Chúng ta đã biết, Bát Tự của Nam giới lấy chính tài ta khắc hoặc thiên tài là vợ, nhưng trong Bát Tự của Nữ ngược lại, lấy sao chính quan, thiên quan khắc ta là chồng . Cũng vậy khi xem con cái, Nam mệnh lấy thiên quan khắc ta là con trai, chính quan là nữ, còn Nữ mệnh thì lấy thực thần ta sinh là con trai, thương là con gái .

Xem mệnh Nữ, quan sát, tài đắc địa có lợi cho chồng, thực thần có lợi sẽ có lợi cho con cái. Chồng có lợi thì xuất thân giàu sang, cả đời hưởng phúc. Con có lợi thì cuối đời được con nuôi dưỡng tốt. Do thực thương sinh tài ,tài sinh quan .
Bây giờ xin đưa các trường hợp Nữ mệnh sau đây :

Hỏi : Thuần là gì?
Đáp :Gọi là thuần có nghĩ là thuần nhất, ví như quan tinh thuần nhất, sát tinh thuần nhất, có tài sinh quan, có ấn hộ thân, lại không gặp hình xung như vậy là thuần. Chúng ta bát tự của một nữ mệnh dưới đây :

Năm tháng ngày giờ
Qúy Tị Mậu Ngọ Tân Dậu Bính Thân
Tân Dậu trong bát tự là bản thân, Dậu là lộc của Tân ở thế lâm quan của Tân, Tân kim sanh tháng Ngọ, Tân không được lệnh, tuy nhiên được Mậu thổ của thiên can tháng sinh, và được địa giờ Thân trợ giúp cho nên bản thân thông với gốc tự vượng, Tân là mệnh chủ hợp với Bính là sao quan tức sao chồng mà không hóa thủy, Tân kim sinh vào tháng mùa hạ Hỏa vượng, Bính hỏa là sao chồng vượng vào tháng mùa hạ Ngọ hỏa là sao chồng vượng tướng được lệnh, nên được chồng quan tâm yêu thương và rất lợi cho chồng .
Sau khi xem sao chồng lại xem đến sao con. Tân kim sinh Nhâm thủy là con, mà địa chi Thân tàng sao con Nhâm thủy trường sinh tại địa chi Thân. Hơn nữa Mậu hợp quý trụ năm, Bính hợp với Tân, Bính hỏa đắc lợi Tị , Ngọ cho nên tự nhiên lấy chồng quan chức cao mà ăn lộc trời, thuộc về mệnh chồng vinh con sang .

Hỏi : Hòa là gì?
Đáp: Hòa gọi là điềm tĩnh, ví dụ như trong bản thân nhu nhược chỉ có sao chồng khắc ta mà tứ chi lại không có thần công phá xung kích, chúng ta hãy xem bát tự của một nữ mệnh sau đây :

Năm tháng ngày giờ
Nhâm Thìn Tân Hợi Kỷ Mão Kỷ Tị
Thiên can Kỷ thổ của trụ ngày trong mệnh là bản thân, Giáp Mộc trong Hợi trụ tháng hợp can Kỷ ngày sinh, Giáp mộc trường sinh tại Hợi được lệnh, sao chồng vượng, con có lợi, còn Ất mộc trong Mão là thất sát của bản thân Kỷ thổ, nhưng có Canh kim trong chi giờ Tị chế ước, cho nên lấy sát lưu quan, là quý tượng trong trong nữ mệnh .

Hỏi : Thanh là gì ?
Đáp: Gọi nghĩa là thanh khiết. Trong nữ mệnh, trong mệnh chỉ có một sao quan hoặc chỉ có sao chồng đắc lệnh, trong tứ trụ có tài có quan, có ấn trợ thân, không có khí hỗn đục, mới gọi là đắc thanh quý, ví dụ nữ mệnh sau đây :

Năm Tháng Ngày Giờ
Kỷ Mùi Nhâm Thân Ất Mùi Giáp Thân
Trụ ngày là bản thân Ất Mộc, lấy chi ngày Mùi là cung chồng, lấy địa chi giờ Thân là sao chồng, Canh tàng trong địa chi Thân, mà Ất Hợp với Canh, Canh đắc lộc tại tháng Thân, cho nên sao chồng đắc thời, mà Ất mộc lấy thực thần là sao con, trong địa chi Mùi chứa Đinh hỏa, Đinh hỏa trong Mùi cũng lâm quan vượng địa đắc lệnh, Ất mộc lấy thủy Nhâm là chính ấn, Nhâm đóng chi Thân, trường sinh đắc lệnh, nguồn nước không cạn sinh cho Ất Mộc, Kỷ trong địa chi Mùi được lệnh tháng. Như vậy tài vượng sinh sinh quan, Tứ Trụ không bị xung phá, hại .

Hỏi : Quý là gì ?
Đáp : Là danh hiệu tôn vinh. Trong mệnh có quan tinh và tài khí trợ sinh, trong Tứ chi lại không có hình xung phá bại, đó gọi là mệnh quý.
Năm Tháng Ngày Giờ
Ất Dậu Bính Tuất Quí Mão Quí Tị

Hỏi : Trọc là gì ?
Đáp : Tức gọi không trong bị đục, Bát Tự mệnh nữ xuất hiện nhiều ngũ hành mất vị trí thủy thổ làm tổn thương nhau, sao chồng không xuất hiện, mà xuất hiện sao sát trong Tứ chi không có, tài quan, ấn, thực, những người này mệnh kỹ nữ, tì thiếp, sau đây nêu lên mệnh nữ sau đây:

Năm Tháng Ngày Giờ
Ất Hợi Ất Hợi Quý Sửu Kỷ Mùi

Bản thân Quý thủy sinh tháng 10 tháng Hợi, quá nhiều thủy. Qúy thủy lấy Mậu thổ làm sao chính quan không xuất hiện trong Tứ Trụ và xuất hiện thất sát và lại Sửu Mùi tương xung, cộng thêm thiên can xuất hiện Ất Mộc thực thần chế quan sát, đây mệnh nữ lận đận tình cảm nhiều chồng, khắc chồng tái giá .

Hỏi : Tham lam là gì ?
Đáp: Tức là nói trong thiên can tứ trụ có nhiều phu tinh (sao chồng) trong địa chi lại ngầm có tài vượng đái sát. Như vậy khó tránh khỏi tửu sắc vô độ, tư tình đắc tài. Gặp phải mệnh này, nếu không khắc phu tái giá, vì rằng thái quá hoặc bất cập sẽ đi theo hướng phản diện. Ví dụ mệnh nữ như sao :

Năm Tháng Ngày Giờ
Canh Dần Bính Tuất Canh Thân Đinh Hợi

Bản thân Canh Kim sinh vào tháng mùa thu, chi ngày lại gặp lâm quan lộc địa, bản thân tự vượng. Trong đó trụ tháng nặng hơn trụ giờ, đáng lẽ Bính Hoả là chồng nhưng chi năm Dần và chi tháng hội thành Hoả cục, ở can giờ lại thấu xuất Đinh Hoả, không tránh khỏi rất yêu Hỏa. Lại như bản thân Canh trong Kim lại ngầm khắc với chi năm chi tháng Dần Hợi Mộc là tài mà Nhâm Thuỷ trong Hợi lại là cát thần thực thần của Canh Kim, thực thần có thể sinh tài. Vì vậy tuy nói người đàn bà này lớn lên xinh đẹp có phúc, nhưng lại không thiếu đàn ông theo mà đắc tài.

Hỏi : Xướng là gì ?
Đáp : Gọi là “xướng” tức là xướng ca, trong bát tự nếu xuất hiện thân vượng phu tuyệt, quan suy, thực thần thịnh, hoặc trong tứ trụ không thấy quan sát, hoặc có mà bị coi là hung thần thương quan, thương tận, hoặc quan sát hỗn tạp mà thực thần thịnh vượng, những người này nếu không là mệnh kỹ nữ, cũng là ni cô tì thiếp, khắc chồng, chỉ ở một mình. Xem mệnh nữ sau đây:

Năm Tháng Ngày Giờ
Đinh Hợi Canh Tuất Mậu Thìn Canh Thân

Can ngày bản thân là Mậu Thổ, lẽ ra là phu tinh (sao chồng) khắc ta Giáp Mộc ( sao chồng ) trong chi năm Hợi, nhưng do Mộc này rơi vào tháng 9, tháng Tuất của mùa thu, Giáp Ất mộc hưu tù tử, không đắc lệnh, gặp chi giờ là sao con đắc lệnh, mùa thu Canh Kim vượng tướng, giờ Thân thuộc về thực thần của Mậu Thổ, nhưng Thân với Canh mà nói lại là lộc định của lâm quan, cho nên thực thần có lực, hơn nữa Mậu Thìn vốn thuộc sao khôi cương, có lợi cho đàn ông, không lợi cho đàn bà, giờ đây khôi cương chiếu lâm, lại có thể sinh thực, nêu lại kết hợp với Canh Kim của can tháng can giờ thì không tránh khỏi thực thần vượng quá mức. Tuy nói Ất Mộc trong Thìn cũng là sao chồng khắc ta nhưng toạ ở bên dưới Mậu Thổ, không thể thấu xuất, nên không thể lấy để dùng. Ngoài ra Nhâm Thuỷ trong chi năm Hợi, Quý Thuỷ trong chi ngày Thìn, Nhâm Thuỷ trong chi giờ Thân đều là tài của bản thân Mậu Thổ, Mậu Thìn vốn thuộc khôi canh, bản thân cường vượng, bây giờ phu tinh khắc ta đã tử tuyệt mà xung quanh lại đầy những thực thần sinh ta, cho nên gọi là Thân vượng phùng sinh, tham thực tham tài, là một ca nữ xinh đẹp không có chồng.


Hỏi : Đào hoa là gì?
Đáp : Đào hoa là người nhiều đàn ông yêu thương, đào hoa có tốt có xấu, ví dụ Bát tự của người này, bản thân tuy nhiên đắc địa nhưng phu tinh (sao chồng) thái quá, tối sáng giao nhau, người mà can ngày thân vượng, trong tứ trụ đều là quan sát thì đúng như vậy. Phu tinh xuất hiện ở thiên can gọi là minh, xuất hiện ở địa chi gọi là ám. Ví dụ một Đinh ba Nhâm, hoặc Đinh Hoả đồng thời gặp phải thiên can Nhâm thuỷ, Quý thuỷ trong địa chi Thìn, Quý thuỷ trong địa chi Thìn, Quý thuỷ trong Tý đều là những điền hình về tứ trụ thái quá, hoặc minh ám giao nhau,
ví dụ mệnh nữ sau đây :

Năm Tháng Ngày Giờ
Mậu Thìn Nhâm thìn Nhâm Tuất Quý Hợi

Nhâm Tuất trong mệnh và Quý Hợi, một trụ ở vào lộc địa của lâm quan, một trụ ở vào trạng thái đế vượng vạn vật trưởng thành, có thể gọi là bản thân đắc địa. Nhưng ở phu tinh, trụ năm Mậu Thổ là chính phu, ám có 3 Mậu Thổ (gồm 2 Thìn một Mậu) thành ám phu của Mậu Thổ, như vậy phu tinh giao tập, nhiều chồng .

Hỏi: An tỉnh giữ phận là gì ?
Đáp : Gọi là An tỉnh giữ phận tức là mệnh nữ phụ tinh trong bát tự có khí, can ngày tự vượng. Tài thực được đất, không có hình xung. Hãy xem một mệnh nữ sau đây :

Năm Tháng Ngày Giờ
Quý Tỵ Canh Thân Ất Mão Đinh Hợi

Can ngày bản thân Ất Mộc, toạ ở chi ngày Mão là lộc địa lâm quan của Ất Mộc mà chi giờ Hợi cũng chi ngày Mão lại phùng hợp cục, cho nên can ngày tự vượng. Lại xem phu tinh, Ất Mộc lấy Canh Kim khắc ta làm chính quan là chồng, hay ở chỗ chi tháng thân ở nơi phu tinh toạ lại thuộc lộc địa lâm quan của Canh Kim mà chi năm Tỵ lại là đất trường sinh của Canh Kim, hơn nữa Nhâm Thuỷ trong chi giờ Hợi là thực thần thiên trù của Canh Kim, nên gọi chồng ăn thiên lộc, quan tinh mỹ vượng. Như vậy bản thân, quan tinh đều hưởng vượng khí, hai bên không xâm lấn nhau, tứ trụ lại không có thất sát lẫn vào, vì thế có thể thấy đó là mệnh của một phu nhân an tĩnh giữa phần, hoà nhã lịch thiệp.

Hỏi : Phúc thọ là gì?
Đáp : Đây là một loại cách cục thân toạ đất vượng, thông với nguyên khí, can chi phò nhau, tổ hợp hữu tình, mà tài quan ấn thụ đều đắc vị, không làm thoái tài hoại ấn, hoại thương quan, quả là cách cục thuần tuý. Nếu thân vượng mà vận hành vào đất tài, thực, cũng thuộc mệnh phúc thọ đều đủ. Nêu một ví dụ về nữ mệnh sau :

Năm Tháng Ngày Giờ
Bính Ngọ Canh Tý Tân Dậu Quý Tỵ

Can ngày Tân toạ đất Dậu, chuyên lộc tự vượng. Tân Kim lấy Bính Hoả làm quan, mà quan tinh quy lộc ở chi giờ Tỵ, phu tinh đắc địa. Tân Kim lấy Quý thuỷ là con, can giờ thực thần Quý thuỷ quy lộc ở can tháng Tý thuỷ, cho nên tử tinh sao con cũng đắc địa. Hơn nữa can chi phò nhau, không làm hại nhau, lại sinh vào giờ Quý thuỷ tháng 11 dương lệnh, trở thành tượng kim bạch thuỷ thanh. Như vậy mệnh chủ xinh đẹp đoan chính, phu vượng tử quý, cho nên có thể đoán là một mệnh phúc thọ đều đủ.

Hỏi : Vượng phu thương tử là gì ?
Đáp :Vượng phu thương tử là người phụ nữ đó nhiều chồng, ít con cái Xem nữ mệnh ở vượng phu thương tử, mấu chốt là phải xem trụ ngày. Cách xem là hai sao con cái, quy về trụ giờ, phu tinh sinh vượng, tử tinh suy bại là khó có con, lấy một nữ mệnh là ví dụ:

Năm Tháng Ngày Giờ
Bính Tuất Bính Thân Đinh Tỵ Tân Hợi

Ngày sinh Đinh hoả, toạ ở đế vượng Tỵ, bản thân đắc địa. Đinh hoả lấy Nhâm thuỷ chế ta trong chi tháng Thân làm quan tinh mà chi giờ Hợi là lộc địa lâm quan của quan tinh Nhâm thuỷ, chi tháng Thân kim lại là đất trường sinh của Nhâm thuỷ. Hơn nữa tháng 7 kim vượng, Canh Kim trong Thân và Tân kim can giờ cùng với hai thiên can Bính hoả của can giờ, can tháng là ấn thụ, tài thần của Nhâm thuỷ quan tinh, cho nên đoán biết ông chồng thông minh phú quý. Đinh Hoả lấy thực thần Kỷ thổ làm chỗ dựa cho con cái bản thân, cho nên lấy quyền đem Mậu thổ tàng trong chi là tử tinh. Nhưng đem Mậu thổ tàng trong chi quy dẫn về cung chi giờ Hợi, Giáp mộc trong Hợi là thất sát khắc phạt Mậu thổ, thế đem Mậu thổ đặt vào tuyệt địa. Vì rằng tử tinh bị khắc, cho nên trong mệnh khó có con, hoặc có thì cũng khó nuôi.

Hỏi : Vượng tử thương phu là gì?
Đáp: Về mệnh vượng tử thương phu, có thể từ trụ tháng, trụ giờ mà đoán biết. Quan tinh có khí đắc thời, nếu không đắc nguyệt khí, ở trụ giờ lại không có vượng khí, thế thì chồng có thể vì mất khí mất thời mà nguy đến tính mệnh. Lại như tử tinh quy dẫn về giờ, nếu gặp đất trường sinh, lâm quan, đế vượng mà không hình khắc, chứng tỏ tử tinh đắc địa mà sinh vượng, phần lớn có thể làm nên. Xin nêu một ví dụ mệnh nữ :

Năm Tháng Ngày Giờ
Kỷ Mão Giáp Tuất Ất Mão Mậu Dần

Bản thân Ất Mộc, lấy Canh Kim làm chính quan là sao chồng, sao chồng sinh vào tháng Tuất, Canh Kim phùng Tuất, Canh kim không xuất hiện mà thế vào giáp mộc xuất hiện nằm trụ tháng tuất quy lộc giờ Dần ở vào đất đất trường sinh của Bính Hoả, mà Dần Tuất hội cục, đều thuộc Hoả, nên đoán tử tinh hưởng vượng, phu tinh không vượng . Sống với con mất chồng .

Hỏi : Thương phu khắc tử là gì ?
Đáp: Thương phu khắc tử là khắc chồng khắc con. Nữ mệnh này, quan tinh và tử tinh mất lệnh tháng, mất lệnh giờ, lại bị khắc tiết, cho nên không đẹp. Xem một nữ mệnh.

Năm Tháng Ngày Giờ
Bính Tý Canh Tý Ất Hợi Bính Tý

Bản thân Ất mộc lấy Canh kim làm quan tinh. Bây giờ tháng Tý, kim hàn thuỷ lạnh, thực là tử địa của Canh kim, trong tứ trụ không có thổ đến sinh kim, cho nên đức ông chồng không lâu bền. Ất mộc lấy Bính hoả làm con, dẫn đến Tý cung ở giờ, thuộc về thuỷ hoả xung kích, là đất thuỷ vượng hoả diệt, tuy nhiên năm đến can giờ đều có hai Bính hoả, làm thế nào chịu nổi thuỷ ở địa chi tứ trụ tuôn ra, cho nên con cái khó lòng tránh khỏi nguy nan.
Ví dụ :

Năm Tháng Ngày Giờ
Ất Dậu Mậu Tý Bính Dần Kỷ Hợi

Ngày sinh Bính hoả toạ chi Dần là đất trường sinh của Bính hoả, đáng tiếc sinh vào tháng Tý giờ Hợi, quan sát quá nặng, giống như vượng hoả gieo vào thuỷ thịnh, cho nên lo lắng sẽ chết khi sinh đẻ .

Hỏi : Chính thiền tự xử là gì ?
Đáp: Là vợ chồng tương hợp, lại gặp tỷ kiếp phân tranh. Nếu một ngôi phu tinh có hai ngôi thê tinh tương hợp, gọi là tranh hợp. Nếu bản thân tự vượng, thân kia lại suy, tứ trụ không xung thì ta chính thê, kia là thiếp, nếu thân kia vượng mà ta suy, tứ trụ xung ta là thiếp, thân kia vượng là thê, hoặc tự vượng thái quá, trụ không có phu tinh, cũng là thiếp, hoặc quan sát hỗn tạp, hoặc thương quan quá nặng, cùng là thiếp, xem thí dụ sau :

Năm Tháng Ngày Giờ
Nhâm Tý Bính Ngọ Tân Dậu Tân Mão

Bản thân Tân kim lấy can tháng Bính là quan tinh. Nhưng Bính lại hợp với can giờ Tân, thì thấy đây là mệnh hai đàn bà tranh một chồng, bản thân toạ tại lộc địa lâm quan chi Dậu, thân vượng có lực, mà can giờ Tân kim lại toạ ở tuyệt địa Mão, suy nhược không chịu nổi công kích. Vì vậy kết quả tranh giành ta làm chính thê, còn kẻ kia làm thiếp. Lại như:

Năm Tháng Ngày Giờ
Quý Mùi Nhâm Tuất Quý Tỵ Nhâm Tý

Bản thân Quý thuỷ lấy Mậu thổ là quan, là chồng. Đáng tiếc Nhâm Tý vượng. Quý Thuỷ thuỷ nhược, do nhược không thắng vượng, cho nên kẻ kia thắng ta, ta suy, đành phải làm thứ phòng. Nhưng trụ giờ Nhâm thuỷ nặng mà tràn trề, toạ chi Tý dưới Nhâm gặp chi năm Mùi, kèm theo đào hoa cho nên kẻ kia tuy là chính thất (vợ cả) nhưng lại khó tự xử.

Theo Bí ẩn Định mệnh Đời người

Share this: