TÌM KIẾM DỤNG-THẦN

NHẬT-NGUYÊN có mạnh, có yếu CÁCH-CỤC có thành, có bại, có thái-quá, có bất-cập.

Nhưng bây giờ có 1 chữ trợ giúp cho CÁCH-CỤC thành-công hay cứu giải khi CÁCH-CỤC bị phá hoại. Chế ngự thái-quá, cứu vớt bất-cập hay giúp cho NHẬT-NGUYÊN quá yếu hay chế bớt quá mạnh, thì chữ nầy gọi là DỤNG-THẦN.

Số Mệnh chỉ nhờ có 1 chữ DỤNG-THẦN, cũng như phân biệt CÁCH-CỤC, là thể xác, DỤNG-THẦN là linh-hồn vậy.

Nhưng DỤNG-THẦN mạnh thì thành-công lớn, DỤNG-THẦN yếu thì thành-công nhỏ, nếu không có DỤNG-THẦN là HẠ-CÁCH.

Luận số-mệnh thiên-ngôn vạn-ngữ, chỉ là luận DỤNG-THẦN mà thôi, thật nên cẩn thận và chú-ý.

DỤNG-THẦN mạnh, nhưng cũng nhờ đại-vận giúp mới thấy chỗ hay, thì phú-quý lập-tức thực hiện. Nếu trái lại, đại vận chế-phá DỤNG-THẦN, thì thất-bại, phá-sản cũng lập-tức gặp phải. Cho nên DỤNG-THẦN đi đôi với đại-hạn và lưu niên, nếu so sánh may rủi họa-phúc sẽ thấy ngay.

Nay chúng tôi chỉ cách tìm DỤNG-THẦN.

A. CHÁNH-QUAN-CÁCH.

  1. NHẬT-NGUYÊN yếu, TÀI mạnh, nên lấy TỶ, KIẾP làm DỤNG-THẦN không có TỶ, KIẾP, nên lây ẤN làm DỤNG-THẦN.

     

     

    1. NHẬT-NGUYÊN yếu THỰC, THƯƠNG nhiều, lấy ẤN làm DỤNG-THẦN.
    2. NHẬT-NGUYÊN yếu, QUAN, SÁT mạnh, lấy ẤN làm DỤNG-THẦN.
    3. NHẬT-NGUYÊN cường, TỶ, KIẾP nhiều, lấy QUAN-TINH làm DỤNG-THẦN.
    4. NHẬT-NGUYÊN mạnh, ẤN nhiều, lấy TÀI làm DỤNG-THẦN.
  2. NHẬT-NGUYÊN mạnh, nhiều THỰC, THƯƠNG, nên lấy TÀI làm DỤNG-THẦN.

 

  • B.
  • PHIỀN, CHÁNH-TÀI-CÁCH.
  • NHẬT-NGUYÊN yếu, nhiều THỰC, THƯƠNG, lấy ẤN làm DỤNG-THẦN.
  • NHẬT-NGUYÊN yếu, TÀI mạnh quá, nên lấy TỶ, KIẾP làm DỤNG-THẦN.
  • NHẬT-NGUYÊN yếu, QUAN SÁT nhiều, lấy ẤN làm DỤNG-THẦN.
  • 4.
  • NHẬT-NGUYÊN cường, nhiều TỶ, KIẾP, lấy THỰC, THƯƠNG làm DỤNG-THẦN.

     

     

    5. NHẬT-NGUYÊN cường, nhiều ẤN, nên lấy TÀI làm DỤNG-THẦN.

    < >C. PHIẾN, CHÁNH-ẤN-CÁCH. NHẬT-NGUYÊN yếu, QUAN, SÁT nhiều, nên lấy ẤN làm DỤNG-THẦN. NHẬT-NGUYÊN yếu, THỰC, THƯƠNG nhiều, lấy ẤN làm DỤNG-THẦN. NHẬT-NGUYÊN yếu, TÀI-TINH nhiều, nên lấy TỶ, KIẾP làm DỤNG-THẦN. 4.

    • NHẬT-NGUYÊN cường, TỶ, KIẾP nhiều, có QUAN-TINH hay THẤT-SÁT thì DỤNG-THẦN là QUAN, SÁT. Nếu không có QUAN, SÁT thường lấy THỰC, THƯƠNG làm DỤNG-THẦN.
    5.
    • NHẬT-NGUYÊN cường, ẤN Đắc-Địa hay Vượng-Thịnh nên lấy TÀI-TINH làm DỤNG-THẦN.
    6.
    • NHẬT-NGUYÊN cường, TÀI-TINH mạnh, nên lấy QUAN hay SÁT làm DỤNG-THẦN. < >C. THỰC-THẦN CÁCH. 2.

       

       

      • NHẬT-NGUYÊN yếu, TÀI-TINH mạnh hoặc nhiều, nên lấy TỶ, KIẾP làm DỤNG-THẦN. < >3. NHẬT-NGUYÊN yếu, THƯƠNG-QUAN và THỰC-THẦN mạnh, nên lấy nên lấy ẤN làm DỤNG-THẦN. 5.

         

         

        • NHẬT-NGUYÊN cường, TỶ, KIẾP cũng mạnh nên lấy THỰC, THƯƠNG làm DỤNG-THẦN.
        6.
        • NHẬT-NGUYÊN cường, TÀI-TINH mạnh hoặc nhiều, nên lấy QUAN hay SÁT làm DỤNG-THẦN. < >E. THẤT-SÁT CÁCH. NHẬT-NGUYÊN yếu, TÀI-TINH nhiều, nên lấy TỶ, KIẾP làm DỤNG-THẦN. NHẬT-NGUYÊN yếu, THỰC, THƯƠNG nhiều, nên lấy ẤN làm DỤNG-THẦN. NHẬT-NGUYÊN yếu, QUAN và SÁT mạnh, nên lấy ẤN làm DỤNG-THẦN. NHẬT-NGUYÊN cường, TỶ, KIẾP nhiều, nên lấy ẤN làm DỤNG-THẦN. NHẬT-NGUYÊN cường, ẤN nhiều hay mạnh, nên lấy TÀI làm DỤNG-THẦN. 6.

           

           

          • NHẬT-NGUYÊN cường, QUAN, SÁT mạnh, nên lấy THỰC, THƯƠNG làm DỤNG-THẦN. < >F. THƯƠNG-QUAN CÁCH. NHẬT-NGUYÊN yếu, QUAN, SÁT nhiều, nên lấy ẤN làm DỤNG-THẦN. NHẬT-NGUYÊN yếu, QUAN, SÁT nhiều, nên lấy ẤN làm DỤNG-THẦN. NHẬT-NGUYÊN yếu, THỰC, THƯƠNG nhiều, nên lấy ẤN làm DỤNG-THẦN. 4.

             

             

            • NHẬT-NGUYÊN cường, TỶ, KIẾP nhiều, nên lấy THẤT-SÁT làm DỤNG-THẦN.

               

               

              5. NHẬT-NGUYÊN cường, ẤN nhiều, nên lấy TÀI làm DỤNG-THẦN.

 

 

NGOẠI CÁCH

A. KHÚC-TRỰC CÁCH

DỤNG-THẦN của KHÚC-TRỰC CÁCH, nên lấy Hành-Mộc làm DỤNG-THẦN. Rất kỵ KIM, nếu gặp THỦY cũng tốt, có gặp HỎA càng hay, nếu gặp hành THỔ, nên có Hành-Hỏa trong MỆNH-CỤC thì không sao.

B. DIÊM-THƯỢNG CÁCH

 

DỤNG-THẦN của DIÊM-THƯỢNG CÁCH, nên lấy Hành-HỎA làm DỤNG-THẦN rất kỵ Hành-THỦY, nếu có MỘC cũng tốt, gặp THỔ càng hay, có Hành-THỔ tại MỆNH gặp KIM ắt là TÀI-TINH, cũng khá lắm.

C. GIA-THÍCH CÁCH.

Nên lấy Hành-THỔ làm DỤNG-THẦN, kỵ MỘC khắc, có HỎA thì sinh THỔ, có KIM thì xích THỔ, gặp THỦY là TÀI-TINH, các hành này có gặp phải cũng tốt.

D. TÙNG-CÁCH CÁCH.

Nên lấy Hành-KIM làm DỤNG-THẦN, rất kỵ HỎA, có THỔ thì sinh KIM tốt đẹp, cũng nên có THỦY xích khí thì thông-minh lỗi lạc, trong MỆNH có THỦY mà gặp MỘC là TÀI-TINH.

E. NHUẬN-HẠ CÁCH

Nên lấy THỦY làm DỤNG-THẦN, kỵ THỔ khắc (MẬU, TỶ, KIẾP, KỶ, MÙI, TUẤT) gặp KIM thì sinh THỦY, gặp MỘC thì xích-khí cũng nên, trong MỆNH thì có sẵn hành MỘC, gặp HỎA là TÀI-TINH.

F. TÙNG-TÀI CÁCH.

Nên lấy TÀI-TINH làm DỤNG-THẦN, kỵ TỶ, KIẾP và ẤN, nên có THỰC, THƯƠNG sinh TÀI-TINH càng tốt, gặp QUAN, SÁT cũng không ngại.

G. TÙNG-SÁT CÁCH.

Nên lấy SÁT làm DỤNG-THẦN, kỵ ẤN và TỶ, KIẾP, nếu có TÀI sinh SÁT càng tốt, rất kỵ THỰC, THƯƠNG kháng SÁT.

H. TÙNG-NHI CÁCH.

Nên lấy THỰC, THƯƠNG làm DỤNG-THẦN, có TÀI-TINH càng tốt đẹp, có TỶ, KIẾP cũng được, vì TỶ, KIẾP sinh THỰC, THƯƠNG. Kỵ gặp QUAN, SÁT vì QUAN, SÁT với THỰC, THƯƠNG. Kỵ gặp QUAN, SÁT vì QUAN, SÁT với THỰC, THƯƠNG là địch, hai hành này hại nhau. Tối kỵ là ẤN, vì ẤN khắc-chế THỰC, THƯƠNG, phá-cục.

I. TÙNG-VƯỢC CÁCH.

Nên lấy TỶ, KIẾP làm DỤNG-THẦN, rất kỵ những hành TÀI, QUAN THỰC, THƯƠNG nếu gặp phải 1 trong các hành trên, thì tai-họa sẽ xảy ra lập-tức.

K. KIẾN-LỘC CÁCH.

10 THIÊN-CAN từ GIÁP đến QUÝ, mà sinh vào tháng thuộc LỘC, như GIÁP gặp DẦN, ẤT gặp MÃO, BÍNH gặp TỴ, ĐINH gặp NGỌ, MẬU gặp TỴ, KỶ gặp NGỌ, CANH gặp THÂN, TÂN gặp DẬU, NHÂM gặp HỢI, QUÝ gặp TÝ, tất cả đều là KIẾN-LỘC CÁCH.

Vì sinh trong tháng LỘC nên NHẬT-NGUYÊN đã cường mạnh, không phải như các CÁCH trên, phải nhờ có CHI của năm của ngày và của giờ giúp mới được mạnh. Có thể điều khiển được TÀI, QUAN, THỰC, THƯƠNG, nếu phối hợp cho điều-hòa thì ắt được thành-công dễ dàng vậy.

DỤNG-THẦN của KIẾN-LỘC CÁCH

1. TÀI quá nhiều thì nên lấy TỶ, KIẾP làm DỤNG-THẦN.

  1. TÀI nhiều mà NHẬT-NGUYÊN càng mạnh, bởi có nhiều TỶ, KIẾP trợ giúp, nên dùng QUAN, SÁT làm DỤNG-THẦN.
  2. 3. QUAN, SÁT nhiều, quá mạnh, nên lấy ẤN làm DỤNG-THẦN.
  3. QUAN, SÁT nhiều, NHẬT-NGUYÊN cũng cường, nên lấy TÀI làm DỤNG-THẦN.

     

     

    1. THỰC, THƯƠNG nhiều, nhưng NHẬT-NGUYÊN bị QUAN, SÁT vây phủ nên lấy ẤN làm DỤNG-THẦN.
    2. 6. THỰC, THƯƠNG nhiều, không có QUAN, SÁT, nên lấy TÀI làm DỤNG-THẦN.
  4. TỶ, KIẾP nhiều tức là NHẬT-NGUYÊN quá mạnh, nên lấy QUAN, SÁT làm DỤNG-THẦN.

8. ẤN nhiều, tức là NHẬT-NGUYÊN mạnh, nên lấy TÀI làm DỤNG-THẦN.

L. DƯƠNG-NHẬN CÁCH.

 

Chỉ có GIÁP CANH, NHÂM DƯƠNG-CAN mới có CÁCH này GIÁP gặp tháng MÃO, CANH gặp tháng DẬU, NHÂM gặp tháng TÝ mới là DƯƠNG-NHẬN CÁCH. CÁCH-CỤC này, tháng CHI là KIẾP, thật quá vượng-thịnh, nhiều TÀI, SÁT thì cách-cục toàn-mỹ.

 

 

DỤNG-THẦN của DƯƠNG NHẬN CÁCH

  1. TÀI nhiều nên lấy QUAN, SÁT làm DỤNG-THẦN.
  2. QUAN, SÁT nhiều, nên lấy TÀI làm DỤNG-THẦN.
  3. THỰC, THƯƠNG nhiều, nên lấy TÀI làm DỤNG-THẦN.
  4. TỶ, KIẾP nhiều, nên lấy QUAN, SÁT làm DỤNG-THẦN.
  5. ẤN nhiều, nên lấy TÀI làm DỤNG-THẦN.
  6. Nếu TÀI, QUAN, THỰC, THƯƠNG hổn lộn và nhiều, lấy ẤN làm DỤNG-THẦN.

Cách lấy DỤNG-THẦN mà chúng tôi đã nêu ra ở trên, là 1 phương thức mà thôi, vì có mấy muôn ngàn lá số, nên CÁCH-CỤC biến-hóa rất nhiều, những thí dụ ở trên, nên học cho thuộc lòng để về sau vận-dụng và suy-luận với tiến bộ được.

Đã có cách-thức nhập-môn, về sau chúng ta nghiên-cứu, chắc chắn có ngày thành-công. Chúng tôi có thể bổ-khuyết thêm 1, 2 điều cho quý-vịđộc-giả lỉnh-ngộ phần nào.

 

 

NHU YẾU của DỤNG-THẦN

1. Có thể, có sức mạnh (như GIÁP MỘC làm DỤNG-THẦN thích ở mùa xuân).

  1. Có giúp trợ (như DỤNG-THẦN là GIÁP MỘC, có ẤT MỘC hoặc QUÝ THỦY giúp trợ).
  2. CAN nên đắc-khí, có CĂN (như DỤNG-THẦN là GIÁP MỘC, ĐỊA-CHI có DẦN có MÃO).
  3. DỤNG-THẦN ở THIÊN-CAN, không nên bị khắc-chế hoặc bị hợp đi (như DỤNG-THẦN GIÁP không có CANH khắc hay bị KỶ hợp).
  4. DỤNG-THẦN tại CHI được THIÊN-CAN sinh trợ (như DỤNG-THẦN là TỴ HỎA được GIÁP MỘC sinh hay có BÍNH HỎA trợ giúp).
  5. DỤNG-THẦN tại ĐỊA-CHI không gặp phải HÌNH, XUNG, HẠI hợp (như DỤNG-THẦN là TỴ HỎA không gặp HỢI xung, DẦN hình, THÂN hợp).
  6. DỤNG-THẦN đã gặp phải Xung Khắc Hại, mà được THẦN khác cứu-giúp giải-trừ (như GIÁP MỘC DỤNG-THẦN bị CANH khắc, nhờ có ẤT MỘC cũng lộ trên CAN hợp chữ CANH, thì CANH sẽ không khắc GIÁP nửa. Nếu không có ẤT mà có BÍNH, thì BÍNH Hỏa khắc CANH để cứu giúp GIÁP MỘC. Nếu ở ĐỊA-CHI, DỤNG-THẦN chữ TỴ bị HỢI Xung, nhờ có MÃO hợp HỢI giải trừ cho HỢI Xung TỴ).

KHU BIỆT của DỤNG-THẦN

  1. KIỆN-TOÀN, DỤNG-THẦN không có bị khắc, HỢP, HÌNH, XUNG, nên gọi là KIỆN-TOÀN, phú-quý vĩnh-cữu.
  2. TƯỚNG-THẦN. DỤNG-THẦN có sức lực yếu, có 1 chữ khác tương-trợ, DỤNG-THẦN bí HÌNH, XUNG phá hại, có 1 chữ khác cứu-giải. Chữ trợ hay cứu-giải đó gọi là TƯỚNG THẦN hay HỶ-THẦN. Tại Mệnh-cục TƯỚNG-THẦN cũng rất quan-trọng, thường đi đôi với DỤNG-THẦN.
  3. CÁCH-CỤC TƯƠNG-KIÊM. Như TÀI cách, DỤNG-THẦN là TÀI, thì cách-cục KIÊM DỤNG-THẦN, cho nên ảnh-hưởng càng mạnh, tốt thì phát trên tỷ-phú, còn phá hại DỤNG-THẦN lập tức phá sản hết sạch vậy.

 

 

THAM – LUẬN NGOẠI CÁCH.

Số TỬ-BÌNH là 1 khoa tổng-luận về Ngũ-Hành, lấy Ngũ-Hành biến hóa, dung-hòa sự hình, Khắc làm cho quân-bình, ngày MỆNH-CHỦ yếu thì giúp trợ, MỆNH-CHỦ cường thì nên trợ giúp cho các THẦN, như TÀI, QUAN, THỰC, THƯƠNG chế bớt

 

cường-độ của MỆNH-CHỦ. Lấy các THẦN làm CÁCH-CỤC, tức có phép độ phân-chia cho rõ rệt, thông-thường thì có 8 cách thì làm sao sinh ra có NGOẠI-CÁCH được, quý-vịđộc giả có thể nghi hoặc, cho nên mới có bài luận này.

Chúng tôi cũng đã trình bày ở trên, như KIẾN-LỘC CÁCH, DƯƠNG-NHẬN CÁCH, thì có vượng-khí bởi tháng CHI, NHẬT-NGUYÊN đã được sinh-vượng, nên chế bới NHẬT-NGUYÊN. Các CÁCH như KHÚC-TRỰC, DIÊM-THƯỢNG NHUẬN-HẠ, TÙNG-CÁCH, GIA-THÍCH cũng là bởi ĐỊA-CHI của tháng đã vượng, lại gặp tam-hợp thành-cục, thành phương-vị, không có THẦN khác chế ép nên theo ngũ-hành đó mà thuần-hành, nếu có khắc-chế bởi Vận ắt là không tốt, tỷ như nước chảy quá mạnh không có cách nào ngăn nổi vậy. Kỳ-dư TÙNG-TÀI, TÙNG-SÁT, TÙNG-QUAN, TÙNG-NHI, TÙNG-VƯỢNG, TÙNG-CƯỜNG cũng chỉ bởi có 1 hành sinh-vượng, các hành khác tuy có nhưng sức yếu đuối, hoặc khi cũng không có, như vậy cũng là thuận theo hành đó mà đi, nếu nghịch thì có họa ngay.

HÓA-KHÍ CÁCH, như HÓA-MỘC CÁCH, HÓA-HỎA CÁCH, HÓA-THỔ CÁCH,HÓA-KIM, HÓA-THỦY, cũng bởi NHẬT-NGUYÊN gặp hợp, nên tính chất của hành đó đã biến hóa, cũng như ĐINH Hỏa gặp NHÂM thủy, theo lẽ THỦY-HỎA bất tương-dung, nhưng hai hành này được Ngũ-Hợp thì hóa thành hành Mộc như vậy nên phải chuyển sang chiều hướng khác mà đoán số mệnh.

Còn có 1 điều là đơn 1 chữ KỶ là Hành-Thổ, gặp TÂN kim là THỰC-THẦN, gặp BÍNH Hỏa là CHÁNH-ẤN, nhưng có chữ GIÁP Ngũ-Hợp cũng là hành thổ (HÓA-THỔ),thì BÍNH và TÂN cũng hóa theo thành Hành-Thủy, nên không phải THỰC, ẤN chuyển thành TÀI-TINH, kỷ dư các Hóa-Cục khác cũng nên biến như vậy mới đúng cách.

Nhưng có 1 điều phải nêu rõ, trên THIÊN-CAN gặp hợp thì hóa ngay, ĐỊA-CHI gặp Lục-Hợp không được hóa theo, vì ĐỊA-CHI ẩn tàng nhiều THIÊN-CAN, cho nên không được biến-hóa vậy.

 

 

     
     
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

           

 

   
 
Share this: