao.
6) Ðiạ chi tam hình (tương hình)
Hình là do mãn cực (đầy quá), đầy quá ắt sẽ đưa đến sự tổn haị. Giữa các địa chi có 3
hình (gọi là tam hình) :xếp vào từng cặp theo cục và phương hướng, thì có 1 hành mãn
cực, nên hình.
Hàng thứ 3 của bảng cho ta tên gọi của « hình ».
dần ngọ tuất tị dậu sửu thân tý thìn hợi mão mùi

tị ngọ mùi thân dậu tuất dần mão thìn hợi tý sửu
Trì tự Vô Trì tự Vô Trì Vô tự tự Vô Vô
thế hình ân thế hình ân thế lễ hình hình lễ ân
hoả mãn cực Kim mãn cực thủy mãn cực mộc mãn cực
6.1) Dần-Tị-Thân : hình trì thế
4T có hình này thì : Tính tình tự đắc, hay làm quá tài năng của mình cho nên công việc
làm ăn dễ thất bại;
Các trụ có chi hình nhau, lại có :
TS hay QÐ hoăc LQ, ÐV : tính tình cương nghị; khí sắc trông quang nhuận;
Tử hoặc Tuyệt : giảo hoạt thấp hèn ; hay bệnh tật hoặc gặp tai ương;
Nữ : phải sống cô quả.
Mệnh quí thì hiếu sát, thích công danh.
Mệnh tiện thì lời nói và việc làm trái ngược nhau; tham lam.
6.2) Sửu – Tuất – Mùi : hình vô ân
4T có hình này (hoặc gặp Tuế vận tương hình) thì :Tính tình hiểm ác, vong ân bội
nghiã, lãnh đạm, khô khan; hoặc bị người làm hại, hoặc gặp việc xấu.
Các trụ có chi hình nhau, lại có :
TS hay QÐ hoăc LQ, ÐV : là người có tinh thần cao thượng, mày rậm mắt to,
ngay thẳng;
Tử hoặc Tuyệt : hiểm độc; lấy oán báo ân. Nữ mệnh : thường bị hư thai.
Q1-ch06-tamnguyen 17 02/01/2005
Mệnh quí thì thanh liêm chính trực, được người ta quí mến.
Mệnh tiện thì thường hay phạm pháp, bị hình phạt.

6.3) Tý – Mão : hình vô lễ
Tý thuộc thuỷ, Mão thuộc mộc; 2 hành này đều thuộc hàm trì, đào hoa, tính dâm dục
nên ít lễ nghiã.
4T có hình này thì :
– Thiếu tính độc lập tự chủ; hành động có đầu không có đuôi, cố chấp, thành kiến;
thường rơi vào hoàn cảnh khó khăn; dung mạo xấu xí; nội tâm ác độc .
– Tính tình hung bạo, không biết lễ nghiã; bất hoà với mọi người; bạn bè ghét bỏ;
– Tử hoặc Tuyệt cùng trụ : bất hiếu với cha mẹ; bất đễ với anh em; khắc hại bà
con họ hàng; nông cạn; nếu nặng thì có thể bị bệnh tật.
– Nữ : khắc hại chồng con; hư thai.
Ngày sinh gặp : vợ hoặc chồng có bệnh;
Giờ sinh gặp : con cái bệnh tật, yếu đuối;
6.4) Tự hình : Thìn – Thìn; Ngọ – Ngọ; Dậu – Dậu; Hợi – Hợi.
Tự ỷ thế mạnh đồng loại tương tàn, nhưng trong NC ảnh hưởng rất ít, có khi bỏ qua
không cần luận tới.
4T có hình này thì tự tôn tự đại, nhưng tinh thần lại bất nhất; không tự quyết đoán
được việc gì; làm việc hay sửa đổi; dung mạo xấu; hay cố chấp; bụng dạ hiểm độc; coi
thường mọi người; hay lâm vào cảnh cùng khổ;
– Tử hoặc Tuyệt cùng trụ : hiểu biết nông cạn; mắc phế tật.
– Chi giờ với bất cứ chi trụ khác hình nhau : con hay mắc bệnh và ốm yếu;
– Chi ngày với bất cứ chi trụ khác hình nhau : vợ (hay chồng) ốm đau luôn.
Chú ý : Trong 4T nếu có 2 loại tương hình thì cái xấu càng nặng; nhưng nếu mệnh tốt
thì ngược lại càng thêm tốt (nhắc lại : quí mệnh thì thường phải có quyền, sát, hình).
7) Tương phá :
4T có các điạ chi tương phá thì :
– Tháng-Ngày phá : khắc vợ / chồng; vợ chồng sớm chia lià;
– Chi Năm tương phá với Chi trụ khác : sớm khắc cha mẹ;
– Chi Tháng tương phá với Chi trụ khác : cuộc đời thăng trầm; có nhiều biến
chuyển bất ngờ;
– Chi Ngày tương phá với Chi trụ khác : sống cô độc, không có vợ con bên cạnh;
– Chi Năm tương phá với Chi trụ khác : đến già vẫn phải lo buồn;

Bảng tóm tắt toàn bộ : điạ chi hợp, xung, hình, hại, phá
tý sửu dần mão thìn tị ngọ mùi thân dậu tuất hợi

tý hợp hình xung hại phá
sửu hợp phá hại Hình hình
xung
dần hình Hình hợp
xung phá
mão hình hại phá xung hợp
thìn phá hại hình hợp xung
tị Hình hợp xung
hại hình
phá
ngọ Xung hại phá Hình hợp
mùi hại Hình hợp Hình
Xung phá
thân Hình hợp hại
Xung hình
phá
dậu phá Xung hợp hình hại
tuất hình hợp xung Hình hại
phá

hợi hợp xung hại hình
phá

III- NHÂN NGUYÊN :
Mỗi địa chi đều có chứa Can, nhưng số lượng không giống nhau ( từ 1 đến 3).
Bảng Ðịa chi tàng Can (chứa can)
Ðịa chi Bản khí Trung khí Dư khí
tý quý
sửu kỷ tân quý
dần giáp bính mậu
mão ất
thìn mậu quý ất
tị bính canh mậu
ngọ đinh kỷ
mùi kỷ ất đinh
thân canh nhâm mậu
dậu tân
tuất mậu đinh tân
hợi nhâm giáp
Các ngũ hành _thể hiện qua Can mà địa chi tàng chứa_ gọi là nhân nguyên, rất quan
trọng trong dự đoán theo 4T, nó làm chủ về mệnh, nên còn gọi là thần nắm sự việc.
ứng dụng cuả nhân nguyên (can tàng trong điạ chi):
a) Các thiên can chứa trong địa chi này cũng được phối với Can ngày, để xác định 10

thần cuả địa chi cuả mỗi trụ hay của Ðại vận, theo cùng một nguyên tắc (xem bảng 10
thần). Can của bản khí chi ngày của mỗi trụ quan trọng nhất.
b) định ngũ hành KHÔ hay ẨM (thấp, ướt):
điạ chi đứng riêng không cho ta thấy khô hay ẩm (ướt), nhưng xét các can tàng, qua
ngũ hành, ta có thể biết được nó ướt hay khô. Ta có bảng sau đây :
Tý (Quý) thấp (thuần thuỷ)
Sửu (kỷ, tân, quý) thấp kim, thấp Thổ vì có Quý thuỷ
Dần (giáp, bính, mậu) khô mộc, khô Thổ vì có Bính hoả
Mão (Ất) trung hoà (thuần mộc)
Thìn (mậu, ất, quý) thấp mộc, thấpThổ vì có Quý thuỷ
Tị (bính, mậu, canh) khô Thổ, khô Kim vì có Bính hoả
Ngọ (đinh, kỷ) khô Thổ vì có Ðinh hoả
Mùi (kỷ, ất, đinh) khô mộc, khô Thổ vì có Ðinh hoả
Thân (canh, mậu, nhâm) thấp kim, thấpThổ vì có Nhâm thuỷ
Dậu (Tân) trung hoà (thuần kim)
Tuất (mậu, đinh, tân) khô Thổ, khô Kim vì có Ðinh hoả
Hợi (Nhâm, giáp) thấp mộc vì có Nhâm.

ví dụ :

sửu thổ và thìn thổ là đất ướt, vì nó có chứa quý thuỷ;
mùi thổ và tuất thổ là đất khô, vì nó có chứa đinh hoả.
vậy chớ vội tụng : Thổ khắc Thuỷ, vì đất ướt (sửu, thìn) không khắc Thuỷ !

 

 

Share this: