[Ảnh minh họa để định vị trị – nhiệm vụ di truyền học xếp Việt chủng nào? Hán chủng nào? Về mặt di truyền, người Hán được xếp vào chủng Mongoloid phương Nam (South Mongoloid). Người Việt Nam mà cả đại bộ phận dân cư Đông Nam Á cũng được xác nhận thuộc chủng Mongoloid phương Nam].

 

Chim có tổ, người có tông. Sự thật vẫn là sự thật. Thời đại Internet Khoa học phát triển tri thức con người nâng cao (Nhân chủng học, Di truyền học, Sinh Học, Sinh Hóa Học, Cổ Sinh Vật Học, Nhân Chủng Học, Di Truyền Học..v.v) giúp tìm kiếm sự thật và có thể còn nhiều khám phá bí mật bất ngờ.

Do người Hán được tổ tiên chúng ta  sinh ra muộn hơn nên có chỉ số đa dạng di truyền thấp hơn người Việt hiện nay. Cũng do vậy, mọi thành tựu rực rỡ nhất của văn hóa Trung Hoa đều được bắt nguồn từ văn hóa Việt. 

Việt Nam là một dân tộc có lịch sử lâu đời nhất, có đủ 4 Haplotype chính gồm A, B, C, D. Chính vì vậy, Việt Nam là trung tâm của nền văn hoá Hòa Bình ảnh hưởng bao trùm Đông Nam Á, Trung Hoa, Ấn Độ, Trung Cận Đông và cả châu Mỹ nữa…

 

Đọc 2 tài liệu

1) Tài liệu của Phạm Trần Anh viết năm 2011

2) Tài liệu của Hà Văn Thùy viết tháng 3 năm 2016. 

Thực tế lịch sử cho thấy, Lưu Bang người sông Nguồn (nay là Hán Thủy) nước Sở, một nhánh của tộc Việt. Sau khi diệt nhà Tần, Lưu Bang lập nước, lấy tên nước Hán (biến âm của tiếng Việt: Nguồn, Hon, Hòn, Hớn -> Hán). Do người Hán được tổ tiên chúng ta sinh ra muộn hơn nên có chỉ số đa dạng di truyền thấp hơn người Việt hiện nay. Cũng do vậy, mọi thành tựu rực rỡ nhất của văn hóa Trung Hoa đều được bắt nguồn từ văn hóa Việt.

 

Thực sự người Hán là người Việt: người Việt và người Hán cùng một chủng tộcNgười Trung Quốc phương Bắc là ai? (Hà Văn Thùy)

TRAO ĐỔI LẠI VỚI ÔNG PHẠM TRẦN ANH VỀ BÀI “Kết quả mới nhất thuyết phục nhất về cội nguồn phát tích của việt tộc". Mấy năm trước, đọc bài “Kết quả mới nhất thuyết phục nhất về cội nguồn phát tích của việt tộc” của tác giả Phạm Trần Anh, thấy có những điều còn phân vân, tôi gửi thư tới ông đề nghị trao đổi lại. Lúc đó ông bảo bận, hẹn nói chuyện sau. Nhưng rồi không thấy ông liên hệ. Bài viết còn đó, trên nhiều trang mạng, được những người khao khát tìm lại cội nguồn hào hứng theo dõi. Thấy rằng bài viết có thể gây ngộ nhận cho người đọc, tôi xin thưa lại đôi điều.


Hơn 10 năm trước, khi đọc công trình Đa dạng di truyền của dân cư Trung Quốc của J.Y. Chu [1], tôi chú ý tới câu: “Người Trung Quốc ở phía Bắc có cấu trúc di truyền khác với người Trung Quốc ở phía Nam.” Một nỗi phân vân xuất hiện: giới hạn của sự phân định Bắc Nam trong đoạn văn này là đâu? Rồi theo thói quen, tôi cho rằng: ở phía Bắc Dương Tử là người Bắc Trung Quốc. Nhưng sau đó thấy không phải vậy. Trung Quốc có năm dân tộc (chủng tộc – race) là Hán, Hồi, Mông, Mãn, Tạng. Trong đó người Hán chiếm 93% số dân. Trong 1,3 tỷ người thì người Hán chiếm hơn 1,2 tỷ. Về mặt di truyền, người Hán được xếp vào chủng Mongoloid phương Nam (South Mongoloid).

Còn lại khoảng hơn 90 triệu thuộc bốn chủng tộc Hồi, Mông, Mãn, Tạng, là những người Eskimos, Tungus, người Tây Tạng và người Mongoloid vùng hồ BaiKal, là các sắc tộc thiểu số sống ở rìa phía Bắc Trung Quốc, có mã di truyền Mongoloid phương Bắc (North Mongoloid). Lẽ đương nhiên, 90 triệu người này không thể là dân số của vùng đất mênh mông, trù phú phía Bắc Trường Giang. Do vậy, chỉ có thể hiểu đúng tư tưởng của J.Y. Chu khi xác định người Bắc Trung Quốc là các tộc người thiểu số Mongoloid phương Bắc (North Mongoloid) sống ở Nội Mông và vùng rìa phía bắc của Trung Quốc.

Điều này cho thấy, không chỉ ông Phạm Trần Anh mà nhiều học giả khác cũng lầm như vậy. Đó là việc nguy hại vì nó gây hiểu không đúng về nguồn gốc và thành phần dân cư Trung Quốc, dẫn tới ngộ nhận về lịch sử và văn hóa Trung Hoa.

Có đúng Việt và Hán là hai tộc người khác nhau?

Ông Phạm Trần Anh viết: Luận chứng khoa học mới nhất có tính thuyết phục nhất, một lần nữa khẳng định tộc Việt và Hán tộc là 2 tộc người khác nhau.

Sự thật có phải như vậy không? Muốn làm rõ điều này cần phân định về mặt nhân loại phân loại học: người Việt thuộc chủng tộc (race) nào? Người Hán thuộc chủng tộc (race) nào? Theo thuật ngữ nhân chủng học Xô-viết được chấp nhận bởi trường phái lục địa Trung Hoa, người Hán Trung Quốc được phân loại theo “chi nhánh Thái Bình Dương của chủng Mongoloid” hoặc “chủng Mongoloid phương Nam.” Trong khi đó, không chỉ người Việt Nam mà cả đại bộ phận dân cư Đông Nam Á cũng được xác nhận thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Như vậy, một câu hỏi nảy sinh: cùng là người Mongloid phương Nam sao Việt Hán lại là “2 tộc người khác nhau”?!

Thực tế lịch sử cho thấy, Lưu Bang người sông Nguồn (nay là Hán Thủy) nước Sở, một nhánh của tộc Việt. Sau khi diệt nhà Tần, Lưu Bang lập nước, lấy tên nước Hán (biến âm của tiếng Việt: Nguồn, Hon, Hòn, Hớn -> Hán). Như vậy, thực sự người Hán là người Việt.

Học giả Trung Quốc Zhou Jixu [2] cho rằng: “Người Ngưỡng Thiều mang đặc tính cơ thể gần nhất với người Trung Hoa hiện đại ở miền Nam Trung Quốc và người Đông Dương hiện đại. Gần gũi tiếp theo của họ là với người Trung Hoa hiện đại ở Bắc Trung Quốc”… “Theo thuật ngữ nhân chủng học Xô viết được chấp nhận bởi trường phái lục địa Trung Hoa, người Ngưỡng Thiều Trung Quốc được phân loại theo “chi nhánh Thái Bình Dương của chủng Mongoloid” hoặc “chủng Mongoloid phương Nam.”

Người Ngưỡng Thiều ra đời 7000 năm trước, do hòa huyết giữa người Mông Cổ phương Bắc (North Mongoloid) và người Lạc Việt Australoid. Di chỉ Ngưỡng Thiều rộng tới ba triệu mét vuông, trải suốt lưu vực Hoàng Hà từ Thiểm Tây, Sơn Tây qua Hà Nam. Từ những năm 20 thế kỷ trước, khoa học thế giới cho rằng, người Ngưỡng Thiều là tổ tiên của người Trung Hoa. Người Ngưỡng Thiều hòa huyết với người lưu vực Dương Tử sinh ra người Nam Trung Hoa. Không chỉ vậy, từ cuộc xâm lăng của Hiên Viên năm 2698 TCN, người Ngưỡng Thiều vùng Núi Thái – Trong Nguồn di cư về Việt Nam và Đông Nam Á góp phần chuyển hóa dân cư Đông Nam Á từ loại hình Australoid trở thành người Mongoloid phương Nam hiện nay.

Khảo sát lịch sử dân cư Trung Quốc cho thấy, tới giữa thời Hán, dân cư Trung Quốc hầu hết là người Mongoloid phương Nam. Từ cuối Hán, sang Đường, Nguyên rồi Thanh, những tộc người Mongoloid phương Bắc từ phía Tây và Bắc du nhập ào ạt khiến dân cư và văn hóa Trung Quốc biến đổi. Người nhập cư hòa huyết với người tại chỗ nhưng do số lượng người bản địa áp đảo nên dân cư sinh ra vẫn mang mã di truyền Mongoloid phương Nam.

Có nghĩa họ vẫn là người Hán. Điều này giống như ở Việt Nam cuối thời Đá Mới, dân cư gồm hai chủng Indonesian và Melanesian. Khi gặp gỡ hòa huyết với người Mongoloid phương Nam từ Trung Quốc về, người Indonesian chuyển hóa thành chủng Mongoloid phương Nam điển hình (người Kinh, Tày, Mường, Thái…) còn người Melanesian thành loại hình Indonesian hiện đại của chủng Mongoloid phương Nam (các sắc dân Tây Nguyên) [3]. Các tộc thiểu số Tây Nguyên là những sắc tộc (ethnicity) trong chủng Mongoloid phương Nam của dân tộc Việt Nam.

Như vậy, thực tế huyết thống và lịch sử khẳng định: người Việt và người Hán cùng một chủng tộc. Tới đây, ta hiểu sự minh triết của tiền nhân, khi truyền ngôn: Hoa Việt đồng văn đồng chủng.

Bằng nghiên cứu của mình trong nhiều năm qua, tôi khám phá rằng: người Việt và người Hán cùng một nguồn gốc nên cùng một chủng tộc. Tuy nhiên, do người Hán được tổ tiên chúng ta sinh ra muộn hơn nên có chỉ số đa dạng di truyền thấp hơn người Việt hiện nay. Cũng do vậy, mọi thành tựu rực rỡ nhất của văn hóa Trung Hoa đều được bắt nguồn từ văn hóa Việt.

Cho rằng “tộc Việt và Hán tộc là 2 tộc người khác nhau” là sai lầm vô cùng tai hại vì nó dẫn tới nhận thức sai lạc về dân cư và lịch sử phương Đông.

Ông Phạm Trần Anh viết:

“Khoa Đại Dương học và khảo cổ học đã chứng minh rằng người cổ Hoà Bình Hoabinhian do nạn biển tiến cách nay khoảng 8.500 năm đã tiến lên vùng núi cao…”

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không phải chỉ từ khi nước biển dâng mà từ 40.000 năm trước, khi mực nước biển thấp hơn hôm nay 130 mét, thì người Lạc Việt từ thềm Biển Đông đã đi lên Hoa lục, vượt Tây Tạng, qua Trung Á, vào chiếm lĩnh châu Âu, sinh ra tổ tiên người châu Âu [4]. Mặt khác, trên lục địa Đông Á, từ Việt Nam tới Trung Quốc, các di chỉ khảo cổ học phát triển liên tục, từ Núi Đọ, Con Moong, Thẩm Khuyên, Hòa Bình, Bắc Sơn, Đa Bút, Phùng Nguyên, Đông Sơn… Ở phía Bắc, các di chỉ Tiên nhân động (Giang Tây) có mảnh gốm 20.000 năm, hạt lúa trồng 12400 năm; hang Đốc Đứng (Hồ Nam) rồi Giả Hồ (9000 năm trước), Hà Mẫu Độ (6000 năm trước), Lương Chử (5000 năm trước)… là những nền văn hóa phát triển liên tục và tuổi ở phía Đông Nam cao hơn phía Tây Bắc. Hoàn toàn không có chuyện, con người bị nước lụt dồn tới Tây Tạng rồi khi nước rút tới đâu trồng lúa tới đó như ông tưởng tượng. Cũng không hề có chuyện:

“Cư dân Hoà Binh Hoabinhian đã phải thiên cư mỗi khi có nạn biển tiến mà 3 lần biển tiến cách đây khoảng 14 ngàn năm, 11.500 năm và 8.500 năm theo 2 hướng. Một nhánh theo hướng Đông Bắc qua cầu đất Béring vào Mỹ châu do nạn biển tiến cách đây khoảng 13.500 năm rồi trở thành thổ dân Bắc Mỹ. Và nhánh khác theo hướng Nam xuống bán đảo Mallacca Mã Lai Malaysia) rồi vượt biển tới các hoang đảo sau này có tên là Nam Dương Indonesia, Phi Luật Tân (Philippine), Hawai, Đa Đảo, NewZealand rồi sang tới California, Trung Mỹ và Nam Mỹ…”

Thưa ông, chuyện di cư của người Việt mà ông nói tới là có thực nhưng nó diễn ra theo một lịch trình hoàn toàn khác:

Tài liệu của J.Y. Chu và nhất là của Stephen Oppenheimer [5] cho thấy:

50.000 năm trước, người từ Việt Nam di cư ra các đảo ngoài khơi Đông Nam Á, tới Ấn Độ.

40.000 năm trước do khí hậu được cải thiện, người từ Việt Nam chiếm lĩnh Trung Hoa và 30.000 năm trước, từ Siberia vượt qua eo Beringa chinh phục châu Mỹ!

Như vậy, cuộc di cư của tổ tiên ta chiếm lĩnh thế giới diễn ra trước những lần biển tiến rất lâu! Thực tế cho thấy, những lần biển tiến 14,0 ;11,5 và 7,5 nghìn năm trước chỉ tác động rõ rệt tới các hải đảo Đông Nam Á. Chúng thúc đẩy người các đảo Đông Nam Á di cư tới Nam Thái Bình Dương, Hawaii và đưa con người, giống cây trồng, vật nuôi cùng tư tưởng nông nghiệp sang phương Tây như Stephen Oppenheimer trình bày rõ trong cuốn Eden in the East.

Một bài viết ngắn, không những có hai sai lầm nghiêm trọng mà chứng cứ đưa ra lại đầu Ngô mình Sở rồi suy diễn tùy tiện khiến cho nhận định đúng đắn trở nên đáng ngờ. “Việt Nam là một dân tộc có lịch sử lâu đời nhất, có đủ 4 Haplotype chính gồm A, B, C, D. Chính vì vậy, Việt Nam là trung tâm của nền văn hoá Hòa Bình ảnh hưởng bao trùm Đông Nam Á, Trung Hoa, Ấn Độ, Trung Cận Đông và cả châu Mỹ nữa…” là hoàn toàn chính xác nhưng cách lý giải của ông Phạm Trần Anh không thể dẫn tới kết luận như vậy! Điều này giống như người làm toán đưa ra đáp số đúng trong khi cách giải sai!

Hà Văn Thùy

Tháng 3 năm 2016

Tài liệu tham khảo:

Chu JY et al. Genetic relationship of populations in China. Proceedings of the National Academy of Science (USA) 1998; 95: 11763-11768

Zhou Jixu: The Rise of Agricultural Civilization in China: The Disparity between Archeological Discovery and the Documentary Record and Its Explanation. SINO-PLATONIC PAPERS Number 175 December, 2006.

Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á . NXB DH&THCN. H, 1983

Người châu Á xâm chiếm châu Âu. http://www.radio-canada.ca/nouvelles/Science-Sante/2007/08/07/004-europe-colonisation-asie.shtml?ref=rss

Stephen Oppenheimer: Out of Eden Peopling of the World (http://www.bradshawfoundation.com) and Journey of Mankind the Peopling of the World (http://www.bradshawfoundation.com/journey/).

=============
Phạm trần Anh :
Kết quả mới nhất thuyết phục nhất về cội nguồn phát tích của việt tộc

(2011)

Việt Nam là một dân tộc có lịch sử lâu đời nhất có đủ 4 Haplotype chính gồm A, B, C, DChính vì vậy, Việt Nam là trung tâm của nền văn hoá Hòa Bình ảnh hưởng bao trùm Đông Nam Á, Trung Hoa, Ấn Độ, Trung Cận Đông và cả châu Mỹ nữa.
Kết quả mới nhất thuyết phục nhất về cội nguồn phát tích của việt tộc

Phạm trần Anh

ĐẠI CHỦNG HOABINHIAN PROTOVIETS

Từ truyền thuyết cũng như căn cứ vào các Thần tích và Tộc phả được phối kiểm bởi khoa Khảo cổ học, Khảo Tiền sử, Chủng tộc học, Cổ nhân học, Dân tộc và Ngôn ngữ học được kiểm chứng bởi kết quả phân tích cấu trúc phân tử di truyền DNA của các tộc người trong vùng cho phép chúng ta xác định tính hiện thực của cộng đồng Bách Việt (Malayo-Viets). Kết quả của khoa Phân tích Di truyền hoàn toàn phù hợp với thư tịch cổ Trung Hoa, Khoa Khảo cổ học, Nhân chủng học, Khảo tiền sử kể cả truyền thuyết Rồng Tiên về thời kỳ dựng nước của Việt tộc là một sự thật lịch sử.

Luận chứng khoa học mới nhất có tính thuyết phục nhất, một lần nữa khẳng định tộc Việt và Hán tộc là 2 tộc người khác nhau. Việt tộc có yếu tố đột biến di truyền đặc biệt của châu Á trong khi Hán tộc không có yếu tố này. Đồng thời xác định địa bàn cư trú của tộc người Malaynesian tức Malayo-Viets (Bách Việt) trải dài từ rặng Tần Lĩnh, hạ lưu sông Hoàng Hà ở Trung nguyên trải dài xuống tận vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo. Địa bàn cư trú của Việt tộc phía Bắc tới lưu vực phía Nam sông Hoàng Hà, lưu, phía Tây giáp Tây Tạng, Đông giáp Nam Hải, Nam xuống tận Bắc Trung Việt, chính là cương giới của nước Văn Lang xưa của tộc Việt. Địa bàn cư trú của Việt tộc phía Bắc tới lưu vực 2 con sông Hoàng Hà và Dương Tử (Trường Giang), phía Tây giáp Tây Tạng, Đông giáp Nam Hải, Nam xuống tận Bắc Trung Việt, chính là cương giới của nước Văn Lang xưa của tộc Việt.

Các nhà khoa học của Viện Pháp Á gồm bác sĩ Trần Đại Sỹ, giáo sư Tarentino người Ý và giáo sư sinh vật học người Pháp Varcilla Pascale đã ứng dụng hệ thống DNA là hệ thống sinh học mới nhất cho chúng ta kết quả có tính thuyết phục nhất. Các nhà khoa học đã khảo sát y phục, mồ mả, ră ng xương trong các ngôi mộ cổ qua các thời đại cho đến hết thế kỷ thứ nhất. Sau đó dùng hệ thống DNA kiểm những bộ xương, đồng thời kiểm máu của 35 dòng họ tại Hoa Nam và Việt Nam rồi so sánh với những dòng họ khác tại Hoa Bắc đã kết luận:

1. Cư dân Hoa Nam, từ miền Nam Trường Giang xuống tới miền Trung Việt Nam, Lào, Thái đều có cùng một huyết thống, một chủng tộc.

2. Cư dân này hoàn toàn khác biệt với cư dân Hán ở Hoa Bắc. Kết quả của những công trình khoa học có ý nghĩa lịch sử đã xác định vùng Đông Nam Á trải dài từ lưu vực sông Dương Tử xuống tới lưu vực sông Hồng, sông Cửu Long mà đồng bằng châu thổ sông Hồng là trung tâm nơi phát tích của nền văn minh Hòa Bình của cư dân Malaysian.(9)

Năm 1998, giáo sư J.Y. Chu và 13 đồng nghiệp ở Đại học Texas đã phân tích 15-30 mẫu “Vi vệ tinh” DNA (microsatelltes) để thử nghiệm sự khác biệt di truyền trong 24 nhóm dân từ nhiều tỉnh khác nhau ở Trung Quốc, 4 nhóm dân vùng Đông Nam Á gồm 2 nhóm thổ dân châu Mỹ, một nhóm thổ dân châu Úc và một thuộc thổ dân Tân Guinea, 4 nhóm dân da trắng Caucasian và 3 nhóm dân Phi Châu. Kết qủa của công trình nghiên cứu bằng phương pháp phân tích thống kê có tên là “Phân tích chủng loại” (Phylogetic Analysis). Nhà bác học Chu và 13 đồng nghiệp khác tại đại học Texas Hoa Kỳ và các trường đại học và viện nghiên cứu lớn nhất ở Trung Quốc đã công bố một công trình thành công về di truyền học mang tên “Genetic Relationship of Population in China” được đăng trong Tạp chí Hàn lâm viện Khoa học Quốc gia của Hoa Kỳ (The Nation Academy of Sciences, USA, Vol.95 issue 20, ngày 29 tháng 7 năm 1998) như sau:(10)

1. Hai nhóm dân có sự khác biệt rõ ràng nhất là Phi Châu và các dân khác không thuộc Phi Châu”.

2. Tổ tiên của các nhóm dân Đông Á ngày nay có nguồn gốc từ Đông Nam Á và Người
Trung Quốc ở phía Bắc TQ có cấu trúc di truyền khác với người Trung Quốc ở phía Nam
TQ”.

Năm 2001, giáo sư Lâm Mã Lý một nhà di truyền học công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí khoa học “Hệ thống miễn nhiễm Human Leucocytes Antigen HLA ở nhiễm sắc thể 6 (chromosoms qua máu dân Mân Nam (Hoklo), Hakka và các mẫu máu từ nhiều nước kết hợp được trong tổ hoạt động quốc tế về HLA năm 1998”, giáo sư Lý kết luận: “Người Mân Nam Hoklo và Hakka rất gần vói người Việt, Thái và các tộc người Mongoloid Nam Á. Người Đài Loan thuộc dân tộc Mân Việt trong đại chủng Bách Việt hoàn toàn khác với Hán tộc”.

Đặc biệt, các công trình nghiên cứu mới nhất của các nhà nhân chủng về cội nguồn phát tích của cư dân vùng Đông Nam Á đã làm sáng tỏ một sự thật lịch sử là tất cả cư dân Đông Nam Á đều có chung một cội nguồn chủng tộc.

Giáo sư Douglas C. Wallace ở đại học Emory, Atlanta và Georgia đã phát hiện một đột
biến di truyền đặc biệt cho lục địa châu Á. Đó là sự thất thoát cặp căn bản số 9 giữa 2 thể
di truyền COII và tRNALYS).

Nhà nhân chủng học Tréjaut đã nghiên cứu về thổ dân Đài Loan, dân Đông Nam Á và dân Đa Đảo đã công bố một sự thật làm đảo lộn mọi nhân định từ trước đến nay về vấn để này:

1. Thổ dân Đài Loan đã định cư trên 15 ngàn năm.

2. Thổ dân Đài Loan cũng trải qua 3 lần đột biến đặc biệt như dân Mã Lai, dân Đa Đảo mà dân Tầu ở Trung Hoa lục địa không có 3 lần đột biến này.

3. Yếu tố mtDNA B có ở vùng Đông và Đông Nam Eurasia, thổ dân châu Mỹ và dân Đa Đảo.

4. Nhà nhân chủng Melton và Redd tìm thấy cư dân Đa Đảo có một tỷ lệ cao về sự thất thoát của cặp căn bản số 9 ở hai thể di truyền COII/ tRNA.(11)
Giáo sư Christian Pelzes chuyên nghiên cứu về Đông Nam Á học ở đại học Hawaii đã nhận định rằng trong các tiểu bang và các nền văn hóa của xã hội đa văn hóa Hoa Kỳ thì quần đảo Hawaii có quan hệ thân thuộc nhất với Việt Nam. Nhà nghiên cứu Bob Krauss đã so sánh Hawaii với Việt Nam trên các phương diện địa lý và dân tộc đã tìm ra rất nhiều điểm tương đồng và các chứng liệu cổ sử học, nhân chủng học, ngôn ngữ tỷ hiệu và nhất là Mitochondrial DNA Haloptype B cũng như sự thất thoát của các cặp cơ bản số 9 giữa hai thể di truyền CO II tRNA LYS chứng minh dân Đa Đảo (Polynesian) là hậu duệ của dân Bách Việt.

Dựa trên những công trình nghiên cứu khoa học thuyết phục, tạp chí Science Progress đã công bố kết qủa xác định thổ dân Đông Nam Á, thổ dân Đa Đảo và thổ dân châu Mỹ có cùng một ngọn nguồn phát tích, cùng chung một nền văn hoá Lapita (1500-800TC) với đồ gốm thẩm mỹ độc đáo.(12) Hiện ở Trung tâm văn hoá Đa Đảo ở Hawai còn trưng bày một mẫu thuyền độc mộc đục khoét bọng cây làm thuyền di chuyển, khi ra biển thì ghép 2 thuyền độc mộc lại tạo thế thăng bằng trên mặt biển.

Tháng 3 năm 2007, Hàn Lâm viện Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (Proceeding of the National Academy of Science,USA) đã công bố công trình của các nhà nhân chủng thuộc đại học Durham và Oxford Anh Quốc nghiên cứu mtDNA của heo và dạng răng heo trên toàn vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo đã đi tới kết luận: “Nghiên cứu mới về DNA của heo đã viết lại lịch sử di dân khắp vùng Thái Bình Dương và người Việt cổ (Bách Việt) là cư dân đầu tiên định cư trên các hải đảo Đông Nam Á rồi tới New Guinea, Hawai và Polynesia thuộc Pháp. Họ mang theo kỹ thuật làm thuyền độc mộc. Nghiên cứu mới về DNA heo đã viết lại lịch sử di dân khắp vùng Thái Bình Dương và cho thấy hầu hết cư dân trong vùng có nguồn gốc từ Việt Nam.

Nhà nhân chủng Ballinger và đồng nghiệp đã nghiên cứu mtDNA của 7 dân tộc Đông Nam Á đã kết luận thuộc chủng Mongoloid phương Nam mà Việt Nam là trung tâm của mtDNA từ đó lan toả ra khắp vùng Thái Bình Dương”.(13)

Sự thật lịch sừ này đã được Khoa Đại Dương học và khảo cổ học đã chứng minh rằng người cổ Hoà Bình Hoabinhian do nạn biển tiến cách nay khoảng 8.500 năm đã tiến lên vùng núi cao Hòa Bình, Bắc Sơn và ngược lên hướng Tây Bắc. Khi mực nước biển dâng lên cao, cư dân khắp các nơi dồn về vùng cao nên đã tập trung nhiều phát kiến để hình thành nền văn hóa Hòa Bình, một nền văn hóa cổ đại tinh hoa của nhân loại. Mực nước dâng cao dần khiến cư dân Hoabinhian mà chúng tôi cho là những người Tiền-Việt Protoviets ở lưu vực 2 con sông lớn là sông Hồng và sông Cửu Long phài thiên cư theo hướng Tây Bắc lên miền cao sơn nguyên giữa 2 dãy núi Hi Mã Lạp sơn và Côn Luân. Họ mang theo đặc trưng của văn hoá Hoà Bình lên địa bàn mới vùng cao nguyên giữa hai rặng núi cao nhất là Hi Mã Lạp Sơn và cổ nhất là Côn Luân ở Tây Bắc và vùng núi cao Thái Sơn ở Sơn Đông.

Khi mực nước biển hạ xuống, những vùng biển nước mênh mông nước rút dần để lộ ra
những vùng đất màu mỡ phì nhiêu. Tiền nhân chúng ta đã từ vùng cao nguyên Hi Mã Lạp sơn tiến xuống vùng đồng bằng, nước rút đến đâu từng đoàn người tiến tới đó để lập làng định cư khai phá đất đai. Chính sự kiện tiến về vùng sông nước này được truyền thuyết diễn tả qua việc mẹ Âu cùng 50 con ở lại vùng cao, Bố Lạc dẫn 50 con xuống “Thủy Phủ” miền sông nước. Hai Thạc sĩ sử địa người Pháp là J Loubet và P Gouron đã tìm ra địa danh Thủy Phủ chính là cảng Thành Đô tỉnh Tứ Xuyên Phủ Trung Khánh TQ bây giờ.

Như vậy, cư dân Hoà Binh Hoabinhian đã phải thiên cư mỗi khi có nạn biển tiến mà 3 lầm
biển tiến cách đây khoảng 14 ngàn năm, 11.500 năm và 8.500 năm theo 2 hướng. Một nhánh theo hướng Đông Bắc qua cầu đất Béring vào Mỹ châu do nạn biển tiến cách đây khoảng 13.500 năm rồi trở thành thổ dân Bắc Mỹ.và nhánh khác theo hướng Nam xuống bán đảo Mallacca Mã Lai Malaysia) rồi vượt biển tới các hoang đảo sau này có tên là Nam Dương Indonesia, Phi Luật Tân (Philippine), Hawai, Đa Đảo, NZealand rồi sang tới California, Trung Mỹ và Nam Mỹ.

Trước đây, chúng ta thường nghĩ rằng truyền thuyết khởi nguyên dân tộc là hoang đường
huyền hoặc và huyền thoại Rồng Tiên chỉ là sự hư cấu để điểm tô cho lòng tự hào dân tộc thì ngày hôm nay, tất cả đã sáng tỏ qua các công trình nghiên cứu, những kết quả khoa học thuyết phục nhất. Hình tượng Rồng Tiên được thần thoại hóa từ vật tổ biểu trưng Chim và Thuồng Luồng (Giao Long) của chi Âu Việt ở miền núi và chi Lạc Việt ở miền sông nước. Chữ Tiên gồm 2 chữ sơn và nhân hàm nghĩa người ở miền cao núi rừng mà thôi và địa danh “Thủy Phủ” được 2 thạc sĩ sử địa người Pháp là J.Gouron và P. Lubet tìm ra chính là cảng Thành Đô, phủ Trùng Khánh tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc bây giờ. Hai bản đồ Pacific Ocean và Atlas 1949 ghi rõ là SUIFU=Thủy phủ. Thế là truyền thuyết từ chỗ u u đã trở nên minh minh chứ không còn u u minh minh như trước nữa.Từ truyền thuyết khởi nguyên dân tộc, đối chiếu với nguồn sách sử của Trung Quốc, kiểm chứng qua các công trình nghiên cứu Dân tộc học, Ngôn ngữ học, Văn hoá Khảo cổ, Khảo cổ học, Khảo Tiền sử, Đại dương học và kết q ủa phân tích cấu trúc mã di truyền mới nhất, thuyết phục nhất của các nhà Di Truyền học đã xác định Việt tộc hoàn toàn khác hẳn với Hán tộc. Người Việt có 1 tỷ lệ cao nhất về biến đổi di truyền trong dân tộc (Intrapopulatinal genetic divergence 0.236% và về Hinc II/ Hpal nên được xem là dân tộc cổ nhất Đông Nam Á.

Chính vì vậy, Việt Nam là trung tâm của nền văn hoá Hòa Bình ảnh hưởng bao trùm
Đông Nam Á, Trung Hoa, Ấn Độ, Trung Cận Đông và cả châu Mỹ nữa.

 

Việt Nam là một dân tộc có lịch sử lâu đời nhất có đủ 4 Haplotype chính gồm A, B, C, D
và không có cặp căn bản số 9 giữa 2 thể di truyền COII/ tRNA.LYS mà các nhà di truyền
học gọi là “Đột biến đặc biệt Á Châu= “9bp deletation bettween CO I I tRNA LYS genes” bp= base pair). Cư dân Nam Trung Hoa tức người Trung Quốc ở Hoa Nam, Đài Loan, Cư dân Đông Nam Á gồm Miến Điện, Miên, Lào, Thái Lan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật tân, Brunei và Đông Timor, thổ dân Đa Đảo Polynesian, thổ dân Hawai, thổ dân Maya ở Trung và Nam Mỹ, Pima ở Bắc châu Mỹ có cùng Halogroup A, B, C, D và Thất thoát cặp căn bản số 9 giữa 2 thể di truyền COII /tRNALYS mà các nhà Di truyền học gọi là Đột biến châu Á Mitochondrial DNA Á Châu (Asian Mitochondrial DNA) của Việt tộc. Thực tế này xác định Việt tộc là một đại chủng lớn nhất của nhân loại và Việt nam là một dân tộc có lịch sử lâu đời nhất của nhân loại.
Trân trọng kính chào quý vị.

Share this:
@ 2020 TN InfoWay