IV- QUAN HỆ GIỮA CAN CHI
Trên đây ta đã xét các tương quan giữa các Can, và giữa các Chi (sinh, khắc,
hợp) quan hệ giữa ngũ hành cuả chúng; nhắc lại nguyên tắc căn bản là :
– gần thì mạnh, xa thì yếu;
– cùng tính (âm, dương) thì mạnh, khác tính thì yếu hơn ;
– lộ (trên Can) thì dễ bị tác động hơn là ẩn (trong điạ chi) ;

Một Can tương ứng với 1 hành, một Chi tương ứng với 1 hành, và vì thế chúng cũng
thuộc 1 phương vị nào đó (xem bảng tổng hợp).
Nay ta xét các tương quan giữa các Can-Chi theo một khiá cạnh khác, cũng dựa trên
quan hệ giữa ngũ hành.
Một Can hay một Chi riêng rẽ sẽ không có tác dụng gì mấy, nhưng nếu phối hợp với
nhau, sẽ nảy sinh ra nhiều điều thú vị trong mệnh lý học, vì sự tương tác sẽ làm biến
đổi quan hệ ngũ hành, do đó tác động lên mệnh vận.
1) Sự che / chở lẫn nhau của Can / Chi
Trong dự đoán theo 4T, dù là can chi của 4T, hay của đại vận, hay của LN, giữa chúng
là 1 chỉnh thể có quan hệ hữu cơ với nhau, đó là Trời che đất chở:
a) Thiên can che trùm địa chi :
Ví dụ : Nếu trong 1 mệnh có địa chi dần hoặc mão (mộc) là rất quan trọng (ví dụ nó là
dụng thần), thì các thiên can giáp, ất (cùng ngũ hành với địa chi này) hoặc nhâm, quý
(ngũ hành sinh cho địa chi này) là thiên can che trùm khiến cho dần hoặc mão được SV
; còn nếu gặp phải Canh,Tân (hành khắc hành của địa chi này) che trùm thì sẽ bị khắc
hại.
b) Ðịa chi mang chở thiên can :
Ví dụ : Nếu can ngày (mệnh chủ – rất quan trọng) là giáp hoặc ất (mộc), và trong các
địa chi có dần, mão (mộc) chứa Giáp, Ất trợ giúp; hợi, tý (thuỷ) tương sinh cho Giáp Ất,
thì có thể khiến cho "Thân" được SV ; rất kiêng gặp những địa chi Thân, Dậu (Kim) vì
Can ngày Mộc sẽ bị khắc thương.
Vậy mối quan hệ che hay chở có thể khiến cho 1 hành nào đó mạnh lên hoặc yếu đi.
2) Trong 4T, Các thiên can và địa chi cùng lọai thì liên quan gốc rễ với nhau
a) Thiên can thông gốc ở địa chi . Ví dụ : Giáp có trong Dần (nó là bản khí – khí gốc –
của Dần) ; Ất có trong Mão (nó là bản khí – khí gốc – của Mão).
– Trong 4T khi Giáp gặp Dần thì khí gốc của Giáp mộc sẽ được sinh phù, gốc của thiên
can Giáp sẽ được bền chặt.

– khi Giáp gặp Mão thì khí gốc Ất mộc chứa trong Mão, tuy cùng loại, nhưng gốc của
thiên can Giáp sẽ không được bền chặt bằng Giáp trong Dần.
Ðịa chi khi gặp XUNG KHắC thì gốc của Thiên can dễ bị nhổ bật. Do đó khi đoán vận
mệnh phải thật chú ý đến đại vận, lưu niên xung khắc tứ trụ, vì thường đó là lúc việc xấu xảy ra.
b) Ngược lại, địa chi được sự hộ giúp ngầm của thiên can ; nếu thiên can gặp sinh phù
thì địa chi được sự hộ giúp ngầm càng mạnh ; nếu thiên can bị Khắc thì địa chi được sự
hộ giúp ngầm sẽ suy yếu ;
Mối quan hệ che / chở, có gốc / hộ giúp ngầm đối với sự cân bằng chung của 4T có một
vai trò vô cùng quan trọng trong việc luận đoán.
– Thiên can chủ về trời, chủ về động, lộ rõ ra bên ngoài, động là có hành vi.
– Ðịa chi chủ về đất, chủ về tĩnh, tàng ẩn ở phía dưới, nằm im chờ xử dụng.
– CAN chủ về một cái, còn CHI chủ về nhiều cái tàng ẩn.
Thiên can tính chất đơn thuần (vì chỉ có 1 hành), còn địa chi tính chất phức tạp (vì tàng
chứa từ 1 tới 3 hành). Vì thế Cát hung của Thiên can thì rõ ràng, dễ thấy; còn cát hung
của địa chi thì ám tàng khó thấy; ngay một lúc khó nhìn ra hoạ phúc : tuế vận đã đến
mà cát hung còn chưa rõ.
Thiên can và địa chi tương phối thì địa chi là gốc của Thiên can; Thiên can là ngọn của
địa chi. Thiên can chỉ có tác động sinh / khắc, còn Ðịa chi còn có vai trò điều động, nhất
là cần để ý khi nó bị xung, hay hình. Vậy tính quan trọng của địa chi lớn hơn Thiên can.
Cần nhớ kỹ.
* Ðịa chi trực năm là Thái tuế, chủ tể quyền sinh sát của 12 tháng ;
* Ðịa chi trực tháng là lệnh tháng, chủ tể quyền sinh sát của 1 tháng trên ngũ
hành; Trên đây khi nói về lệnh tháng đã nói về điểm này.
Thiên can không có đặc quyền đó.
Sự sắp xếp tổ hợp Thiên can , địa chi trong tứ trụ của thời điểm sinh (năm tháng ngày giờ – tứ trụ) không những biểu thị ảnh hưởng của Âm Dương, Ngũ hành sinh khắc chế
hoá đối với con người, mà còn nói lên con người cũng giống vạn vật, đều có quá trình
sinh ra, phát triển, hưng, suy, tử vong. Quá trình này còn gọi là Vận khí.
Sự sắp xếp tứ trụ gọi là MỆNH, lấy các giai đoạn trải qua của cuộc đời gọi là VẬN. Hai
cái kết hợp với nhau gọi là MỆNH VẬN. Tất nhiên, khi muốn biết Mệnh-Vận của 1 người
tốt hay xấu, thì vừa phải xem tổ hợp sắp xếp tứ trụ, vừa phải xem hành vận :
tổ hợp Tứ trụ tốt, hành vận cũng tốt : là tốt nhất;
tổ hợp Tứ trụ tốt, hành vận không tốt : khó khăn gặp phải là tạm thời;
tổ hợp Tứ trụ không tốt, hành vận kém : đã xấu càng thêm xấu, chẳng khác
gì trời đã tuyết lại còn thêm sương, nhà dột gặp mưa to;
tổ hợp Tứ trụ không tốt, hành vận tốt : cái tốt không bền;
Mệnh / Vận so sánh với nhau thì đương nhiên mệnh tốt là tốt nhất.
3) Mùa Vượng của 5 khí Can Chi (xem trong bảng tổng hợp)
Q1-ch06-tamnguyen 22 02/01/2005
Ngoài ra, trong các khoa bói toán cổ của trung hoa , người ta luôn luôn phải dùng đến bảng "nạp âm 60
hoa giáp" và bảng "SINH VƯỢNG TỬ TUYỆT của 10 thiên can", đó cũng là những kết tinh của quan hệ
giữa Can và Chi, và CŨNG KHÔNG THOÁT KHỎI NGŨ HÀNH. Do đó ta cần xét kỹ 2 bảng này.
BẢNG NẠP ÂM 60 HOA GIÁP
Âm dương ngũ hành là khí, rất trừu tượng, biểu hiện qua tương quan từng cặp CAN-
CHI _ bất cứ là năm tháng ngày hay giờ _ gọi là nạp âm, cho nên người xưa đã mượn
những hình thái rất rõ ràng của vạn vật để ví (xem các tên nạp âm trong bảng, đều
theo ngũ hành; tên này nếu là cuả cặp Can-Chi trụ năm thì gọi là đại mệnh, mệnh, hay
mệnh năm – rất quen thuộc với chúng ta, ví dụ đại hải thuỷ, sa trung kim, …).
Bảng lục giáp dưới đây có thể dùng để nạp âm cho các cặp là can chi của :
năm sinh : cho ta biết tên và hành của mệnh (mệnh năm, đại mệnh). Đây là
ứng dụng thông dụng nhất (*).
thai nguyên : nạp âm để so sánh với đại mệnh (xem mục Thai nguyên).

thai tức : không quan trọng lắm, ta không xét.
đại vận : nạp âm để so sánh vận với đại mệnh;
v..v…
nó nhấn mạnh mặt "nguyên thể ngũ hành" cuả mỗi trụ, hay thai nguyên, cung mệnh,
đại vận, tiểu vận, lưu niên.
(*) Bảng này lấy năm sinh trong 60 năm để phân loại mệnh theo ngũ hành : kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ.
Mỗi hành là 1 mệnh, 2 năm liên tục có cùng một hành. Nó có tầm quan trọng đặc biệt trong các khoa bói
toán cổ đại của Trung hoa.
Q1-ch06-tamnguyen 23 02/01/2005
Bảng 60 Hoa giáp
số thứ tự
slg can chi tên nạp âm ngũ hành nghiã
1 giáp tý hải trung kim vàng dưới biển
2 ất sửu
3 bính dần lô trung hoả lửa ở trong lò
4 đinh mão
5 mậu thìn đại lâm mộc cây trong rừng lớn
6 kỷ tị
7 canh ngọ lộ bàng thổ đất bên đường
8 tân mùi
9 nhâm thân kiếm phong kim vàng ở mũi kiếm
10 quý dậu
11 giáp tuất sơn đầu hoả lửa đầu núi
12 ất hợi
13 bính tý giản hạ thuỷ nước dưới khe
14 đinh sửu
15 mậu dần thành đầu thổ đất trên mặt thành
16 kỷ mão
17 canh thìn bạch lạp kim vàng trong nến trắng
18 tân tị
19 nhâm ngọ dương liễu mộc gỗ cây dương liễu
20 quý mùi

21 giáp thân tuyền trung thuỷ nước suối
22 ất dậu
23 bính tuất ốc thượng thổ đất trên nóc nhà
24 đinh hợi
25 mậu tý tích lịch hoả lửa sấm sét
26 kỷ sửu
27 canh dần tùng bách mộc gỗ cây tùng bách
28 tân mão
29 nhâm thìn trường lưu thuỷ nước chảy mãi
30 quý tị
31 giáp ngọ sa trung kim vàng trong cát
32 ất mùi
33 bính thân sơn hạ hoả lửa dưới núi
34 đinh dậu
35 mậu tuất bình địa mộc cây ở đồng bằng
36 kỷ hợi
37 canh tý bích thượng thổ đất trên vách
38 tân sửu
39 nhâm dần kim bạc kim vàng thếp mỏng
40 quý mão
41 giáp thìn phú đăng hoả lửa trong đèn
42 ất tị
43 bính ngọ thiên hà thuỷ nước sông thiên hà (trên trời)
44 đinh mùi
45 mậu thân đại dịch thổ đất thuộc khu lớn
46 kỷ dậu
47 canh tuất thoa xuyến kim vàng làm thoa xuyến (đồ trang sức)
48 tân hợi
49 nhâm tý tang đố mộc gỗ cây dâu (nuôi tằm)
Q1-ch06-tamnguyen 24 02/01/2005
50 quý sửu
51 giáp dần đại khê thuỷ nước dưới khe lớn
52 ất mão
53 bính thìn sa trung thổ đất lẫn trong cát

54 đinh tị
55 mậu ngọ thiên thượng hoả lửa trên trời
56 kỷ mùi
57 canh thân thạch lựu mộc gỗ cây thạch lựu
58 tân dậu
59 nhâm tuất đại hải thuỷ nước ở biển lớn
60 quý hợi
Ứng dụng : Bảng 60 hoa giáp thường được dùng để so tuổi 2 người A và B, trong hôn
nhân, hay trong đối tác, hùn hạp v..v..
1- So tuổi, căn cứ trên trụ năm hay đại mệnh cuả hai người :
Về quan hệ giữa người và người , như giữa cha mẹ, vợ chồng, cha con, mẹ con ; anh
em, bạn bè hay người đối tác , … ra sao ; trường khí giữa 2 người đó là tương sinh,
tương hợp, hay tương khắc, tương xung đều có thể thông qua đó mà thấy rõ.
Cái khó của nó là làm sao nắm được chính xác mức độ ngũ hành mạnh yếu và sinh khắc
giưã 2 tuổi đến đâu.
So tuổi được ứng dụng trong hôn nhân , hoặc thuê mướn nhân viên, hoặc chọn người
hùn hạp, người đối tác.
Tương sinh, tương khắc của âm dương, ngũ hành đương nhiên có ảnh hưởng rất quyết
định đến cuộc đời con người; thông thường, sinh nhiều là tốt, khắc nhiều là bất lợi.
Nhưng trong việc "xem" mối quan hệ giữa người này với người khác, đặc biệt là quan
hệ vợ chồng, ta phải cân nhắc kỹ lưỡng :
– đương nhiên năm mệnh gặp tương sinh là tốt;
– còn nếu năm mệnh gặp tương khắc thì vừa phải xem :
* khắc nhiều hay khắc ít;
* có thể khắc được không ?
* ngoài ra còn phải xem tổ hợp sắp xếp tứ trụ của 2 người, tương sinh,
tương khắc, tương hợp ra sao,
chứ không thể cứ thấy năm mệnh gặp tương khắc đã vội cho là xấu, vì như
thế là xét không toàn diện.
Ứng dụng : muốn biết quan hệ giữa 1 người sinh năm AB và 1 người sinh năm CD ra sao ta phải tìm năm mệnh của 2 người rồi so sánh , nếu :
Tương sinh : có lợi, quan hệ sẽ tốt
Tương khắc : không lợi
Giống nhau : kém hơn tương sinh
Ví dụ : muốn biết quan hệ giữa 1 người sinh năm giáp thìn (phú đăng hoả) và 1 người
kỷ dậu (đại dịch thổ) , hoả – thổ tương sinh nên tốt.
Q1-ch06-tamnguyen 25 02/01/2005
Quan hệ đó nếu là giữa đôi bên nam và nữ, hay về hôn nhân mà xét thêm thì 2 thiên
can Giáp Kỷ tương hợp ; địa chi thìn dậu cũng tương hợp ; năm mệnh hoả thổ tương
sinh, tức là phối hôn ý hợp tâm đâù … (xem thêm mục phối hôn).
2- xem tính tình, tính cách con người theo Năm mệnh :
Qua bảng 60 hoa giáp ta biết được năm mệnh (đại mệnh / can-chi năm sinh) thuộc ngũ
hành nào; mỗi hành đó cũng hàm chứa tính tình của người đó :
mệnh KIM :
– ăn nói nghiã khí;
– nếu tứ trụ Kim nhiều , kim vượng : tính cách cương trực, nhưng dễ bị gảy;
mệnh HỎA :
– là người lễ nghiã, đối với người khác nhã nhặn lễ độ; gặp việc hay lý sự;
– Hỏa nhiều, hoả vượng : tính gấp và nóng , dễ làm hỏng việc;
mệnh THỔ :
– trọng chữ tín; nói đến đâu làm đến đấy;
– Thổ nhiều, Thổ vượng : hay trầm tĩnh, không năng động, do đó hay bỏ mất
thời cơ.
mệnh MỘC :
– hiền từ, lương thiện, độ lượng bao dung;
– MỘC nhiều, MỘC vượng : tính cách bất khuất, đặc biệt là người mệnh tùng
bách mộc, hay tang đồ mộc thì "thà chết chứ không chịu sống quỳ ";
loại người này thích hợp với binh nghiệp, làm lính trinh sát, hoặc nhân
viên đặc biệt.
mệnh THỦY :
– là người trí tuệ, thông minh ham học; nhưng đời không bằng phẳng mà khúc
khuỷu, trải qua nhiều gian khổ (hình ảnh của giòng nước chảy);
– Thủy nhiều, thủy vượng thì tính tình nóng gắt, hung bạo, dễ gây tai họa (hình
ảnh của đại hồng thuỷ).
Bạn có thể nhảy ngay đến phụ lục "đaị mệnh : tính tình và vận mạng" để có thêm thông
tin khái quát, nhưng phong phú về các loại mệnh trên đây, tuy rằng đó chỉ là loại "ngoại
khoa" so với Tử Bình.

3- Những ứng dụng khác :
Bảng 60 Giáp Tý không những là tiêu chí thông tin của con người, mà cũng là tiêu chí
thông tin hưng suy của muôn vật, muôn việc trong tự nhiên, ngay cả đối với một quốc
gia cũng thế.
Cứ 2 năm làm thành 1 năm mệnh, tốt hoặc xấu (cát hung hoạ phúc):
đối với vận mệnh của đất nước ;
đối với vận mệnh của con người ;
tùy theo năm nào đó (gọi là lưu niên), ví dụ năm 2003 là Quí mùi – dương liễu mộc.
Q1-ch06-tamnguyen 26 02/01/2005
1) đối với mệnh cuả 1 người : xem phụ lục liên hệ;
2) cho một quốc gia : chẳng hạn năm mậu thìn 1988 :
– là năm "mộc rừng xanh" , năm mệnh của nó là mệnh mộc;
– can chi năm "mậu thìn" đều là Thổ;
– năm mệnh (mộc) khắc can chi năm (thổ) gọi là "năm mệnh tự hành tương
khắc", cho nên năm ấy ở Trung quốc xảy ra rất nhiều thiên tai .
năm 1989 (kỷ tị) cũng là năm "mộc rừng xanh", năm mệnh Mộc khắc Can năm Thổ, do đó tình hình
vẫn chưa biến chuyển tốt, tai hoạ so với năm 1988 càng thêm nghiêm trọng.
3) Khi cứu xét tương quan giữa Mệnh và Vận của 1 người : ta phải nạp âm theo 60
hoa giáp, để tìm hành của mệnh theo can-chi năm, và hành của Vận theo can-chi Vận,
rồi xem tương sinh, tương khắc giữa 2 hành đó mà phán đoán :
 Vận sinh mệnh : là vận tốt,
 Vận và mệnh cùng loại : vận tốt nhất
 vận khắc mệnh : vận không có lợi
 mệnh sinh vận : vận không có lợi.
Ngoài ra, hành vận tốt hay xấu phải xem bảng SINH VƯỢNG TỬ TUYỆT, lấy hành cuả
DT làm chủ phối với Chi các Ðại vận, Lưu niên …. (chúng ta sẽ trở lại những vấn đề này trong
các chương mục liên hệ; ở đây bạn chỉ nên đọc lướt qua để có khái niệm thôi).
4) Tương tự, khi so sánh giữa Thai nguyên và Năm mệnh, cũng phải nạp âm 2 cái
rồi so sánh :
o Thai nguyên sinh mệnh : là mệnh tốt,

o Thai nguyên khắc mệnh : không có lợi cho mệnh .
(chú ý : đây là phương pháp để ưu sinh, dùng để chỉ dẫn (giải nạn) những người
hữu sinh vô dưỡng chọn đúng tháng để thụ thai).
(xem thêm chương 12 – xác định vận trình)
5) Cũng thế, khi so sánh giữa Cung mệnh và Năm mệnh, cũng phải nạp âm 2 cái
rồi so sánh :
– Cung mệnh sinh mệnh : là tốt cho mệnh,
– Cung mệnh khắc mệnh : không có lợi cho mệnh.
(xem thêm chương 12 – xác định vận trình)
6) Ngoài ra, 2 cột CAN,CHI của bảng theo một thứ tự nhất định, có chu kỳ 60 lần,
cũng cho ta biết can, chi của mỗi trụ năm, tháng, ngày, giờ theo một qui luật sắp xếp
nhất định. Chúng ta sẽ trở lại dùng nó trong chương « sắp xếp tứ trụ ».
Nó nhấn mạnh mặt "can chi ".
7) Chu kỳ này nếu là ngày, thì 60 ngày chia ra 6 tuần (lục giáp), mỗi "tuần" (1) là 10
ngày, bắt đầu bằng chữ Giáp. Cách phối CAN CHI ngày ở đây lại cho ta cách xác định
Không Vong. Chúng ta sẽ trở lại dùng nó trong mục "Không vong" cuả chương HUNG
SÁT (quyển 2).
Q1-ch06-tamnguyen 27 02/01/2005
(1) đừng lầm với tuần lễ 7 ngày chúng ta thường dùng. Chúng ta còn thấy chữ "tuần" này trong cách
chia 1 tháng AL 30 ngày thành 3 tuần : thượng , trung và hạ tuần.
BẢNG SINH VƯỢNG TỬ TUYỆT CỦA 10 THIÊN CAN (gọi tắt là bảng Trường Sinh).
TS, MD, QÐ, LQ, ÐV, SY, BH, TU, MO, TT, TH, DG là vòng Trường sinh, gồm 12 giai
đoạn, tượng trưng cho diễn biến (tiến hoá) về "vận khí" của 12 tháng trong 1 năm đối
với (ngũ hành cuả) một CAN nào đó.
Bảng này được lập tùy theo Can dương hay Can âm :
– Can dương thì phối với địa chi theo chiều thuận, ví dụ can Giáp , từ Hợi là TS,
đến Tý là MD, Sửu là QÐ,….
– Can âm thì phối với địa chi theo chiều nghịch, ví dụ can Ất , từ Ngọ là TS, đến
Tỵ là MD, Thìn là QÐ,….
Lưu ý : theo thuyết Dương tử Âm sinh, ta thấy Giáp tử ở Ngọ, thì Ất sinh ở Ngọ ; và Âm
tử Dương sinh, ta thấy Canh tử ở Tý, thì Tân sinh ở Tý ; …đó là vì 2 khí âm dương khác
nhau, phù hợp với nguyên lý trong Kinh Dịch : « đạo Trời quay theo chiều trái ; đạo Đất

quay theo chiều phải ».
BẢNG TRƯỜNG SINH dùng cho Khoa TỨ-TRỤ
(có khác bảng TS theo NGŨ HÀNH dùng cho Bốc Dịch / tương đương với các Can + trong bảng này)
CAN giap binh mau canh nham at dinh ky tan quy
CHI dan ngo thin,tuat than ty mao ti suu,mui dau hoi
Hành moc hoa tho kim thuy moc hoa tho kim thuy
(+)/(-) d d d d d a a a a a
TS hoi dan dan ti than ngo dau dau ty mao
MD ty mao mao ngo dau ti than than hoi dan
QÐ suu thin thin mui tuat thin mui mui tuat suu
LQ dan ti ti than hoi mao ngo ngo dau ty
ÐV mao ngo ngo dau ty dan ti ti than hoi
SY thin mui mui tuat suu suu thin thin mui tuat
BH ti than than hoi dan ty mao mao ngo dau
TU ngo dau dau ty mao hoi dan dan ti than
MO mui tuat tuat suu thin tuat suu suu thin mui
TT than hoi hoi dan ti dau ty ty mao ngo

TH dau ty ty mao ngo than hoi hoi dan ti
DG tuat suu suu thin mui mui tuat tuat suu thin
Chú thích d=dương a= âm
Sau khi đã định được 1 vị trí cho 1 CAN-CHI trong vòng trường sinh, ta sẽ biết nó
vượng, suy hay bình thường như bảng dưới đây (v = vượng, s = suy, b = bình).
viết TS MD QÐ LQ ÐV SY BH TU MO TT TH DG
tắt
trường mộc quan Lâm đế suy bệnh tử mộ tuyệt Thai dưỡng
sinh dục đới quan vượng
V/S v v v v v s s s s s b b

CAN trong bảng là lấy can ngày sinh (là TA, là Thân, là Mệnh chủ) làm chủ.
Ví dụ : Giáp mộc gặp Hợi là thời kỳ sinh, gặp Tý là Mộc dục; gặp Sửu là Quan đới … gặp Thìn là suy, gặp
Tị là Bệnh …,
tức là nói ngày Giáp mộc gặp đại vận hợi, năm hợi, tháng hợi, ngày hợi hoặc giờ hợi
đều là gặp sự sinh trưởng;
Ngược lại nếu gặp đại vận ngọ, năm ngọ, tháng ngọ , ngày ngọ hoặc giờ ngọ đều là gặp
tử địa. Gặp tử địa không nhất định là chết, mà phần nhiều chủ về vận khí không thuận,
hoặc có tai hoạ.
Cho nên người sinh ngày Giáp mộc, nếu năm tháng ngày giờ đều gặp Ngọ, dù không
biết tổ hợp sắp xếp tứ trụ cuả mình thì người đó vẫn nên cẩn thận đề phòng mọi mặt,
nếu không, nhất định sẽ bị tổn thất.
Các CAN ngày khác cũng tương tự như thế.
Trong bảng, từ TS đến ÐV là có lợi (mạnh / cường); từ suy đến tuyệt là không lợi (yếu / nhược); Thai,
dưỡng chỉ chung chung (bình).

– Các địa chi trong bảng dùng để đoán thời gian cát hung, có lợi hay không có lợi;
– Và cũng báo cho biết phương vị xảy ra sự việc.
Ví dụ Giáp mộc :
– ÐV ở mão, mão ở đây là năm mão, hoặc tháng, ngày, giờ mão. Phương vị của
mão là phương đông , phương nào là so với nơi mình sinh ra.
– MỘ ở mùi, mộ là nhập mộ , đương nhiên là không tốt, mùi ở đây là năm mùi,
hoặc tháng, ngày, giờ mùi. Phương vị của mùi là phương tây nam.
Vì vậy, Bảng SINH VƯỢNG TỬ TUYỆT là bảng tiêu chí thông tin về thời gian và phương
vị để hướng về điều may, điều tốt, tránh cái xấu :
– việc có lợi nên làm ở thời gian và nơi có lợi;
– việc không có lợi thì ở thời gian bất lợi không làm, hoặc không đi về phương bất
lợi; như thế có thể tránh được những tai nạn bất ngờ.
Ðể xác định vận trình (hành vận) của một người là tốt hay xấu, người ta lấy Can ngày
phối với chi các vận, để biết vận nào là TS, MD, QÐ,….,TH, DG.
Chú ý :
Có thuyết cho rằng Vận trình (hành vận) của một người cũng trải qua 12 giai
đọan tự nhiên, như trong bảng SINH VƯỢNG TỬ TUYỆT. Nếu hành vận có "vận khí"
thuận theo chu kỳ này là tốt, ngược lại là không tốt. Do đó, người xưa có câu "Già sợ
ÐV, trẻ sợ Suy, trung niên sợ nhất Tử, Tuyệt, Thai" tức những cas nghịch thường so với tuổi.
Thoạt nghe, theo qui luật sinh trưởng chung của con người – sinh lão bệnh tử –
thì vận thuận với lẽ tự nhiên là tốt, nhưng đó không phải là điều cố định. Có người tứ
trụ quá vượng, gặp được vận suy bại lại có lợi, hoặc ngược lại thì nguyên lý cũng như
thế.

Vậy chúng ta nên hiểu (đại) vận nào có "vận khí" Vượng hay Suy so với lực cuả
Can ngày, hay đúng nhất là vớI DT, để biết tốt xấu , chứ không so với tuổi tác.
Những tiêu chí TS, ĐV, .. của vòng trường sinh còn được vận dụng rất nhiều khi tổng
hợp đoán mệnh; tương tự như các Thần Sát, đôi khi còn lẫn lộn với Thần sát, như Lâm
quan là LỘC, Đế vượng là Kình dương (dương nhận), do đó chúng ta sẽ trở lại với bảng
này rất chi tiết trong quyển 2.
Nhắc lại : Trong khoa TỬ BÌNH, phải dùng lệnh tháng để đo lường sự vượng suy của thiên can, địa

chi (qua can tàng độn ở bản khí ) hay 10 thần trong tứ trụ, cũng tức là nói VS của thiên can, địa chi
trong tứ trụ phải lấy lệnh tháng làm tiêu chuẩn, và lấy SINH VƯỢNG TỬ TUYỆT làm căn cứ để xác định .
Ðịa chi thì lấy Can tàng độn ở bản khí để xem bảng.
Nói rõ hơn là bất cứ Can nào, cũng phải lấy Can ấy phối với Chi THÁNG để đọc bảng TS,
rồi tuỳ TS,ĐV,…,Tử,Tuyệt,…mà xác định là Vượng hay Suy hay Bình.
 

Share this: